Natascha Wodin, Bà đến từ Mariupol (trích)

Suốt một thời gian rất dài trong đời tôi, tôi không hề biết mình là con của vợ chồng hai người xưa kia bị bắt đưa sang Đức cưỡng bức lao động. Không ai nói cho tôi biết điều đó, cả bố mẹ tôi, cả môi trường Đức xung quanh tôi, một môi trường không gìn giữ các kỷ niệm về đám đông những người bị cưỡng bức lao động như thế. Hàng chục năm trời trôi qua mà tôi không hề hay biết tí gì về cuộc đời của chính mình. Tôi không hề hay biết những người mà gia đình chúng tôi sống chung sống đụng hết ghetto này sang ghetto khác là những ai, không biết họ đã đến đất nước Đức này như thế nào, tất tật những người Rumani, Tiệp, Ba Lan, Bungari, Nam Tư, Hung, Lithuani, Latvia, Azerbaijan hay của nhiều đất nước khác nữa, những con người tuy bất đồng mọi đường về tiếng tăm chữ nghĩa, nhưng bằng cách nào đó, vẫn hiểu được nhau ấy. Continue reading Natascha Wodin, Bà đến từ Mariupol (trích)

Advertisements

Bohumil Hrabal, quá ồn một nỗi cô đơn (trích)

Đúng, đi cùng sáng tối chập choạng là vẻ đẹp. Bên ngọn lửa trong chiếc lò để mở, nàng di-gan đứng dậy, trần truồng, và trong lúc nàng di chuyển, tôi nhìn thân hình nàng hiện rõ đường nét trong hào quang vàng của lửa như vòng hào quang bao quanh tượng thánh cha Ignace de Loyola gắn cứng trên đỉnh mặt tiền nhà thờ ngoài Quảng trường Charles. Và khi thêm ít củi vào lửa rồi quay lại nằm trên người tôi, nàng quay đầu ngắm gương mặt trông nghiêng của tôi và lướt ngón tay quanh mũi miệng tôi; nàng không bao giờ hôn tôi và tôi cũng không hôn nàng, chúng tôi nói mọi điều bằng những bàn tay và rồi nằm đó nhìn những tia lửa và ánh bập bùng trong chiếc lò gang cũ méo mó, những vòng xoắn ánh sáng từ cái chết của gỗ. Chúng tôi chỉ muốn được sống như thế mãi mãi, vô cùng, chẳng khác gì chúng tôi đã nói hết mọi điều cần nói với nhau, chẳng khác gì chúng tôi đã sinh ra cùng nhau và không bao giờ chia lìa. Continue reading Bohumil Hrabal, quá ồn một nỗi cô đơn (trích)

Bohumil Hrabal: Tiếng cười cận kề cái chết

Có chất hí lộng, và một nỗi buồn, trong viễn cảnh một tham vọng lớn (“cho cả nhân loại ấy chứ”) tới mức phải luôn vỡ mộng, và cũng hí lộng trong cái cách dễ dãi và thậm chí tự hào mà nhân vật này chấp nhận mình tuyệt vọng: chẳng phải y cũng có chút hài lòng với “đám mây đen nhỏ xíu” đã cản trở số phận đấy ư? – ít ra thì y cũng có chút danh tiếng đó chứ. Do đó nhân vật này có thể là lớn lao không chỉ trong tham vọng riêng mà còn trong cách y chấp nhận định mệnh. Và cái cụm từ “đám mây đen nhỏ xíu” há chẳng phải đã được viết rất khéo đó sao? Nó ám chỉ một kẻ tự thấy mình ngon lành đến độ y tự nhìn bản thân như một bình diện địa lý, như một vùng đất bị che phủ u ám đang trải qua một đợt áp thấp trên bản đồ thời tiết châu Âu. Quan trọng nhất, “nhỏ xíu” là một từ tuyệt hay, vì nó hàm ý rằng người đàn ông này, dù có lẽ kiêu hãnh về điều bất lợi của mình, nhưng cũng có thể khinh thường chính điều đó, hoặc tin rằng y có thể gạt bỏ nó đi ngay bất cứ lúc nào cần và tiếp tục làm những chuyện đại sự. Continue reading Bohumil Hrabal: Tiếng cười cận kề cái chết

