Top 20 văn học dịch 2018

Những năm trước khi chọn Top 10 Văn học dịch nhiều khi tôi phải dùng đến biện pháp châm chước và cử tuyển những cháu vùng xôi vùng xa vào list, dù có một vài cuốn không thật ưng ý. Riêng năm nay tỉ lệ chọi chắc ngang thi vào đại học Bắc Kinh ư?, các siêu sao ùn ùn hiện ra trước mặt thét lớn: Không chọn em thì còn chọn ai? Continue reading Top 20 văn học dịch 2018

Advertisements

Văn học Việt Nam 2018: Dấu ấn, Hay Ấn mãi không ra dấu?

Năm nay làng nhà ta cũng có chút rộn: nào Nguyễn Ngọc Tư đoạt giải thưởng văn học LiBeraturpreis và ra tập truyện mới, nào Tuổi 20 bao năm lưu lạc xứ người của Nguyễn Huy Thiệp giờ áo gấm vinh quy, nào cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ 6 khai quật được một loạt tác giả trẻ viết lạ. Câu hỏi sau rốt khi khép lại cuối năm, lại chỉ giản dị là: thế có cuốn nào hay, cho anh em ta liền tay hốt? Continue reading Văn học Việt Nam 2018: Dấu ấn, Hay Ấn mãi không ra dấu?

Machado de Assis, “Nghệ thuật làm ông lớn” (Đối thoại)

Nhưng lâu lâu ghé vô hiệu sách cũng đáng, miễn là con phải bảo đảm là ai cũng thấy con đi vào đó. Có một cách đơn giản để giải quyết chuyện nan giải này: đi vào hiệu sách chỉ để bàn tán về những tin đồn trong ngày, chuyện nổi bật trong tuần, mấy vụ dâm ô hay xì-căng-đan nào đó, một sao chổi vừa lướt qua, hay bất cứ chuyện gì có thể nói (tất nhiên là trừ phi con thích tới gần các độc giả nghiện đọc các mục uyên bác của Monsieur Mazade trong tờ Revue des Deux Mondes); bảy mươi lăm phần trăm các cư dân đáng kính này sẽ lặp lại với con cùng một ý kiến thôi, và chính sự tẻ nhạt ấy lại hữu ích cực kỳ. Continue reading Machado de Assis, “Nghệ thuật làm ông lớn” (Đối thoại)

Roberto Bolaño, 2666 (trích dịch)

Cô đọc, thích cuốn sách, nên đến thư viện trường tìm thêm sách của tác giả người Đức có tên Ý này, và tìm được hai cuốn: một là cuốn cô đã đọc ở Berlin, và cuốn kia là Ngài Bitzius. Việc đọc cuốn sau thực sự khiến cô lao ra đường. Mưa đang trút xuống khoảnh sân, và bầu trời trong sân trông như vẻ chau mày của một con robot hay một vị thần hình dạng giống chúng ta. Những giọt mưa chênh chếch trượt xuống những lá cỏ trong công viên, nhưng nếu nó có trượt ngược lên thì cũng không có gì khác biệt. Rồi những (giọt) chênh chếch biến thành (giọt) tròn trịa, bị mặt đất bên dưới bãi cỏ nuốt chửng, rồi bãi cỏ và mặt đất dường như trò chuyện với nhau, không, không phải trò chuyện, mà cãi cọ, những từ ngữ không thể hiểu được của chúng như những mạng nhện kết tinh hay những bãi nôn kết tinh lại trong thoáng chốc, tiếng xao xác gần như không nghe được, như thể thay vì chiều hôm đó uống trà, Norton đã uống một cốc peyote[1] bốc hơi nghi ngút. Continue reading Roberto Bolaño, 2666 (trích dịch)

Roberto Bolaño, “Điếm giết người”

“Tôi thấy anh trên tivi, Max ạ, và tôi nghĩ: Đó là anh chàng của tôi. Tôi thấy anh cùng với nhóm của anh. Anh gọi nó là nhóm phải không? Có thể anh nói là băng, là đội, nhưng không. Tôi nghĩ anh gọi là nhóm: nó là một từ đơn giản và anh là một người đơn giản. Các anh đã cởi áo pull ra và các anh để ngực trần, phô bày tấm thân trai trẻ: những cơ ngực những bắp tay mạnh mẽ, mặc dù tất cả các anh đều thích có ngực không lông, vâm váp, hầu hết thế, nhưng thật ra tôi chẳng chú ý tới những bộ ngực hay thân hình khác lắm, chỉ chú ý tới ngực và thân hình của anh thôi, có gì đó ở anh khiến tôi không thể dứt ra, mặt anh, mắt anh đăm đắm nhìn về phía máy quay (dù chắc anh không nhận ra mình đang bị quay và phát hình vào phòng khách nhà chúng tôi), cái nhìn không đáy trong mắt anh, không giống như cái vẻ của chúng bây giờ, khác vô bờ với kiểu rồi chúng sẽ nhìn… Continue reading Roberto Bolaño, “Điếm giết người”

