Hoạt động của Zzz Review năm 2022
được sự hỗ trợ của Viện Goethe

Thomas Köck, địa đồ

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Day and Night của M.C. Escher
Thời gian đọc: 51 phút

(Download toàn văn tác phẩm và lời giới thiệu ở đây (PDF, 4MB)

 

 

trong đêm khuya này
tôi ôm vào lòng một tập địa đồ
lần ngón tay của mình lên toàn thế giới
và thì thầm
đâu có nỗi thương đau?
nó trả lời
khắp mọi nơi
khắp mọi nơi
khắp mọi nơi

warsan shire – what they did yesterday afternoon

 *

những người chuyển bến bờ hay chuyển ngữ

một nữ công nhân hiệp định, người xuất hiện trở lại
mẹ của chị, người hồi hương
con gái của chị, trên sân bay
một nam công nhân hiệp định, người phiên dịch

âm nhạc:

tim hecker – in the air I II III
deru – i would like
oneohtrix point never – chrome country
brian mcbride – overture (for other halfs)
grouper – the man who died in his boat

chân thành cảm tạ về những cuộc trò chuyện
về thời gian và các hồi ức
với tất cả các đối tác đã trả lời phỏng vấn
ở leipzig

tôi đã gắng hết sức mình để tái hiện thời gian chính xác

 

 *

 

may mắn cho ai đã cập bến trên những hòn đảo ngục tù
như pulau bidong

may mắn có nghĩa là
sống sót và không bị hải tặc
giết hại hay cưỡng hiếp

may mắn có nghĩa là
cập bến trên một hòn đảo hoang vu với diện tích
một cây số vuông nơi
40.000 người chen chúc

may mắn có nghĩa là
có một chỗ đứng trong địa ngục
một nhà tù nhiệt đới

 

*

 

hắn nói
mày là một thằng mọi fidschi
đẳng cấp hàng đầu

 

*

 

// chúng ta bắt đầu cùng nhau //

 

điều này thật sự có nghĩa gì

rơi khỏi thời gian

rơi khỏi thời gian tại sao không
sẩy chân khỏi thời gian tại sao không
té nhào khỏi thời gian tại sao không
bị lôi xệch khỏi thời gian tại sao không
bị bắt cóc khỏi thời gian
bị tước đoạt thời gian
điều này thật sự có nghĩa gì
rơi khỏi thời gian
mà liệu ở chốn này ai được phép
rơi khỏi thời gian
liệu có thể quay lại với thời gian
nơi ta từng sẩy chân trượt ngã té nhào rơi
hay sẽ đứng ngoài thời gian
vĩnh viễn

vĩnh viễn thực ra
vốn luôn là lời phỉnh dụ
chẳng có thời gian

mà quả thực
chẳng có thời gian
giờ đây đâu nhất thiết là điềm lành

thà rằng
chẳng thuộc vào thời nào
tự do sã cánh như chim trời

liệu ta phải rơi khỏi thời gian
để được giải thoát khỏi thời gian hay
liệu phải sống đúng thời
lưu danh muôn thuở

mà thời gian là gì
khi ta bắt đầu nghĩ về nó

hay thời gian
từng rơi rụng khỏi thế giới là thời gian
chưa hề xảy ra
đơn giản đó là thời gian vô tăm tích
rơi khỏi thời gian
điều đó có nghĩa gì
ai rơi khỏi thời gian của ai
thời gian nào đáng kể hơn
khi ta rơi khỏi thời gian
hay khi ta ngã vào lòng nó

và rốt cuộc bao giờ cũng là lịch sử
sẽ sắp xếp trật tự cho thời gian điều mà
thời gian không tự thân làm nổi
thời gian luôn gây rối và rốt cuộc là lịch sử
phải khắc phục sự rối ren này
mà thật ra ai có quyền quyết định
chọn thời gian nào cho lịch sử nào

thật ra
thật ra
thật ra
thật ra
thật ra

ai là chủ nhân của thời gian
ai là kẻ rốt cuộc sẽ chiếm dụng nó
ai ngày nay thật sự có thời gian

 

*

  

// sân bay quốc tế tân sơn nhất
giữa các nơi chốn giữa các thời //

 

delay
hay là
chênh lệch múi giờ

hay là

nào hãy giơ chéo tay lên
hãy đứng yên trong ba giây cảm ơn
cả chiếc túi ừ hãy lấy
điện thoại thông minh ra khỏi túi
hãy trút sạch đồ trút sạch đồ trút sạch đồ
máy ảnh thì đằng nào cũng phải lấy ra
nào hãy mở túi trong ra vui lòng cởi áo măng tô cảm ơn
cả đồng hồ kính râm găng tay
và chất lỏng xin vui lòng bỏ ra sự sợ hãi
đã làm biến dạng châu lục này
thành nông nỗi hôm nay ngoài ra cả đôi giày
cả đôi ủng làm ơn cởi ra đi đó cũng là nỗi sợ
phải đánh mất những gì vốn có
giày cao gót thì không
giày cao gót cứ để nguyên giày cao gót thì okay
chỉ đôi ủng thôi làm ơn dạng chân mở túi dang tay ra
nhân viên an ninh chỉ làm công việc của mình
mọi người ở đây đều nói vậy
tôi chỉ làm công việc của tôi thôi người ta sống làm việc và
đổi ca tại trục giao thông quốc tế nào
người phía sau hãy làm ơn bước lên
hãy bước qua đúng vậy dang tay ra đứng im một hai ba
cảm ơn còn một trắc nghiệm nhỏ nữa
chúng tôi phải tiến hành
kiểm tra chất nổ
với chiếc chổi này
đúng vậy xin vui lòng mở khóa ba lô
để cán chổi thọc vào tự do muôn năm
chỉ là một biện pháp thông thường thôi mà tự do muôn năm
chỉ là một biện pháp thông thường vâng tôi chỉ
làm công việc của mình
nào ai biết sẽ có điều gì xảy ra
nếu không kiểm tra kỹ lưỡng bất cứ ai
đều có thể là một mối hiểm nguy tự do muôn năm
nếu tháo dỡ mọi bề mặt
cái duy nhất còn lại chỉ là nguy cơ khủng bố
liệu anh có biết sẽ sót lại những gì từ con người
nếu ta quy nó về một mối
chỉ còn là một mối đe dọa xin làm ơn đứng yên cảm ơn
à mà đằng sau kia
là cửa hàng mỹ phẩm douglas với toàn hàng hạ giá
xin vui lòng giơ tay lên cảm ơn xin làm ơn
cởi dây thắt lưng cảm ơn kìa anh hãy xem các tủ kính
chất đầy đồ lưu niệm những mặt tiền lắp kính trong suốt
mở toang bao khát vọng đường băng trải dài kiệt sức
những đôi cánh què ắc quy sắp hết điện
quá tải sinh trống trải nước hoa
đồ lót hamburger starbucks và
đâu đó giữa chúng luôn ngất ngưởng
mọc lên một tháp sô cô la toblerone vâng
anh hãy tiến lại đây xin vui lòng
tháo dây thắt lưng còn áo khoác và
áo len xin đặt vào thùng
và bây giờ xin hãy dang tay ra cảm ơn
rồi người ta sẽ quen với mọi thể loại sô cô la toblerone
đến một lúc nào đó người ta cũng sẽ quen hết mọi thứ
kể cả chủ nghĩa đế quốc thụy sỹ

tôi dán mắt vào chiếc điện thoại thông minh tình hình
vẫn chưa hề được cải thiện màn hình đen kịt
nhìn tôi nó chẳng hề nhắn nhủ
một điều gì tôi

đứng trước bức tam liên họa với những
người phu đội mũ sắt khiêng quan tài những
cái miệng há hốc những tiếng thét vang dội lớp lớp người

delay ngoài ra nào có gì xảy ra màn hình
báo delay ngoài ra nào có gì xảy ra

nơi đó có trưng bày
chùm tranh này về
chủ đề công xã paris tôi

chằm chặp nhìn người sỹ quan cửa khẩu ông ta
chằm chặp nhìn tôi mà ai
chằm chặp nhìn ai ở chốn này
nếu ta chằm chặp nhìn một sỹ quan cửa khẩu đủ lâu
thì ta cũng sẽ biến thành một sỹ quan cửa khẩu
ông ta kiểm tra giấy tờ của tôi rồi lại nhìn tôi đóng dấu
nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí

nơi đó trưng bày chùm tranh này như
một toàn cảnh lịch sử khổng lồ tôi

nhìn thấy con thuyền
giữa bóng đêm
gọi là thuyền thì có chút cường điệu
con thuyền có hai mái chèo thuyền đóng bằng gỗ
mà gọi là gỗ thì cũng cường điệu nốt
thuyền đang trôi ừ cứ cho là vậy
nó đang trôi vâng

tôi cứ tự hỏi
nếu lịch sử có một lô gích thì
hẳn ta đâu cần kể đi kể lại nhiều lần về nó cho nhau

tôi chằm chặp nhìn người sỹ quan cửa khẩu ông ta
nói rằng may là
anh đã trong quân ngũ tôi
nói may là
quân đội của chúng tôi đã chiến thắng chúng ta

thường lãng quên
rằng lịch sử
sẽ đi về đâu
lịch sử thực sự sẽ đi về đâu
chúng ta vẫn thường lãng quên tôi

thấy con thuyền nhưng
không thấy mặt nước tôi chỉ
nghe tiếng nước tối tăm mù mịt
tôi hình dung trong mù mịt tối tăm
tôi nói to ý nghĩ thành lời để tự trấn an
trong bóng tối mịt mù tôi

nghĩ nếu
không có sự lãng quên hẳn sẽ
không có lịch sử tôi

nhẩm đếm hết lượt những người mặc com lê ngồi nơi đây có thể
sau đó tôi sẽ chìm vào giấc ngủ tôi

chẳng xoay người bởi
phỏng có ích gì sóng
đánh vào mạn thuyền tôi

nghĩ ồ thật nhảm nhí bởi
lãng quên nên chúng ta
phải làm lại mọi thứ từ đầu

khi con thuyền rời bến
tất cả đều lặng câm

dưới bức tranh có ghi
nếu lịch sử có một ý nghĩa
thì hẳn ta sẽ biết nó đi về đâu còn giờ đây
chỉ có lưỡi lê quân kỳ bức hình toàn cảnh
dài năm mét của trận đánh

sau cơn bức xúc sau những túi xách bị lật tung
sau cơn hỗn loạn
là lặng im

tôi thầm nghĩ rằng chuột cống
biết cách tránh độc dược nhưng
lại không thể truyền bá
vốn kinh nghiệm này tôi

chằm chằm nhìn vào màn hình chỉ
một lỗi máy tính duy nhất mà
tất cả đều bị đơ delay màn hình nói delay
tại trục giao thông quốc tế delay tôi
chằm chằm nhìn vào màn hình tôi

chẳng thêm một lần nhìn xuống mặt nước tôi
chẳng còn nhìn vào bờ tôi
chẳng còn nhìn bức tranh những con đường sương mù dâng lên
tôi chẳng còn nhìn vào ngôi nhà lắp ghép đối diện tôi
chẳng nhìn ra cửa sổ tôi
chẳng còn nhìn qua lớp cửa kính ở trục giao thông
quốc tế tôi
chẳng nhìn thêm một lần nữa ra ngoài

 

*

 

