Tàn Tuyết, Những chuyện tình thế kỷ mới (trích)

Sau khi nếm mùi thất bại, Long Tư Hương bắt đầu động não. Chị đắn đo không biết mình đi làm điếm liệu có được không. Nhưng điếm không phải cứ muốn mà làm được, đầu tiên phải có phòng riêng, sau đó phải được dẫn mối, ngoài ra còn phải bắt quen với công an. Đây đều là chướng ngại vật chị không vượt qua nổi.
Lại thêm hai năm nữa, trong những ngày tăm tối không thấy mặt trời, hai người phụ nữ gần như đã sắp tuyệt vọng với cuộc đời. Song đúng lúc này, nghề bán hoa trong thành phố lại dần khởi sắc. Thoạt đầu là lén lút, về sau ngày càng trắng trợn ngang nhiên. Nữ công nhân trong xưởng lần lượt gia nhập ngành này, đặc biệt là những cô trẻ trung lại có chút nhan sắc. Continue reading Tàn Tuyết, Những chuyện tình thế kỷ mới (trích)

Advertisements

Mishima Yukio, Kịch Noh hiện đại

Mishima đã “cải biên” một cách tài tình hai vở kịch Noh truyền thống nổi tiếng, đặt chúng vào bối cảnh thế kỷ hai mươi, với ít nhiều thay đổi trong thành phần nhân vật, cốt truyện. Hạt nhân hay mô-típ chủ đạo của câu chuyện, cũng như cốt cách và phong vị của kịch Noh truyền thống hầu như vẫn nguyên vẹn, và đồng thời đấy là kịch của thời nay, rộng mở cho những phương pháp biểu đạt khoáng đạt, phóng túng nhất của sân khấu hiện đại. Continue reading Mishima Yukio, Kịch Noh hiện đại

Kawabata Yasunari, “Đôi mắt mùa xuân”

Đã vậy, cả hai lần đều tình cờ chạm mặt Kurimoto Chikako khiến anh nghĩ chuyện không đơn giản. Như thể bị những ân oán trong quá khứ hay vong linh nào đó theo ám. Nhưng, thật ra, từ sau ngày cưới Yukiko về, không một lần nghĩ đến việc mời cha vợ đến nhà chơi thì Kikuji mới đúng là có vấn đề. Kikuji biết rõ Yukiko đang giả vờ, nhưng tự thân anh cũng không tài nào biết được độ sâu vực thẳm vốn đang bị sự tăm tối của vẻ giả tạo ghê gớm của bản thân bao bọc. Và Kikuji cũng không thể biết được người con gái trinh nguyên như Yukiko tiếp nhận sự giả dối của tình yêu bạc nhược của anh ra sao? Continue reading Kawabata Yasunari, “Đôi mắt mùa xuân”

Han Kang, Trắng (trích)

Trắng như bánh trăng tròn là như thế nào, tôi từng rất tò mò và đến năm bảy tuổi, lúc nặn bánh trăng khuyết tôi bất chợt nhận ra. Những chiếc bánh được nặn hình bán nguyệt từ bột gạo trắng tinh nhào kỹ, lúc chưa được hấp chín nhìn đẹp đến mức như không thuộc về thế giới này. Continue reading Han Kang, Trắng (trích)

Ngô Minh Ích, Chiếc xe đạp mất cắp (trích)

Ông thậm chí từng nhờ một người biết chữ trên thị trấn đọc cho nghe tin tức đăng trên tờ báo nọ, nhờ vậy mà ông nắm làu làu chuyện xảy ra vào ngày mình ra đời. Nghe mẹ tôi kể lần đầu bà được thấy tờ báo “xốp giòn, vàng ệch” ấy, ông ngoại chỉ vào mẩu tin nho nhỏ đăng dưới góc phải mà đối với ông là một tin tức cực kỳ quan trọng, mẩu tin có tiêu đề “Xe tự quay quay đâu mất rồi” đưa tin danh y Đài Nam Nhan Chấn Thanh khi ấy đạp xe đi thăm bệnh, đến nơi liền xông xáo vào thẳng nhà người bệnh, người bệnh cho rằng xe dựng ở ngoài không ổn lắm, bèn sai đứa ở ra dắt xe vào trong nhà thì phát hiện xe đã bị người ta đạp đi mất, “như hoàng hạc không biết bay về đâu”. Continue reading Ngô Minh Ích, Chiếc xe đạp mất cắp (trích)

Trương Gia Giai, Ngang qua thị trấn Ngàn Mây (trích)

