Bàn tròn về văn học Trung-Đông Âu

Chẳng hạn, ta nói đến Franz Kafka. Ông ấy sinh ra và sống cả đời ở Praha song không phải người Tiệp. Ông là người Do Thái, sống tại Praha mà vào thời đó là một phần của đế quốc Áo-Hung, và ông viết bằng tiếng Đức. Kafka là người nước nào là vấn đề gây tranh cãi. Người Tiệp có thể nhận Kafka là người của mình, người Do Thái cũng có thể tự hào ông ấy là “nhà văn của chúng tôi”. Mặt khác, văn học Đức ngữ (Đức, Áo, Thụy Sĩ) có thể giành ông ấy về mình bởi ông ấy viết bằng tiếng Đức. Continue reading Bàn tròn về văn học Trung-Đông Âu

Bàn tròn Budapest

Theo một luận điểm thường xuyên được đưa ra, “Trung Âu” là một ý niệm nhân tạo, bởi lẽ các quốc gia quy tụ dưới cái tên này vẫn mong mỏi trở thành một phần của Tây Âu và chỉ vậy thôi. Trong nhận định ấy có một phần sự thật, nhưng những người ủng hộ nó lại bỏ qua những sự việc nhất định và một vài sang chấn chưa nguôi ngoai. Continue reading Bàn tròn Budapest

Một phương Tây bị bắt cóc, hay bi kịch của Trung Âu

Ngay từ giữa thế kỷ XIV, Đại học Charles tại Praha đã tập hợp các trí thức (giáo sư và sinh viên) đến từ Séc, Áo, Bayern, Saxony, Ba Lan, Litva, Hungary và Rumania với ý tưởng manh nha về một cộng đồng đa dân tộc mà ở đó mỗi dân tộc đều có quyền sử dụng ngôn ngữ riêng của mình: quả vậy, chính dưới sự ảnh hưởng gián tiếp của trường đại học này (nơi nhà cải cách tôn giáo Jan Hus từng làm hiệu trưởng), những bản dịch đầu tiên của Kinh Thánh sang tiếng Hungary và tiếng Rumani đã ra đời. Continue reading Một phương Tây bị bắt cóc, hay bi kịch của Trung Âu

Đọc Kafka như thế nào: Phần I

John Updike cho rằng Kafka là nhà ngụ ngôn siêu đẳng nói lên những nỗi niềm suy tư trăn trở mang tầm cỡ vũ trụ của con người hiện đại, nghe thì thật là sâu sắc uyên thâm, nhưng Updike cũng không bao giờ giải thích rằng những nỗi niềm đó là gì hay vì sao chúng lại tầm cỡ đến thế, cũng không nói được cho ta hay rằng Kafka đã nói gì về những trăn trở này. Continue reading Đọc Kafka như thế nào: Phần I

Thời gian của Schulz

Thiếu dũng khí vươn ra số đông bạn đọc, ban đầu ông thử viết cho một người đọc cụ thể: người nhận thư. Chính bằng cách này, qua từng lá thư, từng đoạn chữ, mà Những cửa hiệu quế thành hình: từ nhiều xấp vài trang một xếp gọn trong từng chiếc phong bì lâu lâu được thả vào hòm thư. Continue reading Thời gian của Schulz

Đi cùng Bruno Schulz

Cách Schulz thi hành chức năng văn chương của mình không phải không giống những bức họa của ông, những người đàn ông, đôi lúc gần như đã trở thành con bọ, con khỉ, thậm chí đã thành một con ngựa, bị càn quét dưới nét vẽ của ông, hút vào cặp chân của đàn bà. Trông chẳng khác gì cái chuồng thú của khiêu dâm và nhục dục, những đường vẽ kiệt quệ tạo nên những đường cong hững hờ. Continue reading Đi cùng Bruno Schulz