// leipzig cuối thập niên 80
anh ấy dịch //

 

nào

tất cả hãy đứng lên xếp hàng lần lượt
từng người tôi sẽ điểm qua các quy tắc
để mọi người cùng thấm nhuần à mà để giới thiệu ngắn gọn
tôi là người phụ trách còn đây là
ông lê phiên dịch của chúng ta

tôi đã nói

các đồng chí thân mến xin nhiệt liệt
chào mừng các đồng chí
đã rời xa quê hương và cất công tới đây
trên cơ sở hiệp định chính phủ
về hợp tác và hữu nghị
để xúc tiến chủ nghĩa quốc tế
và tinh thần xã hội chủ nghĩa

tôi đã nói

chúng tôi thật vui mừng rằng
có rất nhiều đồng chí
từ đất nước nước anh em xa xôi
một dân tộc từng chiến thắng quân xâm lược mỹ
nhưng không tránh khỏi những tổn thất nặng nề

tôi đã nói

tới đây với chúng tôi

tôi không nói vậy

đã đến với chúng tôi

tôi không nói vậy tôi
đã nói

thật tuyệt vời là nay chúng ta có dịp làm quen nhau

này mà anh có dịch lại như vậy cho họ không

vâng

vậy là các đồng chí
hãy cứ tự nhiên như ở nhà tại
các nhà tập thể
do nhà nước anh em hào phóng mới xây lên
với một phần vốn đầu tư nhằm xúc tiến
công cuộc quốc tế hóa lực lượng sản xuất các đồng chí
sẽ được chia thành hai ca một ca sớm
một ca chiều điều quan trọng là phải tuân thủ nội quy
nhà ở nằm liền kề xí nghiệp
để đường đi từ giường ngủ đến xưởng máy chẳng quá xa nhà lắp
ghép mới xây đương nhiên đạt tiêu chuẩn cao nhất tiến bộ
thể hiện ở mọi nơi mọi chốn ngoài ra như đã nói
ba phòng cho bốn người hãy giữ đoàn kết
trong không gian chung này từ
hai mươi hai giờ đêm không được tiếp người lạ
trong nhà tập thể nếu cần gì
thì cứ hỏi phiên dịch cứ mỗi tầng
hay tối thiểu mỗi nhà chúng tôi sẽ cố gắng
sắp xếp một phiên dịch như đã nói mỗi căn hộ
rộng ba mươi mét vuông với
tiêu chuẩn chất lượng xã hội chủ nghĩa cao nhất
dành cho bốn người
điều này có nghĩa rằng mỗi đồng chí
sẽ có gần năm mét vuông ở vị trí tiện lợi nhất
liền kề xưởng máy xin vui lòng thường xuyên
xuất trình thẻ mỗi khi ra vào hãy
đăng ký nếu có khách đến thăm
chửa đẻ tôi lưu ý thêm ngoài lề là lý do
để chấm dứt hợp đồng và bị đuổi về nước
cũng hệt vậy nếu xảy ra ốm đau thương tật
hoặc các trường hợp bị giảm sút sức sản xuất khác
tạm thời chỉ nhắc vậy
còn trong các căn hộ
chỉ xin điểm qua bởi nói về điều này
tôi thường xuyên bị lẫn lộn cứ mỗi người
được phát bốn chiếc khăn hai chiếc màu sáng hai chiếc màu sẫm
một chiếc tách một đĩa lót một cái cốc
hai cái đĩa một đĩa nông một đĩa sâu ngoài ra mỗi phòng
có một gạt tàn thuốc lá

tôi cũng không nói vậy tôi
đã nói

hãy liệu chừng đừng để sau
hai mươi hai giờ
tôi bắt gặp các đồng chí đang may quần bò trong khu tập thể
ngoài ra tôi còn muốn nói
có hai nhà tập thể với các nữ đồng chí
ngay ở phía cuối đường
tôi còn muốn nói
rằng chó sủa và những đồng chí
chỉ biết đọc từ các tờ giấy viết sẵn
là những kẻ
chỉ biết sủa mà không biết cắn

vâng tôi nghĩ
là chúng ta đã nói đủ
mọi điều cần nói hay
liệu anh có nói hết

liệu anh có dịch trọn mọi lời tôi nói

sao họ lại cười phá lên như vậy

tôi nào biết

ừ tâm trạng sảng khoái là bà đỡ của tiến bộ xã hội

 

*

 

// leipzig cuối thập niên 80
chị ấy hạ cánh //

 

sau khi tới nơi chúng tôi có
một thời gian thích nghi
bốn đến mười hai tuần
huấn luyện phương pháp làm việc cơ bản
hai đến ba tháng học tiếng
để hiểu các yêu cầu trong
công việc sản xuất hằng ngày sau đó
làm việc theo ca ở theo tầng
ngủ cũng theo ca thời gian tâm sự
nào có chúng tôi được chấp nhận tạm trú
trong một quãng thời gian hạn định
vì mục tiêu tiến bộ và tinh thần xây dựng
nếu xí nghiệp hài lòng thì sẽ có cơ hội
gia hạn nếu ốm đau thì sẽ bị trục xuất chúng tôi
được phân công làm việc bên các máy móc đã cũ rích mặc dù vậy
khi đến nơi vẫn có đủ cờ quạt và kèn trống đón chào
ít nhất một lần có mặt các phóng viên nhiếp ảnh
để tuyên truyền về hợp tác giữa các nước anh em tôi
cùng với khoảng một trăm người khác
hạ cánh vào một buổi sáng đầy mây và sương mù
lúc tỉnh giấc chỉ thấy mây máy bay rung bần bật mấy người cười tôi nhìn ra cửa sổ và ngóng chờ có những giọt nước
trườn ngang bậu cửa sau đó xuất hiện một hay hai chiếc ô tô
chúng tôi đi qua một cánh đồng một thành phố một
hàng rào chắn đâu đấy trong sương mù tất cả
đều có nguyện vọng đi đức ai
mà lại muốn sang bun hay sang ru khi
biết đích đến là đức tôi đã quyết
ở lại tôi
sẽ ở lại đây
tôi đã nói vậy

 

*

 

// tại trục giao thông quốc tế
có một kỷ niệm trôi ra từ băng chuyền //

 

tôi do dự hồi lâu lên
hay không lên lên hay không
lên lên hay không lên sau đó
con thuyền cuối cùng rời bến và tôi
đã trở thành thuyền nhân

 

*

 

// anh ấy hồi tưởng //

 

tất nhiên phải đến một nước giàu anh em ai
mà lại muốn sang hung tôi
có một người quen trên sở chúng tôi
từng là đồng đội trong quân ngũ từng
có mặt trên chiến khu từng
cùng nhau tiến quân về sài gòn anh ấy
lo vụ này cho tôi
tôi chẳng còn bao giờ gặp lại anh
anh mỉm cười khi trao cho tôi tờ xác nhận

hai ngày sau tôi ra đi tôi muốn
khám phá thế giới
để rồi cột chân ở nhà máy này

 

*

 

// sân bay quốc tế tân sơn nhất
có một người con gái giữa các thời giữa các nơi chốn
một giọng nói xưa không muốn bị đánh thức //

 

delay

đã từ mười tiếng delay bởi
một núi lửa phun đầy tro
lên không trung khiến
toàn bộ hệ thống giao thông hàng không quốc tế
bị tê liệt trong hàng tiếng đồng hồ mà có thể
cả trong nhiều ngày nữa

delay

chẳng ai biết ai hay một điều gì
mỗi lần đến quầy thông tin
là một lần thất vọng cho cả hai bên hiện tại
chúng tôi không thể giúp được gì cho quý ông quý bà vâng
xin cảm ơn trên màn hình chẳng có tin gì mới chỉ là
một màu đen bóng
tôi cập nhật thông tin cứ hai phút một lần
tuyệt chẳng có gì
mới mẻ theo mạng xã hội
thế giới đang mấp mé
bên bờ vực thẳm
dòng tít nọ đuổi theo dòng tít kia các biến cố
diễn ra đồng thời mọi giác quan
tê dại bất an đè nặng có ai đó từ chức bao vụ tai tiếng
lên đồng loạn trí hoang mang chất chồng
thật đáng ngạc nhiên rằng
thế giới này vẫn còn vẹn nguyên
có một chương trình truyền hình trực tiếp về nơi sâu nhất
của trái đất chưa bao giờ con người
xuống tới độ sâu này tôi mải xem trong mười phút
những trái tim bay qua màn hình một
con cá chằm chằm nhìn vào bóng tối sau đó
tôi cuộn chuột xuống thấp hơn và tiếp tục lướt qua
những gì đang xảy ra
mỗi xác chết trên đỉnh everest
vốn đều là một cá thể cực kỳ năng động
một thông điệp cho biết vậy tôi tiếp tục cuộn chuột
sau đó đặt hai cốc cappuccino
trong khu vực quá cảnh quốc tế
giữa các cuộc họp khẩn cấp tại sảnh chờ gần tiệm
mcdonalds có ai đó đang tìm cách
thực thi một phi vụ lớn của đời mình chẳng
một ai hạ cánh trong những ngày này
có một ý nghĩ thật lạ lùng
rằng bầu trời hoàn toàn trống rỗng
chỉ có tro bay trong khí quyển
khắp nơi chỉ có tro bay trong túi xách
là tấm hình với dòng địa chỉ
sau khi hạ cánh
trên đường phố sài gòn cơ man khách du lịch còi xe inh ỏi
những đường phố không tên chỗ nào
cũng là xe máy trời ơi
sao mọi thứ lại phải y chang như
hình dung của ta về chúng
ngày hôm sau tìm đến địa chỉ
với tấm hình trong tay

chúng ta có quen nhau không nhỉ

thưa không

tôi có thể giúp cô được gì

tôi tìm một người đàn bà
sống tại đây

vì sao

cứ cho là tôi làm việc
cho một tờ báo đức và
đang điều tra về lịch sử pulau

tiếc là trong việc này tôi chẳng giúp được gì cho cô

phiền bà chờ cho một lát tên
bà ấy có nêu trong một danh sách

tên của tôi

tên một người đàn bà sống tại địa chỉ này
vâng trong danh sách ghi vậy

danh sách nào

bà ấy được di tản bằng máy bay sang tây đức
thành phố bonn nếu tôi không nhầm

đó là sân bay xấu xí nhất trên toàn thế giới

bà biết nó ư

danh sách nào

người đàn bà này thuộc danh sách
những người tỵ nạn được phân theo hạn ngạch
từ pulau bidong

rồi sao nữa

tuy nhiên về sau
bà ấy đã không sống lâu ở đức

nghe cũng dễ cảm tình đấy nhỉ

và cách đây nhiều năm bà ấy đã hồi hương về nước

danh sách nào

danh sách của những người sống sót từ pulau bidong nhưng
thực ra tôi phải trao đổi về việc này với người đàn bà ấy

tôi đâu có biết bà ta

xin chờ một lát có thể
trên tấm hình này chăng

từ đâu
cô có tấm hình này

liệu bà có biết người này

tấm hình này cô có được từ đâu

từ một kho lưu trữ liệu bà
có biết người đàn bà này

tôi biết tấm hình này cô lấy nó từ đâu

tôi chỉ có thể trao đổi về việc này với người trong ảnh liệu bà
có thể giúp tôi tìm được người đàn bà này

không rất tiếc
tôi đâu biết bà ta đang ở đâu

nhưng người ta đã chỉ cho tôi đúng địa chỉ này

đúng đây là địa chỉ của bà ấy vâng
bà ấy từng sống ở đây
cho đến hai ba năm trước

liệu bà có biết hiện bà ấy đang ở đâu

tôi chịu thôi

bà có biết bà ấy đi về đâu liệu có còn người thân thích

tôi chịu thôi

bà có biết một thông tin nào khác

một cách nhã nhặn người đàn bà khép cửa lại theo
thông báo qua loa phóng thanh mọi máy bay phải đậu
bốn mươi tám tiếng
trên mặt đất cũng theo thông báo qua loa
đâu đó có một chiếc va li vô chủ cần phải dọn đi ngay
lại có thông báo về một hành khách bị thất lạc tại sao
tôi tự hỏi tại sao sau đó
có người đứng dậy tiến tới hướng cửa sổ với tầm nhìn toàn cảnh
trên các đường băng máy bay đậu kín
tro núi lửa
chẳng hề còn dấu vết

 

*

 

// leipzig cuối thập niên 80
chị kể và anh hồi tưởng
chúng tôi đã gặp nhau như vậy đó //

 

lúc đó anh ngồi trong phòng chờ
với tờ công văn này trong tay

chiểu theo công văn đó
nội dung sau đây được truyền đạt cho chúng ta

rằng hợp tác giữa các nước anh em là cốt lõi của
công cuộc quốc tế hóa rằng hợp tác giữa các nước anh em
sẽ mở ra những viễn cảnh mới của chủ nghĩa xã hội rằng
hợp tác giữa các nước anh em
giúp nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau rằng
hợp tác giữa các nước anh em nhằm chống chủ nghĩa đế quốc
rằng con đường chung của các nước anh em
và cộng đồng các nước anh em rằng sự gắn bó
giữa các nước anh em rằng
tôi đã đọc đã nghe đã gật đầu cho qua
làm như thể mình có can hệ đến nước anh em
và chỉ nghĩ làm sao thoát khỏi nơi đây
luôn luôn ta phải chấp nhận lịch sử
lịch sử lưu truyền trên mảnh đất ta sinh
làm sao ta có thể chọn lịch sử
khi đặt chân đến đây tôi có cảm giác từ nay
sẽ có thể viết lại lịch sử nhưng sau đó
là các đợt khám sức khỏe đầu tiên các kỳ sát hạch
đầu tiên những lần cấm cửa đầu tiên những
lệnh cấm đi ra ngoài đầu tiên những
cái nhìn lạ lùng đầu tiên trên
đường phố con đường chung
của các nhà nước anh em đó ư quả là
một trò hề và cứ mỗi thứ tư đầu tiên trong tháng
lại có kiểm tra sức khỏe định kỳ bởi
con đường chung của các nước anh em
cũng chỉ là cuộc đấu tranh sinh tồn của những kẻ mạnh nhất bởi
hợp tác giữa các nước anh em
cần những cơ thể sung sức
người phiên dịch chào tôi nữ bác sỹ
đánh vần tên tôi người
phiên dịch nói