“Một sự thật cá nhân bị dồn nén tận đáy của ý thức”: Lối viết và tiếng nói nữ trong “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”

Một tác phẩm như Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, với quy mô cực kì lớn của những đối tượng tham gia phỏng vấn, là một sự thể hiện đậm đặc lối viết nữ vì lời trần thuật không chỉ của riêng một nhân vật, một tác giả nữ (vốn chỉ đưa một lượng rất ít lời kể và kinh nghiệm của mình) mà là của chung một cộng đồng nữ. Thế giới trải nghiệm trong tác phẩm là một tự sự nữ, theo cách nói của Hélène Cixous. Như chính tác giả nhận xét, đó là “các câu chuyện thuộc một tính chất khác và nói về những chủ đề khác”, tạo nên “cuộc chiến tranh ‘nữ’ có những màu sắc riêng của nó, những mùi riêng của nó, nguồn chiếu sáng riêng và không gian cảm xúc riêng của nó”. Lối viết nữ biểu hiện qua cách thức tư duy, cách thức tổ chức câu chuyện của những nữ cựu binh. Khi họ kể về chính họ, tái hiện ký ức về cuộc chiến tranh, thì ngay cả ngôn ngữ trong tác phẩm cũng thay đổi so với thứ ngôn từ nam quen thuộc. Continue reading “Một sự thật cá nhân bị dồn nén tận đáy của ý thức”: Lối viết và tiếng nói nữ trong “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”

Thuận, Thư gửi Mina (trích)

Pema bảo nó thèm những điều ngọt ngào, khi không có tình yêu thì nó yêu những cái giống như tình yêu. Rằng thật là oái oăm, càng thèm món chính thì nó càng phải ăn món tráng miệng, càng nhớ anh nhà báo chiến tranh thì nó càng có nhu cầu làm tình với thằng trai trẻ. Trên giường, chúng nó vừa làm tình vừa cầu nguyện cho Kabul. Nó, theo tôn giáo của nó. Thằng kia, theo tôn giáo của thằng kia. Mỗi đứa tin vào một Thượng Đế khác nhau, nhưng cầu nguyện là việc mà chúng nó vẫn làm. Mina, có lẽ mày không tưởng tượng được, không ai tưởng tượng được rằng giữa Sài Gòn, nguyên Ho Chi Minh city, thành phố lớn nhất, hiện đại nhất dải đất loằng ngoằng hình chữ S mấp mé bờ Đông của Thái Bình dương, từng có hai cơ thể khỏe mạnh và đẹp đẽ cứ sắp đạt cực khoái lại tự động tách khỏi nhau để thầm xin đức Phật và Chúa Giêsu hãy ra tay khiến bom ngừng rơi, máu ngừng đổ ở mảnh đất Kabul xa lắc xa lơ của chúng mày nơi cả hai chúng nó chưa đứa nào từng có kỷ niệm, thậm chí từng đặt chân. Continue reading Thuận, Thư gửi Mina (trích)

Emma Hooper: “Đi đi, làm bất cứ điều gì, bất cứ khi nào”

Nhịp điệu là một phần rất lớn trong văn của tôi. Tôi thường quay lại thay đổi câu này câu nọ vì nó có quá nhiều hay quá ít âm tiết, hay điểm nhấn nằm sai vị trí, mặc cho nghĩa của từ ngữ có thế nào. Nhịp điệu câu văn có thể cuốn bạn vào và dẫn bạn đi, như trong âm nhạc vậy. Điều đó người ta thừa nhận ở thơ, tôi nghĩ thế, nhưng ở văn xuôi thì ít được chú ý hơn. Tuy vậy tôi nghĩ nhịp điệu ở văn xuôi cũng quan trọng ngang ngửa, nếu không nói là hơn, đối với tôi, bởi cả chồng cả đống câu chữ cần nhịp điệu mới có thể không ngừng dẫn dắt và đưa bạn qua, cả người viết lẫn người đọc. Continue reading Emma Hooper: “Đi đi, làm bất cứ điều gì, bất cứ khi nào”

Kim Thúy, Ru (trích)