Chủ nghĩa Lãng mạn Ba Lan

Bởi vì chủ nghĩa Lãng mạn, về một mặt nào đó, là kỷ nguyên nổi dậy, trong đó – như Norwid đã diễn tả rất thi ca trong Năm đề cương (Pięć zarysów) – những thế hệ đã nối tiếp nhau lớn lên “giữa dòng máu xanh, như trong đồng xa cúc lam: từ những sự kiện trước đó, tới những sự kiện mới đây chấm dứt” (“wśród sinej krwi, jak wśród bławatków: od ostatnich do tylko co zaszłych wypadków”). Continue reading Chủ nghĩa Lãng mạn Ba Lan

Văn học Ba Lan 1939-2000: Những vấn đề tuyển chọn

Có một trường đại học bí mật, tiếp nối Đại học Warszawa, hoạt động trong lòng thành phố Warszawa bị chiếm đóng, khuất mắt các nhà chức trách Quốc xã. Các giáo sư từ trước thời chiến giảng bài trong những căn hộ tư, sinh viên sử dụng các tủ sách cá nhân vì thư viện đều đã đóng cửa. Còn có hệ thống trường cấp ba bí mật, kết quả đào tạo vẫn được công nhận khi chiến tranh kết thúc. Những hình thức giáo dục kiểu này tất nhiên không thể mở rộng cho đông đảo thanh thiếu niên được, nhưng giới tinh hoa vẫn có điều kiện tập hợp lại trong chương trình học bí mật về văn chương Ba Lan ở Warszawa. Continue reading Văn học Ba Lan 1939-2000: Những vấn đề tuyển chọn

Bohumil Hrabal: Đời là cuộc cà kê bất tận

“Trong những năm gần đây tôi thấy mình đồng cảm với Faulkner khi nhận biết có một nhu cầu viết những câu dài bất tận. Tôi không muốn làm gì hơn ngoài việc chêm vào những dấu phẩy và chỉ một dấu chấm lẻ loi. Tôi nghĩ ông ấy hẳn cũng cảm nhận giống như tôi, chỉ cần hít vào và thở ra. Tôi hít những hình ảnh vào rồi thở chúng bay qua một chấm cuối câu.” Continue reading Bohumil Hrabal: Đời là cuộc cà kê bất tận

Hiệu ứng Murakami: Về hiểm nguy bị đồng hóa của thứ văn chương dễ chuyển ngữ

… những người như Murakami Haruki, thúc đẩy dòng chảy văn chương, và những người như Mizumura Minae, tạo ra những trở ngại đầy kích thích cho dòng chảy—vốn thường hiển hiện chính bởi chúng tồn tại song song với thứ văn hư cấu toàn cầu mới chán ngắt. Continue reading Hiệu ứng Murakami: Về hiểm nguy bị đồng hóa của thứ văn chương dễ chuyển ngữ

Anh chẳng biết quái gì về tác phẩm của tôi: Đọc Bernhard ở New York

Nhưng tôi ngờ rằng nguyên nhân chính chúng ta đã bắt đầu thích Bernhard theo kiểu khiến dân nói tiếng Đức ngạc nhiên là từ lâu rồi chúng ta đã dần quen với những khoái lạc lớn mà nhà văn Anh Geoff Dyer đã gọi là “thứ văn chương của sự suy nhược thần kinh, lo âu, cáu kỉnh, than phiền.” Continue reading Anh chẳng biết quái gì về tác phẩm của tôi: Đọc Bernhard ở New York

Pedro Páramo: Một cuốn sách đi ra từ im lặng

Rulfo nói ông đã mang theo Pedro Páramo bên trong mình trong nhiều năm trời rồi mới biết phải viết nó thế nào. Đúng hơn, ông viết ra hàng trăm trang để rồi vứt đi – ông từng gọi tiểu thuyết là một bài tập lược bỏ. “Việc viết các truyện ngắn đã rèn giũa cho tôi,” ông nói, “và làm tôi thấy được sự cần thiết của việc biến mất và để cho các nhân vật tự do muốn nói gì thì nói, khiến cho tác phẩm xem ra thì thiếu cấu trúc. Nhưng trong Pedro Páramo có cấu trúc, một cấu trúc đi ra từ im lặng, những manh mối lơ lửng, những cảnh bị cắt đi, nơi mọi thứ diễn ra trong một thời gian đồng thời, tức là phi-thời gian.” Continue reading Pedro Páramo: Một cuốn sách đi ra từ im lặng