xin lỗi tôi
vừa kịp xoay người lại thật ra hôm nay
theo kế hoạch
có một nữ phiên dịch trực ban ở đây nhưng
cô ta đang ốm vâng
xin lỗi

tôi cười nói cảm ơn nữ bác sỹ
hỏi một điều gì đó

người phiên dịch dịch với một phong thái chuyên nghiệp
ánh mắt hướng lên trần nhà nơi có
chiếc quạt trần lặng lẽ quay dưới các tấm ghép thạch cao
mà chẳng hay những tấm ghép thạch cao này treo trên đó
từ bao giờ người phiên dịch tự hỏi
trong khi chuyển ngữ từng câu từng câu
các câu hỏi của bác sỹ chuyên khoa
về tình trạng của tôi từ khi đặt chân lên đất nước anh em

tốt ạ cảm ơn
tôi nói mà trong khi
máy bay hạ cánh có cơn mưa nhìn
từ trên xuống thì đất nước này
trông buồn tẻ như xứ sở những kẻ thua cuộc
mà tôi lại thích những kẻ thua cuộc

người phiên dịch dịch lại nói chung là
cô ấy cảm thấy rất mạnh khỏe và
vui mừng được đến nơi đây

nữ bác sỹ lắng nghe ghi chép tỏ vẻ thông hiểu bà
chỉ tay ra hiệu về hướng chiếc giường tôi
ngồi lên đó rồi nữ bác sỹ
khám cho tôi liệu cô
có thai không có đau đớn gì không có nhớ nhà không
liệu cô có cảm thấy trong người dễ chịu

dạ thưa tôi không rõ tôi
nghĩ là không người
phiên dịch vẫn với ánh mắt dõi lên
trần nhà nhắc lại những gì nữ bác sỹ nói
ngoài ra anh ấy hỏi thêm

em từ đâu đến

em đã ở đây từ bao giờ

em đang sống ở đâu

em làm việc nơi nào

à mà tại sao
ta chưa một lần gặp mặt

tôi bật cười

nữ bác sỹ hỏi có chuyện gì thế nhỉ

người phiên dịch ngay lập tức
nói một điều gì đó khá dài dòng anh
trình bày rất cặn kẽ nữ
bác sỹ nghiêm nghị gật đầu và
khám tiếp

đừng cười nhé
tên em là gì anh hỏi

thanh tôi trả lời nữ bác sỹ
bắt mạch rồi hỏi
liệu công việc có nặng nhọc cô
ăn uống ra sao

em căm thù công việc nhưng mà
anh đừng nói với bà ta điều ấy ở
nhà tập thể người ta hút thuốc vào buổi tối
ở trong phòng khét lẹt bởi thiết bị hút mùi không hoạt động ngoài ra em không thể nào ngủ được bởi
hai chị cùng phòng cứ đau lên ốm xuống
nhưng mà anh đừng nói với bà ta điều ấy anh cứ nói
rằng ở đây em ngủ rất sâu và có nhiều giấc mơ tuyệt đẹp

anh sẽ nói với bà ấy rằng em muốn được làm việc nhiều hơn

đừng

nữ bác sỹ ghi các thông tin về huyết áp
mạch đập tuổi chiều cao tâm trạng người
phiên dịch nói một điều gì đó với bà nữ bác sỹ
bối rối nhìn tôi
tôi lắc đầu bà quay đi dường không hiểu tôi lại
lắc đầu anh nói thêm một điều gì đó
nữ bác sỹ lại chép chép ghi ghi và tiếp tục khám cho tôi

anh tên gì
tôi hỏi anh sau đó

liệu điều đó có gì quan trọng

anh nói và dịch lại
lời nữ bác sỹ
em hoàn toàn khỏe mạnh
rồi sau đó anh hỏi
liệu bao giờ ta sẽ gặp lại nhau

 

*

 

// tại trục giao thông quốc tế một giọng nói xưa
bàn chân biến mất trong nước //

 

mẹ không nhìn xuống sâu nơi
bàn chân con chìm dần trong nước mẹ
không xoay người về hướng những tiếng thét
vang lên quanh ta trên mặt nước không
kịp nghĩ về những gì đang trôi phía dưới ta đang
dập dềnh quanh ta mẹ nhìn thấy
một lọn tóc trên cổ con mẹ tìm
ánh mắt của con đang dõi theo hướng
các tiếng thét mẹ đã tìm ánh mắt của con
để cố níu giữ ánh mắt ấy mẹ đã nói con ơi
đừng có nhìn xuống sâu đừng chìa tay xuống nước đừng
nhìn sang một bên hãy nhìn đây
nhìn về hướng mẹ hãy nhìn đây
hãy nhìn về hướng mẹ hãy nhìn đây

 

*

 

// leipzig những năm cuối thập kỷ 80
chị hồi tưởng và anh cũng nhớ lại
những hình ảnh kể về các kỷ niệm của chúng mình //

 

em còn nhớ rằng
anh đứng trước những bức tranh này

chùm tranh về công xã paris

và ở ngoài kia trên sân nhà thờ
họ lại tụ tập tranh luận họ muốn
tái thống nhất đất nước họ muốn
lại là một dân tộc trên đường trở về
ta thường đi qua những đoàn người im lặng
họ đứng dõi theo em

chùm tranh về công xã paris về
hình thái chính trị rốt cuộc đã tìm thấy

và anh đã đọc cho em nghe

về hình thái chính trị rốt cuộc đã tìm thấy

ở ngoài kia trên sân nhà thờ
họ đứng im và đợi chờ dưới cơn mưa
có mấy người còn tranh luận và
anh tiếp tục đọc

về hình thái chính trị rốt cuộc đã tìm thấy

chùm tranh về hình thái chính trị rốt cuộc đã tìm thấy
qua đó có thể thực hiện công cuộc giải phóng lao động
khỏi ách ràng buộc kinh tế

anh đã đọc cho em nghe còn em
thì muốn té xỉu

các bức tranh của tôi ở kia
người họa sỹ nói
đâu phải là các bức tranh về lịch sử
chúng là những bức tranh
nói về thời hiện tại
với sự trợ giúp của lịch sử


người gác viện bảo tàng dõi theo ta
trong suốt cả thời gian bởi thực ra
ta đâu có quyền hiện diện ở nơi đây

nhưng mà ông ta lại cũng bị phân tâm
bởi đám đông ngoài kia tất cả họ
đều bị quá tải từ mùa hè và trước mắt ta
là chùm tranh
về công xã paris khắp nơi
ngập tràn tiếng thét ngập tràn xác chết một
tam liên họa về chiến trận mà trên đó
thời gian đè lên nhau
như thây các tử sỹ một
tấn bi kịch trên lưỡi lê tuốt trần
có ai khắc lên đó hai chữ tự do một
tấn bi kịch một
tam liên họa về chiến trận với
trọng tâm là bi kịch của
công xã paris về tính bất tử của nó
cho dù thảm bại mà nói cho cùng
chỉ các hồn ma
là có thể
chiến thắng được thời gian

và có lẽ thời gian
là một vấn đề rất đặc thù trong tiếng đức

anh đã nói vậy

bởi người đức
luôn phải chia thì động từ
mà thời gian thì có bao giờ đúng

anh đã nói vậy

thời gian luôn phải tái thương lượng trong
tiếng việt ngữ cảnh của các từ quyết định về thì
người đức không bao giờ thoát được vấn nạn thời gian
bởi họ thích đóng khung
thời gian bằng ngữ pháp của mình
có đúng vậy không nhỉ

sau đó anh lặng im
nhìn em trong thoáng chốc
trên tranh là một cụ già với
lưỡi lê tuốt trần và
một người đàn bà trần truồng choàng khăn ở phía sau
có một diễn giả béo húp híp rít lên đâu đấy
ở hậu cảnh bên lề tranh là
một cây thập giá thời gian có bao giờ đúng cho dù
các hình ảnh có xác quyết những gì
chúng muốn rốt cuộc thì đó
cũng chỉ là những xác quyết
của thời gian và những thời đại kế theo
sẽ hồi tưởng
với sự trợ giúp của những hình ảnh ngụy tạo này
về các quá khứ chưa từng diễn ra như vậy mà kể cả
nếu chúng từng diễn ra một cách khác
thì điều đó cũng chẳng mảy may có ý nghĩa gì
đối với các lớp hậu sinh
người ta đón nhận thời gian
như chúng đã được bày dọn sẵn mà
tại sao gã khốn này
cứ giương mắt nhìn theo ta mãi nhỉ

vì vậy mà họ phân biệt giữa đúng và sai
dự tính cái này không trù liệu cái kia
cho phép điều này chẳng cho phép điều kia tất cả
chỉ là một vấn đề ngữ pháp người đức quan liêu
hệt như ngữ pháp của họ

anh đã nói vậy

rồi anh lại
đọc tiếp và em
muốn té xỉu

bởi chúng ta đâu nằm trong dự kiến của họ

nhưng mà chúng ta đang ở đây liệu họ
có thể làm được gì em muốn nói phỏng có nghĩa lý gì bởi
câu chuyện dông dài về hợp tác giữa các nước anh em
xét cho cùng cũng chỉ có nguyên do kinh tế

vâng còn nguyên do nào nữa

vâng còn nguyên do nào nữa mà vì sao
người ta lại kể rằng chúng ta
phấn đấu vì mục tiêu tiến bộ xã hội rằng
chúng ta không được đi ra ngoài rằng
chúng ta cần tránh các tụ điểm công cộng rằng
chúng ta cần tránh quan hệ với các nữ đồng chí
cứ như hợp tác giữa các nước anh em là mục tiêu tối thượng
bất cứ nơi nào có nhà nước nhúng tay vào
nơi ấy con người chẳng là cái quái gì mặc kệ
các áp phích tuyên truyền mặc kệ
các văn kiện rốt cuộc thì tất cả
cũng chỉ là các vấn đề kinh tế tất cả
rốt cuộc cũng chỉ là các vấn đề kinh tế
cả công xã paris chết tiệt cũng là
một vấn đề kinh tế
việt nam là một vấn đề kinh tế
bi kịch một vấn đề kinh tế
tam liên họa về chiến trận một vấn đề kinh tế
tất cả những gì liên quan đến thời gian
một vấn đề kinh tế
đám đông ngoài kia trên sân nhà thờ
một vấn đề kinh tế

vâng dĩ nhiên toàn bộ
cuộc sống là kinh tế kinh tế là
rủi ro cuộc sống là rủi ro

và em chỉ muốn té xỉu

người gác viện bảo tàng giờ tiến lại gần ta

em cứ nghĩ nếu gã
tới sát hơn chút nữa em sẽ nôn thốc ngay trước mặt gã
đơn giản là em đã có bầu còn anh
thì hoàn toàn rối trí

không đâu có gì anh chỉ không biết
ta phải làm gì bây giờ phải làm sao bây giờ anh nghĩ
tất cả đều biết
điều này có nghĩa gì

người gác viện bảo tàng cứ trân trân nhìn ta và
phía ngoài kia trong cơn mưa lúc đầu
chỉ có ít người theo như người ta nói về sau
ngày một nhiều hơn

 

*

 

// sân bay quốc tế tân sơn nhất
một người con gái lại có mặt giữa các nơi chốn
một giọng nói xưa không còn muốn trở về pulau bidong
giữa các thời //

 

delay

tình trạng hỗn loạn vẫn kéo dài vì núi lửa làm sao
một ngọn núi lửa duy nhất lại có thể
thổi nhiều tro đến thế lên bầu trời
màn hình tiếp tục lặng thinh về
việc giao thông đình chỉ toàn thế giới
giờ đây lặng thinh

tôi dạo qua
khu quá cảnh nơi tự cho
mọi việc đã trở lại bình thường thật kỳ cục rằng
các cửa hàng miễn thuế đều mở cửa cứ như
mọi thứ vẫn bình an vô sự tại sao
họ lại mở tại sao họ không đóng rõ ràng
xác suất toàn bộ hệ thống hàng không quốc tế sụp đổ
lớn hơn so với việc vào buổi ban mai
mấy cửa hàng miễn thuế chết tiệt không mở cửa
sô cô la toblerone vẫn cần phải bán vậy là
ngày tận thế không diễn ra
bởi một cú nổ mà bằng tro bụi và tắc nghẽn

ngày hôm sau lại tới đó lại gõ cửa lại đợi chờ

lại là cô đó ư

xin bà vui lòng

tôi nào biết bà ấy ở đâu

thưa bà tôi chẳng hề đòi hỏi điều gì

cô hãy cho tôi xem tấm hình lần nữa

vâng

mời cô hãy vào đây

bà mở cửa cầm tấm hình chỉ
nơi treo áo rồi đi vào bếp cô
muốn gì ở tôi

bà đã từng đến pulau

có thể nhưng vì sao
cô lại quan tâm đến nó

bởi tôi đang viết về hòn đảo này

cô từng đến đó chưa

không lúc đầu
tôi chỉ muốn thu thập tài liệu rồi sau đó

cô từ đâu đến

từ đức như
tôi đã kể

không tôi muốn nói trước đây

từ đông đức mà thưa bà
tại sao bà lại nói tiếng đức

đó là sân bay xấu xí nhất trên toàn thế giới
mà cô có biết
họ đã nói gì không
khi chúng tôi hạ cánh xin nhiệt liệt
chào mừng các bạn
đã đến với tự do
sau đó chúng tôi nhận phòng tiền tiêu vặt
và ba tuần sau đó
người ta đã quên bẵng
sự hiện diện của chúng tôi

tại sao bà muốn có tấm hình

ba tuần sau đó
người ta đã quên pulau

tại sao bà muốn có tấm hình

ba tuần sau đó người ta
tẩy xóa những con số nạn nhân ngày một gia tăng
thông qua các tấm hình của chúng tôi người sống sót
không hỏi vì sao
mà chỉ hỏi ai đã không qua khỏi

tại sao bà muốn có tấm hình

vậy còn cô cô đang nghĩ gì

bà có nhận ra một điều gì trên đó

ai mà lại không
đây là một tấm hình bất cứ ai
cũng có thể nhận ra một điều gì trên đó
tôi không biết số phận về sau
của người đàn bà mà cô đang tìm kiếm

nhưng bà có biết bà ấy

cô đã nói chuyện với ai khác
về pulau

thưa chưa

tôi không ở lâu tại đó mà
cô muốn biết điều gì nơi đó
xú khí bốc mùi ngày và đêm người chen chúc người cô
còn muốn biết điều gì
liệu bà có thể
đi cùng tôi tới đảo về
pulau bidong