Lưu Thập Tam sinh ra ở thị trấn Ngàn Mây, là cháu ngoại bà Vương Oanh Oanh, người thừa kế tiệm tạp hóa. Các bạn gái trong lớp đua nhau viết nhật ký, bà ngoại mua buôn hai thùng đầy sổ nhật ký sặc sỡ, vừa khai giảng đã bán hết veo. Bạn gái nào cũng kè kè quyển nhật ký bên mình, cứ như bên trong giấu đầy bí mật vậy. Lưu Thập Tam chẳng thèm, làm gì có ai có sổ bí mật to bằng nó. Thực ra cũng không thể coi là sổ được, chẳng qua nó dùng giấy kẻ ô riêng của nhà máy điện tử Đông Tín đóng lại mà thôi. Trang đầu tiên là lời mẹ dặn, nó nắn nót chép lại: Nhớ chăm học, đừng ham chơi. Lớn lên thi đỗ vào Thanh Hoa, Bắc Đại, ra thành phố kiếm việc, lấy một cô vợ yêu con, sống thật hạnh phúc. Continue reading Trương Gia Giai, Ngang qua thị trấn Ngàn Mây (trích)

Cho Nam Joo, Sinh năm 1982 (trích)

Những ngày sau đó lại có thêm những dấu hiệu lạ khác. Cô bắt đầu gửi những tin nhắn với đầy các biểu tượng cảm xúc dễ thương mà bình thường cô không bao giờ dùng, cô nấu cả những món ăn như canh xương bò hoặc miến trộn, những món hoàn toàn không phải sở trường và sở thích của cô. Nhiều khi Dae Hyun cảm giác vợ mình như một người hoàn toàn xa lạ. Continue reading Cho Nam Joo, Sinh năm 1982 (trích)

Monique Truong, Cuốn sách muối (trích)

Ở Gare du Nord ngày hôm ấy, ánh đèn chớp sáng của máy ảnh chiếm trọn tâm trí tôi, không hiểu vì sao, những thứ này chưa bao giờ thôi làm tôi sợ. Chúng là ánh đèn vờ như soi sáng nhưng thực chất chỉ tổ làm ta lóa mắt. Ánh chớp lóe trước cơn bão lớn đây mà, tôi từng nghĩ vậy. Nhưng tôi cho rằng ấy là mối lo âu của người thủy thủ trong tôi đang lên tiếng. Đã mười một năm trôi qua kể từ lần cuối tôi thực sự vượt đại dương. Đối với hai Madame tôi thì là hơn ba mươi năm rồi. Đại dương với họ chỉ còn là kí ức, một vùng xanh rộng lớn tĩnh lặng trải dài giữa nơi này và nơi kia. Đối với tôi nó còn sống và dữ tợn, một sự gợi nhớ rằng khoảng cách không thể đo lường bằng sự mênh mông của biển cả, rằng đó chỉ là sự khởi đầu. Continue reading Monique Truong, Cuốn sách muối (trích)

Machado de Assis, “Nghệ thuật làm ông lớn” (Đối thoại)

Nhưng lâu lâu ghé vô hiệu sách cũng đáng, miễn là con phải bảo đảm là ai cũng thấy con đi vào đó. Có một cách đơn giản để giải quyết chuyện nan giải này: đi vào hiệu sách chỉ để bàn tán về những tin đồn trong ngày, chuyện nổi bật trong tuần, mấy vụ dâm ô hay xì-căng-đan nào đó, một sao chổi vừa lướt qua, hay bất cứ chuyện gì có thể nói (tất nhiên là trừ phi con thích tới gần các độc giả nghiện đọc các mục uyên bác của Monsieur Mazade trong tờ Revue des Deux Mondes); bảy mươi lăm phần trăm các cư dân đáng kính này sẽ lặp lại với con cùng một ý kiến thôi, và chính sự tẻ nhạt ấy lại hữu ích cực kỳ. Continue reading Machado de Assis, “Nghệ thuật làm ông lớn” (Đối thoại)

Roberto Bolaño, 2666 (trích dịch)

Cô đọc, thích cuốn sách, nên đến thư viện trường tìm thêm sách của tác giả người Đức có tên Ý này, và tìm được hai cuốn: một là cuốn cô đã đọc ở Berlin, và cuốn kia là Ngài Bitzius. Việc đọc cuốn sau thực sự khiến cô lao ra đường. Mưa đang trút xuống khoảnh sân, và bầu trời trong sân trông như vẻ chau mày của một con robot hay một vị thần hình dạng giống chúng ta. Những giọt mưa chênh chếch trượt xuống những lá cỏ trong công viên, nhưng nếu nó có trượt ngược lên thì cũng không có gì khác biệt. Rồi những (giọt) chênh chếch biến thành (giọt) tròn trịa, bị mặt đất bên dưới bãi cỏ nuốt chửng, rồi bãi cỏ và mặt đất dường như trò chuyện với nhau, không, không phải trò chuyện, mà cãi cọ, những từ ngữ không thể hiểu được của chúng như những mạng nhện kết tinh hay những bãi nôn kết tinh lại trong thoáng chốc, tiếng xao xác gần như không nghe được, như thể thay vì chiều hôm đó uống trà, Norton đã uống một cốc peyote[1] bốc hơi nghi ngút. Continue reading Roberto Bolaño, 2666 (trích dịch)