Anh chẳng biết quái gì về tác phẩm của tôi: Đọc Bernhard ở New York

Nhưng tôi ngờ rằng nguyên nhân chính chúng ta đã bắt đầu thích Bernhard theo kiểu khiến dân nói tiếng Đức ngạc nhiên là từ lâu rồi chúng ta đã dần quen với những khoái lạc lớn mà nhà văn Anh Geoff Dyer đã gọi là “thứ văn chương của sự suy nhược thần kinh, lo âu, cáu kỉnh, than phiền.” Continue reading Anh chẳng biết quái gì về tác phẩm của tôi: Đọc Bernhard ở New York

Clarice Lispector, Giờ khắc của vì sao ấy (trích dịch)

Tôi viết vì tôi không có gì khác để làm trên đời này: tôi bị thừa ra trên mảnh đất con người. Tôi viết bởi tôi cùng quẫn và tôi mệt, tôi không thể chịu nổi sự nhàm chán phải làm mình và nếu không phải nhờ có viết, cái luôn luôn mới mẻ ấy, tôi sẽ chết mỗi ngày, ấy là nói biểu tượng thế. Nhưng tôi đã sẵn sàng lẻn đi qua cửa sau. Tôi đã trải nghiệm hồ như tất thảy, kể cả đam mê và sự khốn cùng của đam mê. Giờ tôi chỉ muốn có cái tôi đã có thể là mà chưa bao giờ là. Continue reading Clarice Lispector, Giờ khắc của vì sao ấy (trích dịch)

Juan Rulfo, Pedro Páramo (trích dịch)

Tôi tới làng Comala vì người ta bảo rằng cha tôi, một Pedro Páramo nào đó, đã từng sống ở đây. Chính mẹ tôi bảo vậy. Tôi đã hứa với bà rằng khi nào bà qua đời tôi sẽ tới thăm ông ta. Tôi nắm lấy tay bà trong cử chỉ hàm chứa lời hứa; bởi vì bà yếu lắm rồi, bà sắp tắt thở, còn tôi sẵn sàng hứa làm tất cả. “Con hãy tới thăm ông ta. – Bà khuyên tôi. – Dù con gọi ông ta thế nào đi nữa, ta tin chắc rằng ông sẽ rất vui khi gặp con”. Vậy là tôi không còn cách nào hơn là hứa sẽ làm đúng như điều bà mong muốn. Continue reading Juan Rulfo, Pedro Páramo (trích dịch)

Pedro Páramo : Một cuốn sách đi ra từ im lặng

Rulfo nói ông đã mang theo Pedro Páramo bên trong mình trong nhiều năm trời rồi mới biết phải viết nó thế nào. Đúng hơn, ông viết ra hàng trăm trang để rồi vứt đi – ông từng gọi tiểu thuyết là một bài tập lược bỏ. “Việc viết các truyện ngắn đã rèn giũa cho tôi,” ông nói, “và làm tôi thấy được sự cần thiết của việc biến mất và để cho các nhân vật tự do muốn nói gì thì nói, khiến cho tác phẩm xem ra thì thiếu cấu trúc. Nhưng trong Pedro Páramo có cấu trúc, một cấu trúc đi ra từ im lặng, những manh mối lơ lửng, những cảnh bị cắt đi, nơi mọi thứ diễn ra trong một thời gian đồng thời, tức là phi-thời gian.” Continue reading Pedro Páramo : Một cuốn sách đi ra từ im lặng

Amos Oz, Chuyện kể về tình yêu và bóng tối (trích)

Quả đồi là láng giềng sát vách nhà chúng tôi, một ông láng giềng đồ sộ, ủ ê, khép kín, một quả đồi già buồn rầu với nền nếp sinh hoạt cố định như mọi gã không vợ khác, một quả đồi mùa đông im lìm gà gật, không bao giờ kéo bàn ghế hay đón tiếp khách khứa, không bao giờ gây ồn ào hay làm phiền chúng tôi, nhưng giống như một thứ mùi mốc thoảng nhẹ nhưng dai dẳng, cái im lặng và ẩm ướt lạnh và tối mịt của ông hàng xóm u sầu ấy vẫn ngày đêm rỉ ra qua bức tường.
Khách đến nhà hay nói: nhà này cả giữa đợt gió nóng vẫn thật là thoải mái, mát mẻ dễ chịu, se lạnh là khác, nhưng đến mùa đông thì anh chị làm sao? Tường này không bị thấm ẩm à? Cả nhà không thấy buồn thảm ư? Continue reading Amos Oz, Chuyện kể về tình yêu và bóng tối (trích)