 

*

 

// tôi muốn hiểu thời gian
tôi muốn trải thời gian
tôi muốn nhìn thời gian từ mọi phía //

 

sẽ xảy ra điều gì
nếu thời gian thực sự không tồn tại
mà chỉ có
lịch sử và
lịch sử kiến tạo nên thời gian

sẽ xảy ra điều gì nếu
mọi thời gian tự thân biến mất
nếu thời gian không hề diễn ra nếu
chỉ có thể tìm lại thời gian
qua lịch sử

sẽ xảy ra điều gì nếu
thời gian tự thân đánh mất lịch sử
vô phương hướng chòng chành không nơi chốn

sẽ xảy ra điều gì nếu mọi thời gian tự thân
đạt tới ngưỡng đau đớn tột cùng của tự do nếu
thời gian tự thân là thuộc tính của một nền tự do khác
nền tự do mà ta chẳng bao giờ hiểu bởi thời của chúng ta
chỉ có vậy và lịch sử của chúng ta hữu hạn

mà nếu vậy cũng chẳng thôi đau đớn

song le đau đớn đâu phải là một khả năng mà
là sự bất khả là ý thức rằng
ta chỉ có thể là một phần
của lịch sử rằng
ta không thể
tự do lựa chọn thời gian

mà nếu vậy cũng chẳng thôi đau đớn

rằng tất cả đều lụi tàn trừ
thời gian nó
đứng yên ở mọi thời
ít nhất là đằng sau các câu chuyện kể
mà ta khoác lên thời gian để có thể
chịu đựng được nó bởi nếu thời gian
trần trụi trước ta nếu thời gian
chỉ hiện diện trong toàn bộ sự tĩnh lặng của nó trong
tất cả tính phi lịch sử của nó nếu vậy thì có lẽ
sẽ còn nhiều đớn đau hơn so với việc ta
kể một câu chuyện về nó về
sự thờ ơ trần trụi của thời gian

 

*

 

// leipzig cuối thập kỷ 80
khi cuộc sống lặng lẽ tắt vào ban đêm //

 

có một người bị đưa về nước bởi
chị ấy bị gãy tay còn sự thể
rằng thực ra có một nam đồng nghiệp
không muốn việc chị ấy có thai với mình bị vỡ lở
sự thể này rốt cuộc gần như bị chìm xuồng
sau đó ở việt nam chị đã chết một mình

hoặc là

có một người
đã đi đến tận cùng giới hạn chị ấy
muốn ở lại ngày hôm sau
chị vươn mình đứng dậy
như vừa được tái sinh
và được phép ở tiếp hai năm mà sau đó thì đằng nào
chị cũng bị đưa về nước

hoặc là

có một người bị đưa về nước sau khi
chị bị nhiễm trùng máu
do sử dụng một chiếc mắc áo
đồ mắc dịch này trước đấy nằm chỏng chơ đâu đó trong phòng
nó bị mắc kẹt trong khi được rút ra
có nghĩa là mọi chuyện thực ra đã qua
vậy mà đáng tiếc nó lại bị mắc kẹt
và chị đã chết sau một chuyến bay dài
delay
tại bệnh viện đôi chân chị
run lẩy bẩy trước giờ phẫu thuật
khi bác sỹ tháo mặt nạ dưỡng khí
thì bệnh nhân đã nằm bất động

hoặc là

có một người
chỉ đứng cạnh để hỗ trợ
khi theo dõi chị ấy nào đâu biết
phải làm gì
với sợi dây sắt
biết làm gì
với sợi dây sắt này
biết luồn nó sâu bao nhiêu
liệu phải xiết chặt thêm hay
cần nới lỏng tay cầm biết
làm như thế nào cho đúng và
trên tường treo một tấm áp phích chị
dán mắt vào đó để giảm bớt căng thẳng
và từ nhiều tuần nhiều tháng
cố tình làm ngơ cơn co giật trên cánh tay

hoặc là

có một người bị đưa về nước vì chị ấy
ốm lên ốm xuống việc điều trị
ở nước anh em quá đắt đỏ thật phiền hà cho nhà nước anh em
có một chuyến bay dài với giá cả phải chăng được bố trí
những ngày còn lại của chị
thật đẹp và ngắn ngủi

hoặc là

có một người bị đưa về nước chị ấy
không muốn đụng vào chiếc mắc áo chị ấy
đã ngồi sẵn trên giường
một chị cùng phòng đỡ chị một người khác
đã cầm sẵn chiếc mắc áo
nhưng sau đó chị đứng dậy rồi
lập tức bị đưa lên máy bay bị trục xuất
bởi nhà nước anh em
còn sau đó xảy ra chuyện gì thì nào ai hay biết
dấu vết chị mất hút
từ khi vào sân bay

còn tôi
thì đã quyết tâm ở lại

 

*

 

// leipzig cuối thập kỷ 80 chị đợi chờ trong căn nhà lắp ghép
anh đi trong sương mù
và anh sẽ hát cho em nghe khi ngoài kia họ thét gào //

 

từ cửa sổ
nhìn ra thấy
sương mù trườn trên đường phố thấy
nước sôi trào lên bếp ấm trà
đã ngấm thấy
người đi ra ngoài
rời căn nhà lắp ghép đêm đến họ lại quay về thấy
sự bất an đang trùm lên thành phố
chẳng dễ gì nhận ra khi người ta luôn ù tai
vì những chuyện bao đồng
có những kẻ đầu tiên lại nói
về nhân dân về thống nhất về
kết thúc về khởi đầu và
về nhân dân
tôi chỉ hy vọng rằng chúng tôi sẽ có thêm
hai ba
bốn
năm
tuần ẩn nấp ở đây
không bị ai để ý

rằng em còn có thêm hai ba
bốn
năm
tuần nữa trong căn phòng của anh

có thể
là chúng ta gặp may bởi
vào thời gian gần đây
họ quá bận rộn với chính mình đến nỗi
dường như không còn để ý đến chúng ta
có lẽ họ quá bận rộn với chính mình
hơn là quan tâm đến chúng ta có lẽ
chúng ta đã gặp may

chó chạy lũ lượt trong đêm
tiếng sủa xói vào tận trong phòng những
chuỗi người bị chọc thủng những lớp người
đòi thống nhất đất nước cũng vì vậy
mà họ tạm thời
không còn quan tâm đến chúng ta
bộ máy quan liêu rối loạn
chúng ta chỉ còn là
điều tồi tệ nhỏ nhất trong những điều tồi tệ tôi
chui lủi trong phòng
nấu nước và chờ đợi

bên máy móc rốt cuộc ngày càng thiếu người làm
dân chúng quay trở về những canh giờ
giữa khu tập thể và nhà máy trở nên bất an
người ta điều tra xét hỏi nghi vấn tôi
nhiều lần bị thẩm vấn căn vặn những
cặp mắt theo dõi khắp nơi vào
mấy tuần cuối ở các phân xưởng
người ta lại nói về nhân dân
tôi được giải thích rằng
người ta mong muốn
lại là một dân tộc và
thống nhất quốc gia còn
việc tôi chẳng thể hiểu nổi điều này thì cũng đã rõ
bắc nam tây đông thế giới
chỉ có thể hình dung trong sự cắt chia

từ cửa sổ nhìn ra thấy tình hình
ngày một bất an hơn ngày càng có nhiều
tiếng xầm xì hơn người ta bắt đầu
đi ra ngoài đường phố dần
đông hơn các đàn chó ngày càng hung hãn
những chuỗi người ngày càng dài thêm
sân nhà thờ không còn đủ chỗ

họ
giải thích cho tôi rằng họ mong muốn
lại là một dân tộc và
việc thống nhất quốc gia
rốt cuộc phải được thực thi họ
giải thích cho tôi
rằng đây là một nguyện vọng cấp bách rằng
những viễn cảnh rực rỡ
đang chực sẵn sẽ hiện về
xua tan vẻ ảm đạm trên sân nhà thờ trong cơn mưa

và tôi đã hy vọng điều đó sẽ diễn ra
bởi nếu nó diễn ra
có thể chúng tôi cứ thế mà ở lại

từ cửa sổ nhìn ra thấy
những con phố lúc đầu lặng dần rồi
mỗi lúc một đông hơn tôi cứ nghĩ
họ đâu có quan tâm gì
vì đây chỉ là một đứa bé
giờ đây họ đang có những vấn đề hoàn toàn khác họ
đang đánh mất cả một nhà nước à mà đâu phải
họ hiện đang xóa bỏ cả một nhà nước tôi chợt nhớ từng đã có
một thứ như công xã paris một
tam liên họa về chiến trận mà ở đó
các nhà nước chồng lấn lên nhau họ
tống khứ nhà nước đơn giản
là họ loại bỏ nó

cả những viễn cảnh rực rỡ
từng một lần được hứa hẹn chúng chắc chắn sẽ đến
ai ai đều tin vậy những hoa trái này
sẽ vươn cao lên trời xanh
những viễn cảnh rực rỡ
đã vẽ sẵn
trên các tấm áp phích mọi thứ
sẽ bừng nở ai nấy đều đinh ninh và sau mùa thu
sẽ có mùa xuân đến ai nấy
đều đinh ninh
về một mùa xuân chung của dân tộc và
tôi chưa một lần tự hỏi
họ đang nói về ai về
mùa xuân dân tộc nào ai
sẽ là người vào một ngày đẹp trời
sẽ được phép dạo qua
những viễn cảnh rực rỡ này và
họ thét lên
chúng ta
và họ kêu gọi
chúng ta
và họ nhân danh
chúng ta
đêm đêm tuần hành trên đường
chúng ta
vâng giá chúng tôi cũng là một phần của chúng ta này
vậy là những người nhân danh chúng ta này
không ngừng lên tiếng
ngoài kia trên đường phố
đêm đêm trên các quảng trường
liệu những người nhân danh chúng ta này
có lúc nào lấy lại được bình tâm
họ vâng tức là chúng ta
đã bị gạt ra quá lâu khỏi lịch sử chúng ta
đã nhìn thấy tự do
ở phía bên kia giới tuyến chúng ta
giờ cũng muốn tự do
bán tống bán tháo chúng ta
giờ cũng muốn được coi
là người trưởng thành và rốt cuộc
được phép mở miệng
nói những gì mình nghĩ ngay cả khi
chúng chẳng vừa tai ai đó
chúng ta
đã bị áp bức quá lâu vâng họ thét lên
chúng ta
và họ kêu gọi
chúng ta
và họ nhân danh
chúng ta
vâng chúng ta rốt cuộc muốn được cởi trói
ở phía bên kia trên các siêu thị
tương lai đang vẫy gọi một thời đại mới
đang vẫy gọi một thời đại mới sẽ bỏ qua những thời sống
bất lực nổi trôi một
tương lai mà chúng ta cần có ngay
lúc này chúng ta
muốn trở lại là chính mình là chúng ta
chứ chẳng phải là ai khác và
chúng tôi
không biết họ thực sự nói về ai
khi họ nhân danh chúng ta
nhưng mà họ thì biết
họ nghĩ về ai
khi nói chúng ta
kể cả đàn chó
đến một lúc nào đó cũng chẳng còn hay biết
chúng phải tấn công ai trong chúng ta
bởi chúng cũng là một phần trong đó
chúng ta
họ đã thét lên và họ đã nhân danh
chúng ta
và với tư cách
chúng ta
họ diễu hành đi qua phía dưới cửa sổ
trên đường phố còn
tôi
thì chỉ hy vọng rằng
chúng tôi
không quá gây chú ý rằng
chúng tôi
giờ đã trở thành bộ ba chúng tôi sẽ
không quá gây chú ý rằng bằng một cách nào đó
chúng tôi có thể nhập cuộc
với những người nhân danh chúng ta ngoài kia vào dòng người
đang rảo bước tiến tới những viễn cảnh rực rỡ
mà họ từng được hứa hẹn