HỒI CÒN NHỎ, TÔI CỨ NGHĨ chiến tranh và hòa bình là hai từ trái nghĩa. Thế nhưng lúc Việt Nam còn khói lửa, tôi đã sống trong hòa bình, và tôi chỉ biết về chiến tranh sau khi Việt Nam xếp dọn vũ khí. Tôi nghĩ chiến tranh và hòa bình, trên thực tế, là bạn hữu và chúng cười nhạo chúng ta. Chúng đối xử với chúng ta như kẻ thù khi nào chúng thích, khi nào thấy tiện, mà chẳng thèm bận tâm đến định nghĩa hay vai trò mà chúng ta gán cho chúng. Vì thế, có lẽ không nên tin vào vẻ bề ngoài của chiến tranh hay hòa bình để chọn hướng nhìn. Tôi thật may vì ba mẹ tôi đã có thể giữ được điểm nhìn của họ bất kể cái màu của thời đại hay khoảnh khắc ấy có ra sao. Mẹ tôi thường đọc tôi nghe câu thành ngữ được viết trên bảng đen cái hồi bà lớp tám, ở Sài Gòn: Đời là chiến trận, nếu buồn là thua. Continue reading Kim Thúy, Ru (trích)

Trạch Vĩnh Minh: Nhà thơ chứ không phải nhà thơ nữ

Sự mặc khải về bóng tối tâm linh bằng ánh sáng của ngôn ngữ thể hiện thông qua hình thức tự bạch dường như là mô hình của nhiều bài thơ của Trạch Vĩnh Minh, nổi bật với các biểu tượng bóng tối, nước, trăng, người mẹ, cái chết – những nguyên lý tính âm theo quan niệm truyền thống Trung Hoa. Continue reading Trạch Vĩnh Minh: Nhà thơ chứ không phải nhà thơ nữ

28: Giữa chó và người

Cách kể chuyện từ ngôi thứ ba, không có nhân vật nào thật sự là chính; cách cắt cảnh nhanh và đột ngột, các đường dây liên hệ từ nhân vật này sang nhân vật khác của Jeong You-Jeong tạo cho  người đọc cái cảm giác đang xem một series phim truyền hình. Thú vị ở chỗ, nếu bạn xem nhiều phim truyền hình Hàn Quốc, đâu đó bạn sẽ nhận ra các vệt hóm hóm, có xu hướng lãng mạn, nhất là khi tác giả kể về mối quan hệ tình cảm từ ghét thành yêu giữa anh thú y và chị nhà báo, và giữa con chó hoang và chị chó nhà. Dù cho sống chết nguy cấp kiểu gì, yêu thì vẫn cứ phải yêu, thoát làm sao cho được tấm lưới của ái tình, hả em. Continue reading 28: Giữa chó và người

Linda Lê: Người chết viết văn

Linda Lê cũng là người dẫn lối đưa tôi trở về đọc văn học Việt. Trước tôi vốn ít đọc bởi cứ thấy cây đa giếng nước là ngán tận họng. Ở Linda Lê, cô cũng chẳng thiếu những cảnh ấy, nhưng rõ ràng, câu chuyện dù quen thuộc tưởng đến ngán, nhưng qua tay một “cao thủ”, vẫn có những ý vị riêng. Continue reading Linda Lê: Người chết viết văn

Yuika Kitamura, Sự nổi lên của manga dành cho thiếu nữ và văn hóa thiếu nữ

Manga dành cho thiếu nữ, phát triển từ bước đầu khiêm tốn, đã đóng một vai trò cốt yếu trong văn hóa thiếu nữ thời hậu chiến. Gần đây, nó đã mở rộng ra khỏi văn hóa thiếu nữ để có được lượng độc giả rộng lớn hơn bao gồm phụ nữ trưởng thành, nam thiếu niên, đàn ông và độc giả toàn thế giới. Continue reading Yuika Kitamura, Sự nổi lên của manga dành cho thiếu nữ và văn hóa thiếu nữ