Roberto Bolaño, “Điếm giết người”

“Tôi thấy anh trên tivi, Max ạ, và tôi nghĩ: Đó là anh chàng của tôi. Tôi thấy anh cùng với nhóm của anh. Anh gọi nó là nhóm phải không? Có thể anh nói là băng, là đội, nhưng không. Tôi nghĩ anh gọi là nhóm: nó là một từ đơn giản và anh là một người đơn giản. Các anh đã cởi áo pull ra và các anh để ngực trần, phô bày tấm thân trai trẻ: những cơ ngực những bắp tay mạnh mẽ, mặc dù tất cả các anh đều thích có ngực không lông, vâm váp, hầu hết thế, nhưng thật ra tôi chẳng chú ý tới những bộ ngực hay thân hình khác lắm, chỉ chú ý tới ngực và thân hình của anh thôi, có gì đó ở anh khiến tôi không thể dứt ra, mặt anh, mắt anh đăm đắm nhìn về phía máy quay (dù chắc anh không nhận ra mình đang bị quay và phát hình vào phòng khách nhà chúng tôi), cái nhìn không đáy trong mắt anh, không giống như cái vẻ của chúng bây giờ, khác vô bờ với kiểu rồi chúng sẽ nhìn… Continue reading Roberto Bolaño, “Điếm giết người”

Clarice Lispector, Giờ khắc của vì sao ấy (trích)

Tôi viết vì tôi không có gì khác để làm trên đời này: tôi bị thừa ra trên mảnh đất con người. Tôi viết bởi tôi cùng quẫn và tôi mệt, tôi không thể chịu nổi sự nhàm chán phải làm mình và nếu không phải nhờ có viết, cái luôn luôn mới mẻ ấy, tôi sẽ chết mỗi ngày, ấy là nói biểu tượng thế. Nhưng tôi đã sẵn sàng lẻn đi qua cửa sau. Tôi đã trải nghiệm hồ như tất thảy, kể cả đam mê và sự khốn cùng của đam mê. Giờ tôi chỉ muốn có cái tôi đã có thể là mà chưa bao giờ là. Continue reading Clarice Lispector, Giờ khắc của vì sao ấy (trích)

Juan Rulfo, Pedro Páramo (trích)

Tôi tới làng Comala vì người ta bảo rằng cha tôi, một Pedro Páramo nào đó, đã từng sống ở đây. Chính mẹ tôi bảo vậy. Tôi đã hứa với bà rằng khi nào bà qua đời tôi sẽ tới thăm ông ta. Tôi nắm lấy tay bà trong cử chỉ hàm chứa lời hứa; bởi vì bà yếu lắm rồi, bà sắp tắt thở, còn tôi sẵn sàng hứa làm tất cả. “Con hãy tới thăm ông ta. – Bà khuyên tôi. – Dù con gọi ông ta thế nào đi nữa, ta tin chắc rằng ông sẽ rất vui khi gặp con”. Vậy là tôi không còn cách nào hơn là hứa sẽ làm đúng như điều bà mong muốn. Continue reading Juan Rulfo, Pedro Páramo (trích)

Amos Oz, Chuyện kể về tình yêu và bóng tối (trích)

Quả đồi là láng giềng sát vách nhà chúng tôi, một ông láng giềng đồ sộ, ủ ê, khép kín, một quả đồi già buồn rầu với nền nếp sinh hoạt cố định như mọi gã không vợ khác, một quả đồi mùa đông im lìm gà gật, không bao giờ kéo bàn ghế hay đón tiếp khách khứa, không bao giờ gây ồn ào hay làm phiền chúng tôi, nhưng giống như một thứ mùi mốc thoảng nhẹ nhưng dai dẳng, cái im lặng và ẩm ướt lạnh và tối mịt của ông hàng xóm u sầu ấy vẫn ngày đêm rỉ ra qua bức tường.
Khách đến nhà hay nói: nhà này cả giữa đợt gió nóng vẫn thật là thoải mái, mát mẻ dễ chịu, se lạnh là khác, nhưng đến mùa đông thì anh chị làm sao? Tường này không bị thấm ẩm à? Cả nhà không thấy buồn thảm ư? Continue reading Amos Oz, Chuyện kể về tình yêu và bóng tối (trích)

César Aira, “Bộ Não Phát Nhạc”