 

*

 

// sân bay quốc tế tân sơn nhất một người con gái
trở về pulau bidong một giọng nói xưa chỉ còn muốn lặng thinh
cơn bão vn còn //

 

delay

vẫn chưa có tin gì mới mọi người vẫn phải
dừng chân ở sảnh chờ này nơi mà chỗ nào
cũng y chang như nhau trên toàn thế giới
bầu không khí vô trùng như trong bệnh viện này
thậm chí có thể trấn an đôi chút
tại sân bay sài gòn va li dựng
sát va li bên cạnh đó là
những đôi mắt đắm sâu
vào màn hình điện thoại trong khi
thời gian đang lướt qua
giữa chừng có thông báo rằng tất cả các chuyến bay
đều vẫn đang bị hoãn liệu
họ còn chờ gì nữa cứ như
sẽ còn điều gì xảy ra ở đây giữa
các giá kê hàng giữa
những cuốn sách cẩm nang tư vấn sách du lịch hãy
cho phép mình thư giãn tí chút giữa tất cả những thứ này
đặt tấm thân nhễ nhại mồ hôi lên va li
áo quần com lê nhễ nhại mồ hôi và đợi chờ
thời gian chết có thể
điều không tưởng chân chính duy nhất
còn sót lại
là thời gian đợi chờ

delay

nơi trước đó là chỗ chứa hàng hóa
giờ là nơi con người
đang trực tiếp khai thác
giá trị thặng dư từ thời gian chết
và cập nhật trạng thái
tự do của tôi
chỉ còn là một trích dẫn cho đám đông một khi
cả sự nhàm chán cũng có khả năng cạnh tranh
chúng tôi muốn họ nói vậy khi tuyển dụng rằng
quý vị phải trung thành với chính bản thân
kể cả khi điều này có nghĩa rằng
chúng tôi phải sa thải quý vị mà việc này
trước sau cũng xảy ra ai cũng có thể
bị tống khứ nếu niềm đam mê chẳng còn
ai cũng phải ra đi bởi
cái gọi là bản ngã chân chính
đâu đủ sức thuyết phục ai cũng có thể sa chân
vào thời gian chết thời gian chờ đợi
cho đến khi có thể tìm lại chỗ đứng
trong phân loại sản phẩm của tâm hồn thật khốn nạn
còn bao lần ta phải nhắc lại điều này
dù đã biết rõ mười mươi mọi chuyện từ lâu
nhưng vẫn phải phụ họa
như đã muôn lần phụ họa

delay

tôi cuộn chuột các tấm hình
trước giờ máy bay khởi hành
bố còn đứng trong cửa hàng
giữa các tấm rèm khăn trải bàn
chẳng còn ma nào thèm mua

tôi cuộn chuột tiếp máy bay hạ cánh sân bay quốc tế sài gòn
người chen người trên sân bay
họ hoàn toàn xa lạ với tôi những con đường
dửng dưng khách sạn cũng dửng dưng
địa chỉ trên bản đồ
địa chỉ của bà
cánh cửa nhà bà trên con thuyền bên cạnh tôi

tôi kín đáo quan sát gương mặt bà gắng
tìm một nét thân thuộc tôi hỏi liệu bà
có biết người đàn bà tôi đang tìm kiếm
không bà trả lời bà không biết
điều gì đã xảy ra với người đàn bà này sau đó
vậy là thế nào điều gì đã xảy ra
với người đàn bà này số phận của bà ấy
về sau ra sao tôi ngắm kỹ gương mặt bà
để tìm một nét thân thuộc số phận
của bà ấy về sau ra sao điều gì đã xảy ra
rồi cũng đến lúc bà bắt đầu câu chuyện kể

khi tiến quân vào thành phố họ nói
tất cả đồng bào có thể ở lại họ nói
giang sơn giờ đây đã thu về một mối họ nói
đất nước không còn bị cắt chia họ nói
ta lại về ta những đứa con người mỹ đã rút chạy
từ nhiều tuần trước khỏi sài gòn bỏ lại phía sau
một thành phố hoang mang chúng tôi
lại đón chào những người lính diễu hành trên đường phố
lần này là những người lính của quân đội nhân dân trong khi
những con thuyền đầu tiên bắt đầu rời thành phố
họ nói đồng bào không có gì phải sợ một tuần sau đó
bắt đầu các trận bố ráp xét hỏi buộc tội bắt đầu
những câu chuyện xì xầm
về việc tái thống nhất mà không ai bị loại trừ
không ai bị gạt ra rìa
hay về việc phải trút bỏ cái cũ để tạo bản sắc mới
bởi cái mới được hợp nhất phải khác xưa
đằng nào cũng phải dọn dẹp tống khứ
kìa mà cô hãy cẩn thận
khi đi ra bờ cát ở đây mềm lắm
hãy coi chừng rất dễ bị lún chân

bà nhìn xuống nước tôi
hỏi lần nào là lần cuối
bà từng có mặt nơi đây

tôi chưa bao giờ rời khỏi chốn này

bà đứng dậy
thận trọng
nhìn tôi chạm tay
xuống mặt nước trên bờ có một con chim hải âu
đang xẻ xác một con cá

tôi chưa bao giờ rời khỏi chốn này
những con thuyền đầu tiên cập bờ vào đầu tháng năm khu trại
được xây cho bốn nghìn hay có thể
là năm nghìn người trên những con thuyền đầu tiên
có khoảng hai ba chục người họ nghĩ
mình sẽ chỉ tạm dừng chân vài ba tuần ở đây
trong tháng tám có thêm trăm người
ba tháng sau đó
đã là mười nghìn người

con chim hải âu chằm chặp nhìn chúng tôi nghiêng
đầu vỗ cánh và lại chúi mỏ xuống xác cá
mà tại sao số người vượt biên lại tăng lên cho dù
chiến tranh đã kết thúc

không lâu sau ngày hòa bình lập lại
các gia đình bị chia rẽ để dễ bề
kiểm soát tiếp theo đó
là giấy mời đi tập trung cải tạo
các đối tượng có thời gian ba ngày
để đăng ký đến một trong
những trại cải tạo này người ta kể về
các vụ hành hình lao động cưỡng bức tẩy não mà đó
là những điều còn có thể nói nếu
có một ai từ trại cải tạo trở về
kẻ đó sẽ lặng im và
lặp lại các câu khẩu hiệu với ánh mắt
thẫn thờ hướng về phía trước về
một tương lai hứa hẹn
nếu một ai còn có ngày về

chúng tôi đi dọc bờ đảo qua
một khu rừng phía sau đó là
các ghềnh đá chỉ có tiếng sóng vỗ ngoài ra
tuyệt nhiên chẳng còn gì trên mặt đất
hầu như chẳng lưu dấu vết bà nói tiếp

cô chẳng thể nào
hình dung
dạo đó
ở chốn này ra sao

tôi đã xem các tấm hình

các tấm hình

về những lán trại ở đây
bên bờ biển

các tấm hình

về những con thuyền
cập bờ nơi đây

mọi người tin rằng các tấm hình
luôn lưu giữ một điều gì đó nhưng thực ra
chúng chỉ chồng lấp lên quá khứ

nhưng mà qua những tấm hình
người ta mới biết được
có điều gì
đã xảy ra

những tấm hình tẩy xóa ký ức sự thật
nằm trong câu chuyện kể
đâu phải trong các ảnh hình

xin bà hãy kể tiếp

rốt cuộc thì ta cũng chỉ
tạo dựng cho mình một hình ảnh
dựa vào các hình ảnh
ta chỉ thấy
điều mà mình muốn thấy
tấm hình mà cô chỉ cho tôi liệu cô
có thể thấy gì trên đó mà tại sao cô lại chỉ nó
cho tôi

tại sao không

cô có nó từ đâu

nếu không thể nhận ra điều gì
tại sao bà lại quan tâm đến nó

đó là một tấm hình đẹp chẳng
còn lý do nào khác nó
gợi cho tôi nhớ
về hòn đảo này

vì sao

bà mỉm cười

người ta đồn rằng chẳng mấy chốc máy bay trực thăng sẽ tới và
chúng tôi sẽ được giải cứu vậy là
chúng tôi đã đợi chờ hàng ngày trời chúng tôi
thay phiên nhau đứng canh trên bờ
để dõi theo những người sống sót có những người
dạt vào lúc đêm khuya và chúng tôi ghi lại
danh tính của những người có mặt trên thuyền sau đó
chúng tôi thét to
tên họ qua khu trại cho đến lúc
có ai đó gục ngã vì
nhận ra tên một thân nhân

thưa bà đã có mặt ở đây bao lâu

cho tới khi máy bay trực thăng xuất hiện

và sau đó bà đã được giải cứu

được giải cứu ư không trước hết là
các nhà báo được chở đến họ chằm chằm nhìn
chúng tôi ở trong khu trại
như những kẻ mọi rợ

hẳn bà đã kể cho họ
về các tình trạng ở đây ra sao

và họ đã khai thác triệt để
những tình trạng này họ đã chọn
mấy trăm người trong chúng tôi đã minh họa
sự khốn cùng của chúng tôi với nhiều hình ảnh đóng cứng
nỗi tuyệt vọng của chúng tôi họ
đã giải cứu chúng tôi và sau đó
chứng kiến niềm hạnh phúc mới của chúng tôi
ở thế giới mới trong khi tại đây
tiếp tục có những con thuyền đắm
trong khi một vết viêm nhỏ có thể dẫn tới tử vong
nguồn dự trữ nước uống bị cạn
chúng tôi được máy bay bốc đi và cùng với chúng tôi
gánh nặng trách nhiệm cũng được bốc đi
thoát khỏi hòn đảo này chúng tôi được phép ra đi
để phần còn lại ở đây hay nơi nào khác
có thể chết trong lặng lẽ

người ta chỉ quan tâm đến chúng tôi
với tư cách một thiểu số chủ nghĩa nhân đạo
chỉ có thể gánh đỡ một nhóm nhỏ
đại diện cho những người được cứu vớt nhưng chúng tôi
những kẻ được chụp ảnh trên những tấm hình này
chúng tôi đâu phải là đại diện cho những người
được cứu vớt trên tất cả những tấm hình này
chúng tôi chỉ đại diện cho những kẻ bị bỏ rơi
chúng tôi được phép ra đi để phục vụ cho cuộc chiến tranh hình ảnh
chúng tôi chỉ là những diễn viên quần chúng chỉ là
các phông cảnh không bao giờ họ nói vậy
không bao giờ còn được phép
để cho người tị nạn chết đuối họ viết vậy
dưới các tấm hình và phương tây từ nay
sẽ đứng về phía những nạn nhân chết đuối
trên đường trốn chạy
hình ảnh phương tây
hằn lên trên tất cả
những gương mặt này
không bao giờ nữa
họ đã tuyên bố vậy ở trong trại
có một người đàn ông
bị chết vì nhiễm trùng máu
gia đình anh ta thờ ơ ngắm
những con ruồi đậu trên
mi mắt người quá cố và
không bao giờ nữa họ tuyên bố vậy chỉ một phần rất nhỏ
trong số người này được chở đi
trước sự chứng kiến của bao ống kính
và sau đó các hình ảnh này đã đi vào lịch sử
và sau đó người ta đã có được những hình ảnh
về sự cứu rỗi

dẫu sao họ cũng đã tìm cách để giúp đỡ cho tất cả mọi người

đó chỉ là lời nói

người ta nói
làm sao có thể giúp hết được mọi người

tất nhiên là không thể cô hãy lại đây họ đang nằm kia
những kẻ xấu số chẳng còn ai có thể giúp

bà dẫn tôi đi qua rừng
lên một ngọn đồi trên đó có một
túp lều phía dưới kia là bờ biển nơi
có mấy con chim hải âu đang tranh dành một con cá

tại chỗ này trước đây
là các lán trại cô có nhìn thấy không

không

tất nhiên là không chẳng còn dấu vết gì
lưu lại vậy là tôi còn phải kể về điều gì tại sao
phải trở lại câu chuyện này đã quá đủ
rằng tôi không thể quên những hình ảnh đó
từ dưới con thuyền tôi nhìn thấy ánh sáng
trong các lán trại trong lúc tôi
gào thét trong lúc tôi
giãy dụa tìm kiếm vâng đây là
chỗ của các lán trại xưa kia đây là
nơi tôi từng đứng chờ hàng ngày hàng tuần hàng tháng trời
trong lúc các con thuyền dạt vào bờ theo nhịp điệu từng giờ
trong lúc hết chiếc nọ đến chiếc kia bị đắm
những con thuyền hoàn toàn quá tải
và tôi bất động trân trân nhìn ra biển
nơi lần cuối
tôi nhìn thấy con gái mình

tôi không muốn làm cho bà
bị rối trí tôi lặng thinh và ngắm nhìn
những con chim hải âu

người ta sẽ chẳng bao giờ
thoát khỏi những hình ảnh này
liệu cô thực sự biết gì từ
những hình ảnh đó những
hình ảnh đã từ lâu đi vào lịch sử
và được tận dụng tối đa
bởi những kẻ muốn chiếm dụng lịch sử
nỗi kinh hoàng những con thuyền
đầy ứ người bị đắm ở nơi đây các nhà báo
tường thuật về những con thuyền ma
trôi dạt phía trước đảo liệu họ
có thực sự chứng kiến
những con thuyền này đang dạt tới liệu họ có nhìn thấy
những cơ thể nằm sấp trong nước sâu đến đầu gối
liệu những hình ảnh này có ích gì
liệu chúng đã bao giờ
tác động được gì chưa

mặc dù vậy sau đó tôi vẫn hỏi
bà đang kể về người con gái nào

 