Margaret Atwood, Huyễn tưởng cưỡng dâm

… Chẳng hạn khi đêm xuống, tôi đang đi dọc con phố tối mịt thì bỗng một gã nom thấp bé, xấu hoắc tiến lại túm tay tôi. Mà gã không chỉ xấu thôi đâu, mặt mũi phù nề, hệt mấy tên nhân viên ngân hàng mà bạn phải cật lực giải thích mỗi khi số dư tài khoản bị âm—đương nhiên tôi không có ý nói rằng mọi nhân viên giao dịch đều có khuôn mặt như vậy—mà khắp người còn chi chít mụn. Tôi bị gã dồn vào tường, gã tuy nhỏ con nhưng khỏe, gã bắt đầu cởi đồ và khóa quần bị kẹt. Thế đấy, trong thời khắc trọng đại nhất đời người con gái, ngang ngửa chuyện kết hôn hay sinh con, gã lại không kéo được khóa quần. Continue reading Margaret Atwood, Huyễn tưởng cưỡng dâm

Jeffrey Eugenides, Nghệ thuật tiểu thuyết số 215

Tình huống mà tôi chọn cho người kể chuyện của mình – hiện tượng thiếu hụt enzim 5-alpha-reductase (5-ARD) – cực kỳ hợp với mục đích của tôi. Những người sinh ra với tình trạng này – lúc mới sinh thì là nữ giới nhưng đến lúc dậy thì lại phát triển rất mãnh liệt các đặc điểm của nam giới. Tuy nhiên, thông tin đáng chú ý nhất về tình trạng này là nó là kết quả của một đột biến lặn. Ngay khi tôi biết được điều này, toàn bộ cuốn sách thực sự đã trở thành một điều gì đó khác biệt. Thay vì là một cuốn hồi ký hư cấu ngắn gọn giống như một Herculine Barbin nữa, cuốn sách sẽ là câu chuyện về một gene đột biến được truyền qua ba thế hệ trong một gia đình, cho tới khi 2 bản sao của gene này rơi vào nhân vật người kể chuyện của tôi, và từ đó đem tới cho anh ta một cuộc đời bất thường,  nhưng rất thuyết phục và chân thực. Continue reading Jeffrey Eugenides, Nghệ thuật tiểu thuyết số 215

Atwood đã dạy tôi làm đàn bà như thế nào: Đọc lại Chuyện người Tùy nữ năm 2018

Xét trên góc độ “vấn đề phụ nữ”, cả trong tác phẩm lẫn trong sự tương tác với thế giới bên ngoài, thì Chuyện người Tùy nữ là một cuốn vỡ lòng rất tốt; nó không chỉ gom hầu như đầy đủ mọi vấn đề Atwood từng bàn đến về cái tạm gọi là căn tính nữ, mà còn tiếp cận những vấn đề đó theo những hướng mà các tác phẩm về sau chỉ củng cố và làm rõ thêm chứ không hề lật ngược. Sự tiếp nhận bùng nổ của những người xem đối với season 1 của phim, việc cuốn sách trở thành đầu sách bán chạy nhất của Amazon và Audible năm 2017, cho thấy bộ vấn đề đó đã và vẫn là những điều cơ bản mà phụ nữ ngày nay phải đối mặt, dù có thể hình hài đã thay đổi chút ít. Và Atwood, một nhà hoạt động xã hội/chính trị/môi trường cũng nhiều như một nhà văn, hẳn không phiền khi thấy thế hệ mới đã hớn hở cướp lấy biểu tượng ruột của bà để biến thành một biểu tượng hùng mạnh của hoạt động chính trị thập kỷ 201x. Continue reading Atwood đã dạy tôi làm đàn bà như thế nào: Đọc lại Chuyện người Tùy nữ năm 2018

Top 10 văn học dịch nửa đầu 2018

Văn học dịch nửa đầu 2018, rực rỡ như mọi khi, nuốt chửng văn học trong nước, như mọi khi. Trăm hoa đua nở, trăm nhà ra sách: từ kinh điển tới đương đại, từ Đông sang Tây, sách ra không kịp mua, chứ đừng nói đến kịp đọc. Xuất bản Việt Nam những năm gần đây tự hào là một trong những nơi biên dịch tốc độ thần sầu, nhiều khi song song, hoặc chỉ chậm sau bản gốc vài tháng. Đó là còn chưa kể vô số in lại, mà hoành nhất hạng là Cái trống thiếc của Gunter Grass, mặc áo vải, trị giá 300 bìa đậu phụ. Continue reading Top 10 văn học dịch nửa đầu 2018