Khi khởi hành tôi biết cả nhà sắp đi đâu, nếu chịu chú ý một tí, nhưng vừa leo lên xe tải một cái, thể nào mẹ cũng lại nổi hứng tò mò về một cái gì đó và sẽ yêu cầu bố đi vòng lại đầu đường hay sang đường khác để bà có thể nhìn một ngôi nhà, một cửa hàng, một cái cây, hay một tấm biển nào đó. Ông thì lại đã quen chiều lòng bà, và điều đó có nghĩa là thay vì chỉ chạy khoảng vài trăm mét theo đường thẳng, chúng tôi sẽ lái xe khoảng năm dặm, đi theo một lộ trình ngoằn ngoèo như mê cung. Đối với mẹ tôi, người chưa bao giờ rời khỏi Pringles, đó là cách để mở rộng thị trấn từ bên trong. Continue reading César Aira, “Bộ Não Phát Nhạc”

Horacio Quiroga, “Con gà bị chặt đầu”

Khi mặt trời dần khuất bóng và biến mất đằng sau bức tường, chúng mới thường cảm thấy vui sướng. Ánh sáng chói mắt luôn là thứ đầu tiên thu hút sự chú ý của chúng, mắt chúng sáng lên từng chút một, và cuối cùng, chúng cất tiếng cười điên dại, đứa nào cũng như bị nhiễm cùng cái cảm giác vui mừng phấn khích đó khi nhìn chằm chằm vào mặt trời xế chiều với niềm vui như con thú nhìn thấy con mồi, như thể mặt trời là một món ngon hấp dẫn. Continue reading Horacio Quiroga, “Con gà bị chặt đầu”

Phan Ta Di, “Vagina Dentata: a tribute”

Đêm đó tắt đèn, nàng bắt đầu kể chuyện. Nàng tiên, mà chúng ta sẽ gọi là Scheherazade vì đằng nào liên văn bản cũng huỵch toẹt ra rồi, có giọng nói hết sức kỳ diệu, không du dương mà đều đều như tụng kinh, nhưng cách nào đó vẫn gọi lên những tình cảm cực kỳ tinh tế trong lòng người nghe. Nàng cất giọng, nhà vua tưởng như trước mắt mình là những chấm bướm nối nhau thành những đường quấn quýt bay qua mặt hồ phẳng lặng, soi xuống hồ thành những ảnh tượng, lâu đài, đồng xanh, đại dương sóng cồn và tóc thề thiếu nữ. Continue reading Phan Ta Di, “Vagina Dentata: a tribute”

Jorge Luis Borges, “Tấm gương và chiếc mặt nạ”

Các vì sao trên trời trở lại với hành trình sáng rõ của chúng. Một lần nữa sơn ca hót trong những cánh rừng Saxon và nhà thơ quay lại với bản thảo của mình, ngắn hơn lần trước. Y không ngâm nó từ trí nhớ, mà đọc với sự bất an thấy rõ, đôi khi bỏ qua một đoạn như thể y cũng không hiểu hay không muốn làm ô uế những đoạn thơ đó. Bài thơ rất lạ. Nó không phải là một bản mô tả về trận chiến mà nó chính là trận chiến. Continue reading Jorge Luis Borges, “Tấm gương và chiếc mặt nạ”

Anna Burns, Người đưa sữa (trích)

Ông ta chẳng hứng thú gì với chạy. Mục đích của quãng đường chạy bộ dọc theo hai hồ chứa nước ở cái nơi tôi chưa bao giờ thấy ông ta đi chạy này không phải là để chạy. Mà mục đích của nó là vì tôi. Nói chuyện với tôi, ông ta ra cái điều lý do ông ta giảm tốc độ là để điều hoà lại, nhưng tôi biết điều hoà là thế nào và với tôi, đi bộ trong lúc chạy không phải điều hoà. Nhưng tôi không thể nói vậy, vì không lý gì tôi lại khoẻ hơn người đàn ông này, hiểu biết về chế độ tập của bản thân hơn người đàn ông này, vì cái nhìn về nam với nữ ở đây sẽ không bao giờ cho phép điều đó. Chúng ta lại đã sa vào địa hạt “tôi là đàn ông còn cô là đàn bà”. Nó là những gì ta có thể nói ra nếu ta là một đứa con gái nói chuyện với một đứa con trai, một người phụ nữ với một người đàn ông, hoặc một đứa con gái với một người đàn ông và những gì ta không được phép nói ra – ít ra thì là theo kiểu chính thức, giữa chốn đông người, và nhiều hơn một lần. Là việc một vài đứa con gái nhất định sẽ không được dung thứ nếu bị xem là không chịu phục tùng đàn ông, không chịu công nhận sự vượt trội của đàn ông, thậm chí còn đi xa đến mức dám bật lại đàn ông, mà về cơ bản là những đứa con gái cứng đầu, một giống loài xấc láo và quá đinh ninh về mình. Continue reading Anna Burns, Người đưa sữa (trích)