*

 

// tại trục giao thông quốc tế
những hồi ức như trong một cuốn phim quay chậm

tất cả những người này họ đến từ đâu //

 

ở chdc đức
tôi hầu như không bắt gặp
chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
bởi bộ máy tuyên truyền
vận hành hoàn hảo
nhưng sau thời kỳ bước ngoặt
lũ quỷ dữ
đã lộ bộ mặt thật của chúng

phần lớn đồng nghiệp
trở về nước còn chúng tôi thuộc về đâu
ai là người có trách nhiệm với chúng tôi hàng năm trời
chúng tôi bị bỏ rơi
bắt buộc phải
xuống đường kiếm sống

và chúng tôi đã có mặt ở đó
đã chờ đợi chúng tôi
đã có mặt ở đó và chờ đợi chúng tôi
đã có mặt ở đó và chờ đợi chờ đợi gì
điều này có nghĩa gì
rơi khỏi khỏi thời gian điều này
có nghĩa gì trở lại thời gian điều này
có nghĩa gì rơi bật khỏi
thời gian rơi về đâu

 

*

 

// leipzig sau thời kỳ bước ngoặt
chào mừng bạn đã đến với hiện tại
chúng tôi rơi khỏi thời gian //

 

nhưng từ chúng ta này nhưng
từ chúng ta này
từ chúng ta này
đâu có chỗ cho chúng tôi trong đó

những người đầu tiên bị trục xuất
được bốc đi bằng máy bay được mang đi cho khuất mắt chúng tôi
yêu cầu quý vị rời khởi đất nước này một quốc gia
không còn tồn tại
ở xứ sở này từ nay sẽ có một hệ thống mới vận hành
mà trong đó đơn giản
là không có chỗ cho quý vị mà trong đó
quý vị đơn giản là không hiện diện

nơi trước kia từng là nước anh em
giờ chỉ còn là lũ mọi fidschis

nơi ngày trước là những
ngôi nhà lắp ghép giờ là địa chỉ của các nhà đầu tư

bởi có ai đó phải làm gì với những
ngôi nhà lắp ghép này vâng

vâng một ai đó phải làm gì với chúng

với những ngôi nhà lắp ghép này người ta
còn có thể làm được gì với chúng ai
còn muốn lấy được gì từ đó ngoài mấy
khách sạn hay một thứ gì nào ai có biết

vào một buổi tối trên đường về nhà
thấy cánh cổng phía dưới mở toang
thấy phòng của chúng tôi đã dọn trống trơ
chúng tôi chẳng còn một thứ giấy tờ nào
chúng tôi bị đặt ngoài vòng pháp luật
chúng tôi trắng tay trong những năm đầu
giường của chúng tôi bay vèo trong không trung

các vật dụng của chúng tôi bay vèo trong không trung
và tôi đứng ở dưới nhìn lên cảnh căn hộ của mình
bay vèo trong không trung

và chúng tôi biết sống giờ đây là rủi ro

và tôi nghĩ chí ít là để con gái của tôi
không phải lâm vào cảnh của tôi ngày ấy
để không phải là tôi
để không phải như tôi
ngày ấy

vậy là chúng tôi đã lẩn trốn

lúc đầu về hướng tỉnh halle
nơi đó chúng tôi có người quen

sống là rủi ro

celle chemnitz khắp nơi đều có
những ốc đảo

và trên đường phố chúng tôi bắt gặp những ánh mắt khinh thị
trên đường phố bỗng nhiên chúng tôi là những kẻ bị loại trừ

và trong ba năm đầu
con đã không tồn tại

ở những chốn xó xỉnh nào đó
với tiền đồ tối đen như mực
tiện thể nói thêm rằng ngày nay
người ta chẳng còn được phép sử dụng cách diễn đạt này

trong lúc ngoài kia
những người xưng danh chúng ta đã tập hợp lại
họ nói chúng ta tái thống nhất họ nói
rốt cuộc là chúng ta đã về lại trong một nhà

con sinh ra vào buổi lạc thời
giữa quá khứ và hiện tại
giữa hôm qua và hôm nay
giữa tương lai và lịch sử

giữa chừng chúng tôi sống ở nhà người quen
đêm đêm chơi bài và
hồi tưởng

họ yêu cầu chúng tôi hồi hương
dù chốn ấy là đâu

họ mời chào một món tiền bồi thường
nhưng trở về thì nào ai muốn

chẳng còn ai nhắc đến
nước anh em thay vào đó
người ta chỉ nói về
nền kinh tế thị trường thay vào đó
người ta chỉ nói về
những viễn cảnh rực rỡ thay vào đó
người ta chỉ nói về
thời đại mới
nơi ở đó những người xưng danh chúng ta
rốt cuộc lại có được những đường biên rõ ràng
họ tung hô thời đại mới
những người xưng danh chúng ta đó
họ tung hô chính mình

và bố mẹ đón mừng
ngày sinh nhật đầu tiên của con một cách

vụng trộm bởi lẽ con
đâu có quyền hiện diện
vụng trộm bởi lẽ con
không hề có một lịch sử
vụng trộm bởi lẽ con
thậm chí còn chưa được
đặt tên

biết đi về đâu thôi thì
thà rằng cứ bán rèm cửa cứ bán
khăn trải bàn

và rồi con đón lần sinh nhật thứ hai dần dà
trời đà rạng sáng dần dà
bố mẹ được phép nhận một căn hộ riêng bởi chẳng một ai
còn màng tới căn hộ đó bỗng nhiên
bố mẹ lại được sủng ái bởi sức mua
không biết tới quốc tịch

và rồi con đón lần sinh nhật thứ ba

thực ra đó là sinh nhật đầu tiên của con

bố mẹ sống trong rủi ro bố mẹ
sống ngoài lề xã hội bởi lẽ bố mẹ
đâu tồn tại nơi đây trong câu chuyện kể
hậu chấn tâm lý trong thiên
tình sử của cả một dân tộc giờ đây rốt cuộc
đang muốn trở lại chính mình bố mẹ
bán thuốc lá và
khai giả ngày sinh của con xóa đi
ba năm của con xóa đi tên của con
xóa đi lịch sử của con xóa đi
quá khứ của con xóa đi
cả thời gian này để con
có một tương lai

 

*

 

// pulau bidong một giọng nói xưa hồi tưởng lại
tôi không muốn nói nữa //

 

mẹ bước lên thuyền gần như vào phút chót mấy lần
ngoái lại mỗi lúc một nhiều người hơn
chen chúc leo lên họ cãi lộn nhau
trên bến cảng cả những con thuyền khác
cũng đều quá tải cả những con thuyền khác
cũng đều quá tải cả những con thuyền khác
cũng đều quá tải và con
đã quẫy đạp trong nước dâng lên từ đáy thuyền và
mỗi lúc một nhiều người
chen chúc leo lên kể cả khi động cơ đã nổ
họ bảo vẫn còn chỗ
đường đến phú mỹ cách đây có bao xa
từ đó trở đi chỉ còn có vài cây số và con đứng
dầm chân trong nước khắp nơi trong thuyền
nước dâng cao đến đầu gối con đứng
giữa nước đang dâng trong lòng thuyền trong lúc
thành phố đang nhỏ dần phía sau lưng ta thành phố
chẳng còn thuộc về một ai
hãy nhìn đây mẹ đã nói vậy con hãy
nhìn đây và nước dâng cao dần hãy nhìn đây
sài gòn thành phố được giải phóng giờ đây
là trại cưỡng bức quốc kỳ thay thế quốc kỳ
người thay người cả những con thuyền khác
cũng đều quá tải và con
đứng trong thuyền nước dâng dần quanh người trong khi
thành phố biến mất sau ta trong khi
con thuyền bắt đầu chìm nghiêng hãy
nhìn đây mẹ đã nói hãy nhìn đây hãy
nhìn đây trong lúc tất cả
chuyển sang mạn thuyền khác trong lúc
thuyền trưởng hấp tấp bẻ lái trong lúc
thành phố biến mất và trên thuyền
nước dâng cao đến đầu gối hãy nhìn đây
mẹ đã nói hãy nhìn đây trong khi
những va li đầu tiên bị ném qua mạn thuyền
khi những tiếng thét đầu tiên nín lặng hãy nhìn đây khi
những người đầu tiên nhảy khỏi mạn thuyền con thuyền
chìm nghiêng dần như trong những
thước phim quay chậm và con đã nhìn về đây
và mẹ đã không còn nghe những tiếng thét khi
nước ập vào mẹ không còn nghe
tiếng còi báo động khi
nước ập vào mẹ
đã đi tìm ánh mắt con để
níu giữ lại ánh mắt đó khi
nước ập vào và con
đã nhìn về hướng mẹ ngay từ dạo đó
xác người đã dập dềnh trên biển

và ngay từ dạo đó xác người
đã chụm vào nhau trong nước từ dạo đó
những tiếng kêu cứu đã vang lên trong cay đắng từ dạo đó
những tiếng kêu đã nhanh chóng lặng câm nước
đã ngập vào vòm miệng những cánh tay
bơi sải ngược chiều nước tóc
xõa cùng nhịp điệu xuống dòng sâu ai
khi sống không được đếm xỉa kẻ đó
đâu còn hiện diện khi đã chết ai
khi sống không được đếm xỉa kẻ đó
đâu còn hiện diện khi đã chết ai
khi sống không được đếm xỉa kẻ đó
đâu còn hiện diện khi đã chết và
liệu có ai là kẻ được đếm xỉa ai
là kẻ được đếm xỉa ai còn được đếm xỉa dù bằng cách nào

ngay từ dạo đó
người chết chỉ còn được đếm mà không được đếm xỉa

những con số thờ ơ
bên các tấm hình

ngay từ dạo đó
những con số đã khiến thế giới
trở thành vô cảm cho dù thế giới bày tỏ sự choáng váng
và bó tay trước nhịp điệu của dòng chảy ngay từ dạo đó
các con số đã chẳng còn được đếm xỉa ai
mà lại đếm có bao nhiêu mét từ mũi đến lòng thuyền ai
mà lại đếm số lượng của các ngón tay trôi trong nước
và con đã nhìn về phía mẹ khi
con thuyền nghiêng về một phía rồi con rơi khỏi mạn thuyền
mẹ không nghe tiếng thét mẹ
nhảy theo sau con mẹ không nghe tiếng còi tàu báo động
mẹ lặn theo sau con mẹ
tìm bàn tay con nhưng có biết bao nhiêu
bàn tay mẹ nín thở lặn sâu hơn như có thể
sâu đến tận đáy như có thể
sâu đến tận đáy và túm lấy tất cả các bàn tay bởi
một bàn tay trong đó hẳn phải là bàn tay con hãy nhìn đây
tất cả những bàn tay này một bàn tay trong đó
hẳn phải là của con một bàn tay trong đó hẳn là
bàn tay con một bàn tay phải là của con kìa hãy nhìn đây hãy
nhìn đây tất cả những bàn tay này
phần lớn đã lạnh ngắt con đã biến vô tăm tích
hãy nhìn đây mẹ thét to
hãy nhìn về đây và mẹ đếm có bao nhiêu mét
từ mũi đến lòng thuyền mẹ đếm có bao nhiêu mét
từ mũi đến lòng thuyền từng ngón tay từng
bàn tay và có ai đếm
những bàn tay này ai
đếm chúng mẹ nín thở và đếm tiếp có bao nhiêu mét
từ mũi đến lòng thuyền nhưng sau đó con thuyền
bị lật sau đó chúng ta rơi xuống biển sau đó
con đã biến vô tăm tích giữa muôn trùng sóng
những bàn tay này ai đếm chúng ai đếm
có nhiêu bàn tay trong khoảng cách từ con đến mẹ
từ bàn tay con đến bàn tay mẹ phần lớn đã lạnh ngắt
giữa tất cả những bàn tay này ai
mà còn đếm chúng ai
đếm những bàn tay này
hãy nhìn đây
hãy nhìn về phía mẹ hãy nhìn đây