Lại chơi với kitsch

Kundera, một con người chống kitsch kịch liệt bằng cả sức bình sinh, chính Kundera ấy, quá hiểu dù khinh miệt kitsch thế nào thì nó vẫn luôn là yếu tố “bất khả phân ly của kiếp sống con người”. Đời nhẹ khôn kham, với tôi, là một cuốn tiểu thuyết chơi với kitsch, một cách khéo léo, lừa lọc, và đầy nguy hiểm. Continue reading Lại chơi với kitsch

Tác phẩm nghệ thuật trong kỷ nguyên nhân bản kỹ thuật

“Tác phẩm nghệ thuật trong kỷ nguyên nhân bản kỹ thuật”, được coi là văn bản sáng lập ngành lý thuyết truyền thông ngày nay, tiểu luận nổi tiếng nhất và có thể là quan trọng nhất của Walter Benjamin, ra đời năm 1935 tại Pháp, nơi ông đang lưu vong và khá cô đơn về tinh thần. Ông hy vọng qua đó tham dự vào việc đề ra một đường lối nghệ thuật cách mạng, song không như ông mong đợi, nó vừa không được công bố tại Liên Xô, vừa đụng phải những phản ứng gay gắt trong giới trí thức cánh tả ở Pháp. Continue reading Tác phẩm nghệ thuật trong kỷ nguyên nhân bản kỹ thuật

Nhảy, hay không nhảy, đó là vấn đề

“Không có nơi nào tạo nhiều cảm hứng nhảy lầu hơn là cái ban công nhà tôi.” Tôi ngồi đây chờ cơn bão tới, cuốn tiểu thuyết thứ hai của nhà văn trẻ Nguyễn Hải Nhật Huy bắt đầu đầy ấn tượng như thế. Tác phẩm thứ 2 của Nguyễn Hải Nhật Huy cho thấy một sự lên tay rõ rệt trong kỹ năng viết, độ sâu của tư tưởng, lẫn cách xây dựng nhân vật và phạm vi câu chuyện. Continue reading Nhảy, hay không nhảy, đó là vấn đề

“Việc viết, bản thân nó đúng là một nghệ thuật”

Nguyễn Hải Nhật Huy sinh năm 1987, viết code dạo từ thuở 16, đến tuổi 30 bèn sở hữu vốn lận lưng là hai cuốn tiểu thuyết Cô gái Hà Nội mập mặc Burqa và Tôi ngồi đây chờ cơn bão tới. Cuốn tiểu thuyết thứ 2 xuất hiện như một tín hiệu đáng mừng cho văn học Việt nửa đầu 2018, nơi cứ tưởng đìu hiu, nhưng lại có vài bất ngờ, nho nhỏ. Zzz Review xin giới thiệu bài phỏng vấn với tác giả trẻ này. Continue reading “Việc viết, bản thân nó đúng là một nghệ thuật”

Cái gì còn tiếp?

Tham vọng thoát khỏi những tiểu thuyết về chiến tranh Đông Dương 1955-1975 xưa cũ của Trọng Khang được thể hiện ngay từ cách đặt nhan đề cho hai cuốn tiểu thuyết của mình. Chính vì vậy, có thể nói Những vọng âm nằm ngủ là một tiểu thuyết xếp vào loại có ít “mùi máu” và “khói súng” so với các tiểu thuyết chung đề tài. Thay vào đó, cuốn tiểu thuyết này tập trung vào những “vi sử” vốn ít được các nhà văn có kinh nghiệm và trải nghiệm về chiến tranh quan tâm hay nhắc tới: thân phận của những công dân Hoa Kỳ tại Việt Nam, cuộc đời của những tình báo nhị trùng dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, kết cục của tình yêu dị chủng Hoa Kỳ-Việt Nam, cuộc sống của những nữ thuyền nhân và trẻ em trong thời kỳ hậu chiến vv. Continue reading Cái gì còn tiếp?