Pablo Neruda, “Thơ ca”

Tôi trả lời: “Tôi rất sợ mất một người bạn đọc của mình. Tôi chăm mãi mới được đấy. Ông ấy thuộc đến từng nếp thơ của tôi… Mà Eliot đến là lắm tài… Ông ấy biết vẽ này… Lại viết tiểu luận này… Nhưng tôi muốn nâng niu, gìn giữ ông ấy với tư cách là một bạn đọc, chăm nom ông ấy như chăm một giống cây quý hiếm… Ông hiểu tôi mà, Fraser…” Continue reading Pablo Neruda, “Thơ ca”

Bohumil Hrabal: Tiếng cười cận kề cái chết

Có chất hí lộng, và một nỗi buồn, trong viễn cảnh một tham vọng lớn (“cho cả nhân loại ấy chứ”) tới mức phải luôn vỡ mộng, và cũng hí lộng trong cái cách dễ dãi và thậm chí tự hào mà nhân vật này chấp nhận mình tuyệt vọng: chẳng phải y cũng có chút hài lòng với “đám mây đen nhỏ xíu” đã cản trở số phận đấy ư? – ít ra thì y cũng có chút danh tiếng đó chứ. Do đó nhân vật này có thể là lớn lao không chỉ trong tham vọng riêng mà còn trong cách y chấp nhận định mệnh. Và cái cụm từ “đám mây đen nhỏ xíu” há chẳng phải đã được viết rất khéo đó sao? Nó ám chỉ một kẻ tự thấy mình ngon lành đến độ y tự nhìn bản thân như một bình diện địa lý, như một vùng đất bị che phủ u ám đang trải qua một đợt áp thấp trên bản đồ thời tiết châu Âu. Quan trọng nhất, “nhỏ xíu” là một từ tuyệt hay, vì nó hàm ý rằng người đàn ông này, dù có lẽ kiêu hãnh về điều bất lợi của mình, nhưng cũng có thể khinh thường chính điều đó, hoặc tin rằng y có thể gạt bỏ nó đi ngay bất cứ lúc nào cần và tiếp tục làm những chuyện đại sự. Continue reading Bohumil Hrabal: Tiếng cười cận kề cái chết

“Một sự thật cá nhân bị dồn nén tận đáy của ý thức”: Lối viết và tiếng nói nữ trong “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”

Một tác phẩm như Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, với quy mô cực kì lớn của những đối tượng tham gia phỏng vấn, là một sự thể hiện đậm đặc lối viết nữ vì lời trần thuật không chỉ của riêng một nhân vật, một tác giả nữ (vốn chỉ đưa một lượng rất ít lời kể và kinh nghiệm của mình) mà là của chung một cộng đồng nữ. Thế giới trải nghiệm trong tác phẩm là một tự sự nữ, theo cách nói của Hélène Cixous. Như chính tác giả nhận xét, đó là “các câu chuyện thuộc một tính chất khác và nói về những chủ đề khác”, tạo nên “cuộc chiến tranh ‘nữ’ có những màu sắc riêng của nó, những mùi riêng của nó, nguồn chiếu sáng riêng và không gian cảm xúc riêng của nó”. Lối viết nữ biểu hiện qua cách thức tư duy, cách thức tổ chức câu chuyện của những nữ cựu binh. Khi họ kể về chính họ, tái hiện ký ức về cuộc chiến tranh, thì ngay cả ngôn ngữ trong tác phẩm cũng thay đổi so với thứ ngôn từ nam quen thuộc. Continue reading “Một sự thật cá nhân bị dồn nén tận đáy của ý thức”: Lối viết và tiếng nói nữ trong “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”