 

*

 

// pulau bidong người con gái lại xuất hiện
từ đáy nước và kể nốt câu chuyện
mà giọng nói xưa không thể nào biết đến
trong khi người con gái khác ghi lại //

 

có ai đó chìa bàn tay nắm lấy tay con và kéo lên khỏi mặt nước

miệng con đầy nước có ai đó
kéo con lên miệng con đầy nước có ai đó
kéo con lên con chỉ nghe
các tiếng thét con
chỉ nghe tiếng còi báo động chiếc ba lô
là thứ duy nhất còn sót lại với
tấm hình này trong đó giữa các lớp áo quần và
việc đầu tiên là họ mang con trở lại
bến cảng nền đất mà con đứng trên đó ướt sũng bởi
mái tóc con vẫn không ngừng nhỏ nước nền đất
vẫn tiếp tục ướt khi
họ hỏi tên con và con
đếm các giọt nước và
khai tên mình đúng như mẹ vẫn gọi như
mẹ đã gọi con rồi con hỏi họ
mẹ của tôi đâu tóc của con
vẫn ướt sũng nước tiếp tục nhỏ xuống nền đất giày đã
chìm dưới biển lời nối theo lời ngờ vực con run rẩy mẹ
của tôi ở đâu họ không trả lời họ phó mặc con
với các khả năng khác nhau con
tìm cách lần theo chúng qua bao
năm tháng qua mọi khả năng khác nhau cho đến khi
buộc phải chấp nhận
rằng con thuyền đã lật nước trào dâng
bàn tay trượt và con
đếm những tích tắc trôi qua dưới lòng sâu
con mở mắt những chiếc va li những bàn tay và những chiếc giày
dạt trôi quanh con và
một con thuyền chổng ngược con kể cho họ
về hình dáng ngôi nhà ta ở về
nơi ta từng sống về
ráng trời chiều nơi đó nhưng
nào ai có biết phải mang con về đâu con nổi lên
mặt nước xung quanh chỉ là tiếng thét gào một
hai ba con đếm các tích tắc
trôi qua trên mặt nước rồi lại chìm
con thuyền vừa chậm rãi đi qua xuất hiện trở lại
một hai ba đầy tiếng thét gào
quần áo dạt trôi tiếng máy nổ giật cục
nước biển thái bình dương ban đêm vẫn ấm
đủ để ta dạt trôi không đớn đau
cho tới khi không còn ai nghe được tiếng kêu một
hai ba tích tắc trôi qua dưới lòng sâu con đếm một
hai ba rồi sau đó có những chiếc thuyền khác xuất hiện
tiếng kèn báo động tiếng còi tàu vang lên tiếng gào thét một
hai ba con nhẩm đếm và nắm lấy một bàn tay chìa ra
họ mang con về một gia đình mới họ
đặt cho con một tên mới họ
cho con một tiểu sử mới con
chấp nhận hết thảy
cái còn lại là những ảnh hình chập chờn
chiếc ba lô tấm ảnh này giữa các lớp quần áo con
khai họ tên khai những gì
mà họ đề nghị khai những gì
mà họ ra lệnh cho con
con đã khai hết mọi điều
để rốt cuộc có thể rời chốn đó

 

*

 

// pulau bidong một người con gái ghi chép
và một giọng xưa kể chuyện //

 

xưa kia ở nơi này là các lán trại nơi đây
tôi đã chờ hàng ngày hàng tuần hàng tháng trời
trong lúc những con thuyền dạt vào bờ theo nhịp điệu từng giờ
trong lúc hết con thuyền nọ đến con thuyền kia bị đắm

những con thuyền
hoàn toàn bị quá tải nằm bên bờ
chúng tôi đi thu lượm các áo quần bị trôi dạt
với ánh mắt đẫn đờ hướng ra biển
chúng tôi ghi tên của những người không dạt vào bờ
trong tiếng gõ chát chúa của sóng biển
tôi đẫn đờ quan sát
dòng hải lưu
tôi đẫn đờ chờ đợi
đến bao giờ con tôi sẽ xuất hiện

cho đến khi đoàn trực thăng bay đến
và sau đó chúng tôi được bốc đi

người ta tung hô chúng tôi
ngay sau lúc hạ cánh chúng tôi
những kẻ bị mắc cạn chúng tôi
những kẻ được cứu sống chúng tôi
những kẻ được tung hô trong ánh chớp của máy ảnh
chúng tôi rời khỏi máy bay và
tiếng hoan hô xóa đi lịch sử của chúng tôi xóa đi
sự tồn tại của chúng tôi tiếng hoan hô
trên sân bay những tấm hình dành cho
công luận thế giới chúng đã xóa đi sự tồn tại của chúng tôi
tôi vẫn còn nhìn thấy trước mắt mình hòn đảo tôi
vẫn tiếp tục đếm các con sóng trong lúc họ tung hô
tôi vẫn còn đắm mình trong đại dương
bởi một nơi nào ở đó
có con gái tôi đang dạt trôi

làm sao bà có thể chắc
rằng con gái bà có mệnh hệ gì
tôi muốn nói biết đâu rằng

tôi đã thấy nó bị cuốn trôi tôi
đã tận mắt thấy
nó bị cuốn trôi ra sao

nhưng ở đó có bao nhiêu con thuyền

cũng như cô
tôi đã nhìn thấy đại dương

biết đâu con gái bà
đã ở trên một con thuyền khác

tôi không phải
là người đàn bà
mà cô đang tìm

người đàn bà nào

từ đâu cô có được tấm hình này

vì sao bà hỏi vậy

cô nhận thấy gì trên đó

chẳng thấy gì nó đã ố vàng và nhạt màu người ta
hầu như chẳng nhận được gì trên đó

tại sao cô lại chỉ tấm hình này
cho tôi

bà có nhận ra được gì trên đó

cô tìm thấy nó ở đâu

tại một kho lưu trữ

ở sài gòn ư

thưa không vì sao bà hỏi vậy

vậy thì ở đâu

tại một kho lưu trữ nào đó

kho lưu trữ ấy ở đâu còn
có gì trong đó

các hồ sơ và còn nhiều tấm hình nữa

hồ sơ nào

các tài liệu hồi ức đồ vật những thứ
vẫn được bảo quản ở một kho lưu trữ

vậy thì kho lưu trữ này thuộc về ai

vì sao bà lại muốn biết điều này

cô tới đây gõ cửa nhà tôi
và chỉ cho tôi tấm hình này vậy
mà cô lại không hay biết đã đào bới nó
ở kho lưu trữ nào

thưa bà đây là bí mật lưu trữ

bí mật lưu trữ

vâng bảo vệ nguồn thông tin

bảo vệ nguồn thông tin

thưa bà tại sao điều này đối với bà lại quan trọng đến nhường vậy

tại sao cô lại không thể nói cho tôi

tấm hình này thuộc về mẹ tôi

tôi thật lấy làm tiếc

thật ư

cô nói sao

tôi muốn hỏi bà lấy làm tiếc về điều gì

tôi lấy làm tiếc cho mẹ của cô

tại sao lại là mẹ tôi

chắc hẳn là cô đã hy vọng
tìm được gì ở đây

tôi chưa bao giờ có hy vọng này

tiếc là tôi không giúp được gì cho cô

tôi đã nhận ra điều đó

tôi không biết rằng
cô có thể gặp người đàn bà ấy ở đâu
người đàn bà mà cô đang tìm kiếm

có lẽ bà ấy đã biến vô tăm tích từ lâu

có lẽ như vậy

có thể bà ấy đã từng đến đây

có thể vậy

ngồi trên bờ và chờ
cho tới khi máy bay trực thăng xuất hiện

liệu bà ấy còn có thể làm được gì hơn
tiếp tục tìm kiếm ư nhưng bao lâu và ở đâu tại sài gòn
có khả năng là bà ấy
đã bị bắn chết lúc trở về

một lý do khó chấp nhận

nói vậy thì quá dễ

bà ấy vẫn có thể tiếp tục đi tìm sau đó

sau ba mươi năm

hai mươi hay ba mươi năm nào
có hề gì

có thể bà ấy đã tìm mọi cách có thể bà ấy
đã suy sụp vì việc đó có thể như vậy
làm sao ta biết được

vâng đúng vậy làm sao
ta biết được

có thể đơn giản là bà ấy
muốn biết một cách chắc chắn

một cách chắc chắn

vâng

có thể bà ấy kể cho mình một câu chuyện để
tự trấn tĩnh vâng có thể bà ấy muốn vậy
tự dối lừa bản thân

có thể bà ấy không biết cách nào tốt hơn

có thể

tôi lấy làm tiếc rằng không thể
giúp được gì hơn cho cô

bà có biết tôi có cảm giác lạ lùng như thế nào không
mỗi khi nói tiếng đức

không

rằng các động từ trong tiếng đức xác quyết thời gian

đó quả là một điều lạ lùng

lúc còn bé tôi chẳng bao giờ
có thể hiểu chẳng bao giờ có thể lĩnh hội
rằng thời gian trong tiếng đức
có thể khuôn cứng bởi một phụ tố
trong tiếng việt
thời gian chỉ có thể xác định bởi ngữ cảnh ở đó
không có thời gian hoàn tất

tại sao cô lại kể cho tôi nghe về điều này

địa chỉ của bà đề trên phong bì
trong đó có tấm hình này

có thể đây
chỉ là một hiểu lầm

có thể

 

*

 

// sân bay quốc tế tân sơn nhất
giữa các nơi chốn giữa các thời
tôi lần các ngón tay của mình lên toàn thế giới
và thì thầm đâu có nỗi thương đau //

 

delay
chẳng ai nói một lời
có điều gì
để nói biết bắt đầu
từ đâu đi đến đâu

delay
và họ vẫn tiếp tục
chờ ở đây nghe nói vậy vài
tiếng đồng hồ nữa cho tới khi
thời gian lại tiếp tục trôi cho tới khi
họ lại đứng dậy hết người nọ
đến người kia những du khách
trong vòng quay trống rỗng không ngừng nghỉ
những du khách liên tục đi qua đây những kẻ chờ chuyến
tất cả họ đi về đâu có gì chờ đợi họ

delay
chẳng ai nói một lời
mà có điều gì để nói

delay
một kho lưu trữ nào đó
một thùng các tông nào đó một
nhãn hiệu nào đó những tập hồ sơ một
dấu vết nào đó một câu chuyện
con gái của bà
vẫn còn sống người đó
đã sống cạnh bà
ở phía bên kia
bức tường

và không có
thống nhất bởi
chỉ có các vết nứt rạn không có
thống nhất bởi
chỉ có những câu chuyện mới không có
thống nhất bởi luôn luôn
nhầm chỗ biết khởi đầu
từ đâu biết
nói điều gì

giá mẹ có thể nói với bà

chẳng có điều gì để nói

biết khởi đầu từ đâu

không nơi chốn

luôn luôn ta phải
kể lại từ đầu giải thích lại
từ đầu hồi tưởng lại từ đầu nhưng
mãi mãi vô vọng bởi có vết
nứt rạn nào là có thể
bởi có vết nứt rạn nào là có thể
hàn gắn lại vết rạn nứt nào

mẹ hẳn sẽ nói với bà rằng
con vẫn thường quay lại bến cảng vẫn thường
quay lại ngôi nhà mình ngôi nhà
đã từ rất lâu thuộc về kẻ khác rằng
gia đình mới của con hoàn toàn ổn rằng
con có ý định đi sang nước anh em

tại sao
con không kể với bà điều đó

hẳn mẹ sẽ nói với bà rằng
con đã quên hình dáng mẹ rằng
con đã quên giọng nói mẹ rằng
con đã quên câu chuyện kể của chúng ta lần cuối rằng
đến một lúc nào đó cơn đau cũng nguôi ngoai
sự lãng quên không còn khiến ta đau đớn

đó là những câu chuyện mà
người ta cần kể cho nhau để trở lại
với chính mình để về lại
nơi ta từng sống

những câu chuyện mà
người ta cần kể cho nhau để biết
ta từng là ai

những câu chuyện mà
cả các quốc gia cần kể cho nhau
để tìm lại chính mình

những câu chuyện
không dễ gì hàn gắn cho dù ta
có kể lại cho nhau nghe biết bao lần những vết rạn nứt
có muôn nơi những vết rạn nứt
mà ai tìm thấy sẽ phải giữ lấy cho riêng mình

cứ mỗi lần suy nghĩ
tôi lại lâm vào các vết rạn

cứ lâm vào và mắc kẹt trong đó

tại sao con không kể với bà điều đó

rằng mẹ đã quên tại sao bà
muốn ra đi cùng mẹ tại sao phải lên con thuyền này rằng mẹ
đã quên hình dáng bà

tại sao con không kể với bà điều đó

rằng mẹ đã nhận được quyền lưu trú rằng
mẹ đã cảm thấy xa lạ nơi chốn đó rằng có lúc
mẹ mong mỏi được nói với bà về chuyện nọ chuyện kia
nhưng rồi lại quên nguồn cơn của những câu chuyện đó

đâu đâu cũng là những vết nứt rạn mà ta sẽ vấp vào
khi kể chuyện cứ như ta chỉ kể chuyện
để đánh lạc hướng mình khỏi những vết rạn nứt này

mẹ hẳn sẽ kể với bà rằng
mẹ đã quên những gì mình thấy
trong lòng nước rằng
người ta nói với mẹ rằng
bà đã chết

rằng mẹ đã không chỉ một lần
nhìn thấy bà chìm xuống nước

vì sao con không nói với bà rằng
mẹ chưa bao giờ bị chìm xuống đáy nước rằng
mẹ đã được đem lên bờ rằng
sau đấy mẹ đã được cử sang nước anh em
rằng mẹ đã mang con sang thế giới mới vì sao con
không kể với bà điều đó

hết vết nứt rạn nọ đến vết nứt rạn kia
là những chỉ dấu của con đường
đi qua lịch sử

tại sao con không kể với bà điều đó

điều gì

rằng bà và mẹ
đã sống cạnh nhau cho tới lúc
bức tường sụp đổ rằng cả hai
đều cảm thấy xa lạ cho đến
tận ngày hôm nay tại sao
con không kể với bà rằng
bố của con giờ bán rèm cửa và khăn trải bàn rằng
bố bây giờ trở nên lặng lẽ
từ khi ông sống một mình rằng
bố không thể chịu đựng nổi các tấm hình rằng
bố mỉm cười khổ sở khi có người
hỏi ông về quá khứ rằng
bố từng là một phiên dịch giỏi rằng
giờ thì ông bán khăn trải bàn
giờ thì ông bán khăn rèm cửa rằng
bố bây giờ trở nên lặng lẽ
từ khi ông sống một mình rằng
ông vẫn giữ vẻ cam chịu trong bệnh viện
khi người đàn bà ấy tắt thở rằng
bố vẫn hằng ngày đến viếng thăm người đàn bà đó
cho đến khi phòng cô ấy được dọn rằng
bố đã câm lặng suốt một tuần trong cửa hàng
bên rìa thành phố nơi giờ đây ông bán khăn trải bàn
tại một cơ ngơi do chính mình tạo dựng

bất luận điều này có nghĩa gì
một cơ ngơi do chính mình tạo dựng

sống là rủi ro

sau bao nhiêu năm trời không còn được đếm xỉa

bố đã gây phiền nhiễu
tới quá trình thống nhất trong khi họ
thét vang chúng ta trong khi họ
gọi chúng ta trong khi họ
rốt cuộc trở lại là chúng ta
vào lúc đó bố chỉ gây phiền nhiễu

mẹ hẳn sẽ kể với bà rằng
mẹ đã mang thai con trong lúc
những bức tường dựng lên và sụp đổ trong lúc
mẹ và bạn bè bán thuốc lá lậu

mẹ hẳn sẽ kể với bà rằng
ở các gian phòng khu tập thể
đêm đêm thật nóng rằng ngoài ra
người đức không chỉ mới nói
mọi fidschis sau khi bức tường sụp đổ
nhưng sau đó thì họ to giọng hơn
sau đó thì bỗng nhiên họ trở nên ngang nhiên hơn
sau đó thì bỗng nhiên họ thể hiện hết lòng cuồng nhiệt
rốt cuộc thì họ được nói chúng ta được thét to
chúng ta và chúng nó

mẹ hẳn sẽ kể với bà rằng
mẹ đã mang thai con rằng
mẹ đã đếm từng mét trên con đường
ta cùng bỏ lại sau lưng từng mét từng mét một cho tới lúc
người ta nói rằng mẹ chỉ còn vài tháng nữa

những tấm hình
ai mà còn quan tâm đến chúng

và những mét cuối mẹ đã đếm
như trong một cuốn phim quay chậm

nhưng câu chuyện kể liệu có nói lên được điều gì

những mét cuối cùng mẹ đã nhẩm đếm
từng bước từng bước một cho đến khi kiệt sức

phương tây ở trước ta
thống nhất ư điều này
có nghĩa gì khi nó
chưa từng diễn ra

tại sao con không kể với bà
rằng con là con gái mẹ rằng mẹ
là con gái của bà rằng mẹ đã rơi khỏi con thuyền
trước bà rơi khỏi thời gian nhưng
không bao giờ rơi khỏi lịch sử

thống nhất ư điều này
có nghĩa gì thống nhất
tự bao giờ

vì sao con không kể với bà
rằng con là cháu ngoại của bà
rằng con đã tìm thấy bà vì sao
con không kể với bà điều đó

giá bà có thể kể với mẹ của con
rằng bà đã hạ cánh ở tây đức
tại sân bay xấu xí nhất thế giới rằng
bầu trời ở đó xấu xí rằng
cây ở đó màu be rằng
bà không bao giờ muốn dừng chân ở chốn này
nhưng cũng không muốn quay trở lại

liệu có những vết rạn nứt nào
có thể hàn gắn lại

hẳn bà sẽ kể với mẹ con rằng
có lúc bà không hay bà
từng có lúc nói
bà chẳng thể nói gì với mẹ con
có thể là bà không biết
phải khởi đầu từ đâu

hẳn bà sẽ nói với mẹ con rằng
bà đã bế mẹ băng qua thành phố từng mét từng mét một
để kịp đến con thuyền từng mét từng mét một hãy nhìn đây
hẳn bà sẽ nhắc lại hãy nhìn đây con hãy nhìn đây
và níu chặt lấy ánh mắt
từ mũi đến lòng thuyền từng mét
từng mét một giữa tất cả các bàn tay này níu chặt ánh mắt
hãy nhìn đây con hãy nhìn đây

thống nhất nghĩa là gì
ai thống nhất cùng ai
thống nhất chống lại ai

vì sao con chỉ đăm đăm nhìn bà sau đó
trên con tàu quay trở về trên đường phố và
vì sao bà cứ đăm đăm nhìn con vì sao
con không nói một lời

cả hai đều đăm đăm nhìn tấm hình cả bà và con
cả hai đều biết trong tấm hình là ai cả hai
đều biết đứng trước mặt mình là ai cả hai
đều không thể nói nên lời

có thể nói gì đây

tôi hy vọng tôi đã có thể phần nào
kể lại cho cô

vâng

tôi hy vọng rằng giờ đây phần nào cô có thể hiểu
câu chuyện của chúng tôi tôi hy vọng
giờ đây cô đã hiểu hơn một chút
về những gì từng xảy ra nơi đây tôi hy vọng
có thể giúp ích cô phần nào

nhưng chúng ta đâu hiểu chúng ta
chẳng thể nào hiểu chúng ta
chỉ kể cho nhau các câu chuyện này
cho nhau các tấm hình và chỉ thấy
những vết rạn nứt trong các câu chuyện kể
những khoảng trống ngự trị ở đó

delay

cũng có thể như thế lại tốt liệu
còn điều gì có thể nói cùng nhau

vâng cảm ơn giờ đây
tôi còn hiểu ít hơn

liệu con có hiểu thêm gì
giờ đây sau khi con đã có mặt ở chốn đó

về ý nghĩa của thống nhất về
ý nghĩa của từ chúng ta về những gì
đã làm nên chúng ta
chúng ta giờ là ai chúng ta
trở thành chúng ta ra sao
đôi chân vẫn còn quẫy đạp trong nước
ở bờ bên kia là phương tây và rồi
sóng nước đã dâng lên và rồi
các vết nứt rạn đã bung vỡ và rồi
những bức tường đã sụp đổ
họ lại thét lên chúng ta
bất kể chúng ta kể những câu chuyện nào
họ lại thét lên chúng ta
bất kể chúng ta nghe những câu chuyện nào
họ lại thét lên chúng ta cứ như
chưa hề có một vết rạn nứt

mà có thể cái được nhân danh là chúng ta này
chính là vết nứt rạn mà chúng ta đang kể

hoặc có thể rằng
bỗng nhiên mẹ chỉ còn một vài tháng nữa
và thời gian trong tiếng đức
là một cái bẫy ngữ pháp

hẳn con đã không nói với bà điều ấy

hoặc có thể rằng
thực ra mẹ không biết
phải bắt đầu từ đâu rằng
người ta có thể chỉ nói với nhau ít lời hơn
so với điều mình nghĩ
khi trong đời từng một lần mất nhau

có vết rạn nứt nào
là có thể hàn gắn lại vẹn toàn

vì sao con không nói với bà rằng
bà và mẹ đã từng sống cạnh nhau cho đến lúc bức tường sụp đổ

hoặc thực ra bà có thể
đáp một chuyến bay

hoặc đơn giản là bà có thể đi theo cùng con

vì sao con không nói

rằng giờ đây bà
có thể đi cùng

hoặc chỉ cần sau mấy giờ bay
bà và mẹ sẽ tìm lại được nhau

rằng không phải ai cũng bị chôn vùi trong sóng biển

và mẹ thì đằng nào cũng đã được cứu vớt

mà cũng có thể là mẹ
đã bị chôn vùi trong sóng biển
như tất cả những kẻ xấu số khác
có thể mẹ chỉ tái xuất một lần
cho những tấm hình thông tấn
nhưng vĩnh viễn vẫn nằm dưới vực sâu

hoặc có thể là
những tấm rèm cửa trong cửa hàng bố con thật xấu xí rằng
nào có ích gì khi mà vào những tuần lễ cuối cùng
bố cứ một mình lặng lẽ
và thẫn thờ kể đi kể lại
về việc bố mẹ đã làm quen nhau ra sao

hoặc có thể là chẳng nên nói điều gì có thể
tốt hơn cả chẳng nói một điều gì
có thể rốt cuộc sự im lặng là điều duy nhất
có thể sẻ chia có thể

hoặc có thể đơn giản là không nói một điều gì

delay họ
lại ngồi đó và chờ đợi

phía ngoài kia là cơn bão tro núi lửa
nghe nói khắp nơi trên thế giới
mọi máy bay đều phải đáp xuống mặt đất
nghe nói khắp nơi trên thế giới
họ lại ngồi kia chờ đợi và đăm đăm dõi

delay màn hình sát
màn hình ở trên đó
thế giới đang vun vút bay qua

nghe nói mấy tiếng nữa mọi việc sẽ trở lại ổn thỏa
người ta nói vậy chúng ta hẵng tin tưởng
rằng mọi việc sẽ trở lại ổn thỏa có thể nào khác được
có thể mấy tiếng nữa máy bay của họ sẽ cất cánh có thể
họ sẽ thoát khỏi nơi đây
chỉ cần có tiếng loa thông báo tiếp theo
là mọi việc
sẽ nhanh chóng ổn thỏa

 

 

*

 

 

 

xin cảm tạ
tạm biệt

 

 

 

 

Thomas Köck, atlas. © Suhrkamp Verlag Berlin 2019.

Diese Abdruckgenehmigung ist nicht exklusiv und bezieht sich nur auf die genannte Publikation und Auflagenhöhe. Weitere Rechte sind damit nicht verbunden. Die Nebenrechtsvergabe ist ausgeschlossen. Nachauflagen sind neu zu vereinbaren.

Được xuất bản nhờ sự đồng ý cho phép của Suhrkamp Verlag Berlin

Bản quyền bản tiếng Việt © 2022 Trương Hồng Quang

 

(Bài viết thuộc Zzz Review số 11: Về văn học Đức, ngày 31-7-2022.
Trailer vở kịch. Xem thêm giới thiệu tác phẩmđối thoại với chứng nhân lịch sử.)

Chấm sao chút:

Đã có 0 người chấm, trung bình 0 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Trương Hồng Quang

Sinh năm 1959 tại Nghệ An, từ 1977-1983 học ngành Ngữ văn Đức tại Đại học Leipzig (CHDC Đức), năm 1985 bảo vệ luận án Tiến sỹ văn học tại ĐH Leipzig về đề tài „So sánh Faust của Goethe và Truyện Kiều của Nguyễn Du“. Hiện sống tại Berlin và hành nghề phiên dịch, biên dịch viên tự do. Các công trình công bố gần đây: Nguyễn Du, Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt (chủ biên), Nxb Thế giới, Hà Nội 2015; Isabelle Müller, Loan – Từ cuộc đời một con chim Phượng Hoàng, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh 2018 (dịch); Thomas Köck, Atlas/Địa đồ, Kịch, Nhà hát kịch nói Leipzig 2019 (dịch).

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: