Hoạt động của Zzz Review năm 2022
được sự hỗ trợ của Viện Goethe

Robert Walser, Nhật ký Jakob von Gunten

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 202 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 11: Về văn học Đức, ngày 31-7-2022)

Robert Walser (1878–1956) là nhà văn người Thụy Sĩ viết tiếng Đức. Dẫu lúc còn sống ông không được nhiều người yêu thích, những người đồng thời với ông rất ngưỡng mộ ông, như Franz Kafka, Hermann Hesse, Robert Musil và Walter Benjamin. Ngày nay ông được coi là một trong những giọng văn chương quan trọng và độc đáo nhất của thế kỷ 20.

Ta chẳng học được gì mấy ở đây, không có đủ giáo viên, và đám con trai chúng tôi ở Trường Benjamenta sẽ không một đứa nào đi tới đâu, có nghĩa là, tất cả chúng tôi sau này sẽ trở thành một thứ gì đó rất nhỏ nhoi và thấp kém. Việc dạy dỗ mà chúng tôi tiếp nhận chủ yếu là việc làm cho chúng tôi ghi tâm khắc cốt tính nhẫn nại và phục tùng, hai phẩm chất hứa hẹn sẽ ít thành công, hoặc không được gì cả. Những thành công thầm kín thì có. Nhưng ta hưởng được gì từ mấy thứ này? Những điều đạt được trong thâm tâm thì ta đâu có ăn được? Tôi muốn giàu có, muốm chễm chệ ngựa xe và phung phí tiền bạc. Tôi có bàn chuyện này với Kraus, bạn học của tôi, nhưng hắn chỉ nhún vai khinh bỉ và không hạ cố đáp lại tôi lời nào. Kraus có những nguyên tắc riêng, hắn ngồi vững trên yên, hắn cưỡi lên sự thoả mãn, và đó là con ngựa mà mọi người không nên leo lên nếu họ muốn phi nước đại. Kể từ khi sống ở Trường Benjamenta, tôi đã có ý đồ trở thành một điều bí ẩn đối với chính mình. Ngay cả tôi cũng bị nhiễm cái cảm giác thoả mãn khá rõ rệt, điều mà tôi trước đây chưa từng biết. Tôi phục tùng khá là tốt, không tốt bằng Kraus, người am hiểu rất tài tình cách nháo nhào lao tới để chờ có mệnh lệnh mà phục tùng. Có một điều mà cả đám học sinh chúng tôi đều giống nhau, Kraus, Schacht, Schilinski, Fuchs, cậu Peter Lêu Nghêu, và tôi, cả đám chúng tôi — và đó là sự thiếu thốn và lệ thuộc hoàn toàn. Chúng tôi nghèo hèn, nghèo hèn đến mức hoàn toàn vô giá trị. Nếu ai có một đồng mark thôi để tiêu vặt thì người đó được coi như một ông hoàng có đặc quyền. Nếu ai hút thuốc lá, như là tôi, thì sẽ khiến kẻ khác lo ngại cho sự hoang phí mà hắn ta đang thoả thích. Chúng tôi mặc đồng phục. Đấy, việc mặc đồng phục cùng lúc vừa làm hạ thấp vừa đề cao phẩm giá của chúng tôi. Trông chúng tôi như những kẻ mất tự do, và đó có thể là một điều hổ thẹn, nhưng chúng tôi mặc đồng phục trông cũng đẹp, và điều đó khiến chúng tôi khác biệt với nỗi ô nhục sâu xa của những người đi lại trong trang phục riêng của họ nhưng lại toàn những thứ rách nát và bẩn thỉu. Đối với tôi, chẳng hạn, chuyện mặc đồng phục rất dễ chịu vì trước giờ tôi không hề biết phải mặc quần áo gì. Nhưng trong chuyện này, hiện thời tôi cũng là một điều bí ẩn đối với chính mình. Có lẽ có một con người rất ư là tầm thường ở trong tôi. Nhưng có lẽ tôi có dòng máu quý tộc trong huyết quản. Tôi không rõ. Nhưng có một điều tôi biết chắc chắn: sau này tôi sẽ trở thành một con số không hết sức tròn trĩnh, đẹp đẽ. Về già tôi sẽ phải hầu hạ những tên lưu manh oắt con, trâng tráo, và kém học thức, hoặc tôi sẽ thành ăn mày, hoặc tôi sẽ tiêu tùng.

Đám học sinh hay môn sinh chúng tôi thực sự là có rất ít việc để làm, chúng tôi hầu như không được giao bài tập nào cả. Chúng tôi học thuộc lòng các quy định. Hoặc chúng tôi giở cuốn sách Mục tiêu của Trường Benjamenta là gì? ra mà đọc. Kraus cũng đang học tiếng Pháp, tự học, vì trong thời khoá biểu của chúng tôi chẳng có môn ngoại ngữ hay những thứ tương tự. Chỉ có một bài học duy nhất và bài đó luôn được lặp lại: “Nam sinh nên cư xử như thế nào?” Về cơ bản, toàn bộ việc học của chúng tôi đều tập trung vào câu hỏi này. Chúng tôi không được dạy một điều gì khác. Như tôi đã nói trước đây về các giáo viên, nói cách khác, những người dạy dỗ và hướng dẫn đều ngủ hết, hoặc họ đã chết, hoặc có vẻ như chết, hoặc họ đã hóa đá, không sao cả, đằng nào thì chúng tôi cũng không học được gì từ họ. Thay cho các giáo viên, những người vì một lý do kỳ lạ nào đó thực sự đang nằm lăn ra như chết, và đang ngủ, có một phụ nữ trẻ hướng dẫn và cai quản chúng tôi, Fräulein Lisa Benjamenta, em gái của ông Hiệu trưởng. Với một cây gậy nhỏ màu trắng trên tay, cô ấy đi vào lớp và dạy học. Cả lớp chúng tôi đứng lên tại bàn học khi cô ấy xuất hiện. Khi cô ấy đã ngồi xuống thì chúng tôi cũng được phép ngồi. Cô gõ vào cạnh bàn của mình ba tiếng thật nhanh ra oai, và bài học bắt đầu. Bài học lạ lùng! Nhưng nếu nói tôi thấy việc dạy dỗ này kỳ cục là tôi nói láo. Không. Tôi thấy những gì Fräulein Benjamenta dạy chúng tôi thật đáng quan tâm. Bài học ít ỏi, và chúng tôi luôn ôn đi ôn lại, nhưng có lẽ có một bí mật nào đó ẩn sau tất cả những điều tầm thường và buồn cười này. Buồn cười? Đám con trai chúng tôi ở Trường Benjamenta không bao giờ có cảm giác buồn cười. Vẻ mặt và thái độ của chúng tôi rất nghiêm túc. Ngay cả Schilinski, đứa hoàn toàn vẫn còn là con nít, rất hiếm khi cười. Kraus không bao giờ cười, hoặc, khi mất kiềm chế, hắn chỉ bật cười một tiếng rất ngắn, và sau đó hắn tức giận vì đã buông thả cho bản thân lôi cuốn theo đúng cái âm điệu bị nghiêm cấm đó. Nói chung, đám học sinh chúng tôi không thích cười, nói cách khác, chúng tôi gần như không thể cười được nữa. Chúng tôi thiếu sự vui vẻ và thoải mái cần thiết. Tôi có lầm không? Có Chúa biết, đôi khi toàn bộ thời gian của tôi ở đây dường như là một giấc mơ khó hiểu.

Đứa nhỏ tuổi và nhỏ con nhất trong đám học sinh chúng tôi là Heinrich. Ta bất giác cảm thấy yêu mến anh chàng này mà không cần phải suy nghĩ gì cả về chuyện đó. Nó hay đứng lặng trước các tủ kính bày hàng, mê mẩn trước cảnh tượng các thứ hàng hóa và món ngon lành trưng bày trong đó. Rồi thường là nó đi vào và mua ít đồ ngọt gì đó với giá sáu xu. Heinrich vẫn còn là một con nít hoàn toàn, nhưng nó lại nói chuyện và cư xử như một người lớn, rất lịch sự phải phép. Tóc nó luôn chải và rẽ ngôi tươm tất, điều này buộc tôi ngay lập tức nhận ra rằng, trong chi tiết quan trọng này, tôi rất là lôi thôi. Giọng nói của nó nhỏ nhẹ như tiếng chim líu ríu khẽ khàng. Ta bất giác muốn đưa tay quàng vai nó khi ta cùng đi dạo hoặc trò chuyện. Heinrich chẳng hề có cá tính, vì nó còn không biết cá tính là cái gì nữa kia. Chắc chắn là nó vẫn chưa nghĩ về cuộc đời, và tại sao nó phải nghĩ đến điều đó chứ? Nó rất lịch sự, sẵn sàng phục vụ và khéo cư xử tốt, nhưng không ý thức được điều đó. Phải, nó giống như một con chim. Nó tràn trề sự thoải mái. Một con chim đưa tay cho ta bắt khi nó phải bắt tay, một con chim sẽ đi như thế và đứng như thế. Mọi thứ ở Heinrich đều hồn nhiên, yên bình và vui vẻ. Nó muốn trở thành một anh bồi sai vặt, nó nói. Nhưng nó nói ra điều đó mà không hề có chút ham muốn thô lỗ nào, và quả thực nghề bồi sai vặt hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nó. Sự tế nhị trong thái độ và cảm xúc của nó mong muốn được đi theo hướng này hay hướng khác, và đấy, nó đạt được mục đích thích hợp. Rồi nó sẽ nếm trải được gì đây? Liệu có kinh nghiệm và sự hiểu biết nào sẽ đến với cậu bé này không? Liệu những điều chán ngán khó chịu trong cuộc đời có biết xấu hổ mà tránh quấy rấy nó không, nó, một đứa hết sức tinh tế như thế? Mà tôi cũng thấy là nó hơi nhạt nhẽo, chẳng có gì dữ dội và thách thức cả. Có lẽ nó thậm chí sẽ không biết là có nhiều điều có thể làm nó ngã lòng, và sẽ không cảm nhận được là có nhiều điều có thể tước đoạt mất sự vô tư của nó. Ai mà biết là tôi nói có đúng không! Nhưng tôi thích, rất là thích đưa ra những lời nhận xét như vậy. Heinrich, ở một mức độ nào đó, là kẻ vô tâm. Đó là vận may của nó, và ta phải công nhận điều đó. Nếu nó là một ông hoàng, tôi sẽ là người đầu tiên quỳ gối trước mặt nó và cúi đầu tuân phục. Thật đáng tiếc!

Tôi đã cư xử ngu ngốc làm sao khi đến đây! Chủ yếu là tôi sửng sốt trước sự tồi tàn của các bậc thang phía trước nhà. Ồ, không sao, đó chỉ là cầu thang đi lên một tòa nhà bình thường ở một con phố hẹp trong thành phố lớn. Rồi tôi bấm chuông và một người giống như con khỉ mở cửa ra. Đó là Kraus. Nhưng lúc đó tôi chỉ nghĩ hắn là con khỉ, còn bây giờ tôi lại coi trọng hắn, bởi chính cái tính cách riêng đã tô điểm cho hắn. Tôi hỏi tôi có thể nói chuyện với Herr Benjamenta được không. Kraus nói: “Dạ được ạ!” rồi cúi đầu chào tôi thật sâu và thật ngu ngốc. Cái cúi chào này khiến tôi kinh hoàng lạ thường, vì tôi đã lập tức tự nhủ rằng ở nơi này chắc chắn có điều gì đó bất ổn. Và ngay từ lúc đó, tôi đã coi Trường Benjamenta như một trò bịp bợm. Tôi đi đến văn phòng Hiệu trưởng. Tôi bây giờ mắc cười quá chừng khi nhớ lại cảnh tượng sau đó! Herr Benjamenta hỏi tôi muốn gì. Tôi khe khẽ nói là tôi muốn trở thành học trò của ông ta. Nghe thế ông ta không nói gì nữa và đọc báo. Văn phòng, ông Hiệu trưởng, con khỉ dẫn tôi vào, những cánh cửa, cái kiểu im lìm và đọc báo đó, mọi thứ, mọi thứ đều có vẻ hết sức đáng ngờ đối với tôi, một hứa hẹn hủy diệt. Bất thình lình ông ta hỏi tên tuổi với gốc gác của tôi. Thế là tôi thấy bối rối, đột nhiên tôi cảm thấy rằng mình sẽ không bao giờ thoát khỏi nơi này. Tôi ấp úng cung cấp thông tin, thậm chí còn đánh bạo nhấn mạnh rằng tôi xuất thân trong một gia đình danh giá. Trong những điều nói ra, tôi có cho biết cha tôi là một uỷ viên hội đồng thành phố, và rằng tôi đã chạy trốn cha tôi vì tôi sợ bị chết ngạt vì sự ưu tú của ông ấy. Một lần nữa ông Hiệu trưởng lại im lặng hồi lâu. Nỗi sợ rằng mình đã bị lừa gạt lại tăng lên tột độ. Tôi thậm chí còn nghĩ đến chuyện bị sát hại bí mật, bị siết cổ từ từ. Rồi ông Hiệu trưởng hỏi, với giọng hách dịch, là tôi có mang theo tiền không, và tôi nói rằng có. “Vậy thì đưa cho ta. Mau!” ông ta ra lệnh, và, kể ra thì nghe kỳ lạ, tôi tuân theo ngay lập tức, mặc dù tôi lúc đó đang run rẩy khổ sở. Bây giờ tôi hoàn toàn chắc chắn rằng tôi đã sa vào tay một tên cướp và lừa đảo, và dù vậy tôi vẫn ngoan ngoãn đóng học phí. Bây giờ nghĩ lại mới thấy những cảm xúc của tôi lúc đó mới nực cười làm sao! Rồi tôi đánh liều lấy hết can đảm để khe khẽ hỏi xin biên nhận, nhưng câu trả lời tôi nghe được là: “Những đứa nhãi ranh như cậu thì không có biên nhận!” Tôi suýt ngất. Ông Hiệu trưởng bấm chuông. Ngay lập tức con khỉ ngớ ngẩn Kraus chạy ào vào phòng. Con khỉ ngớ ngẩn? Ồ, không hề. Kraus là một người đáng yêu, đáng quý. Chỉ có điều lúc đó tôi không biết rõ thôi. “Đây là Jakob, học sinh mới. Đưa nó vào lớp.” Ông Hiệu trưởng nói chưa dứt câu là Kraus đã tóm lấy tôi và đẩy tôi đến trước mặt cô giáo đó. Ta thật trẻ con làm sao khi ta sợ hãi! Không có cách cư xử nào tồi tệ cho bằng cách cư xử xuất phát từ sự thiếu tin tưởng và ngu dốt. Tôi đã trở thành một học sinh như thế đấy.

Schacht bạn học của tôi là một người kỳ lạ. Anh ta ôm mộng trở thành nhạc sĩ. Schacht bảo tôi là anh ta chơi vĩ cầm tuyệt hay bằng trí tưởng tượng, và tôi hoàn toàn tin lời anh. Anh ta thích cười, nhưng rồi anh lại đột nhiên rơi vào trạng thái u sầu tư lự, điều này hết sức phù hợp với khuôn mặt và bộ dạng của anh. Schacht có một khuôn mặt trắng bệch và hai bàn tay thon dài, biểu hiện nỗi đau khổ không tên trong tâm hồn. Vóc dáng mảnh khảnh, anh ta cứ luôn loay hoay, khó lòng mà đứng yên hay ngồi im. Anh ta giống như một cô gái ốm yếu, bướng bỉnh, anh ta cũng hay cằn nhằn, điều này khiến anh càng giống một cô gái trẻ nhưng có phần xấu tính. Anh ta và tôi, hai đứa thường cùng nhau nằm trên giường trong phòng tôi, để nguyên quần áo, không buồn cởi giày ra, và hút thuốc lá, điều trái với quy định. Schacht thích vi phạm các quy định và rủi thay, nói thật, tôi cũng chẳng thua kém anh ta. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện khi nằm hút thuốc như thế, những câu chuyện trong cuộc đời mình, tức là những gì đã kinh qua, nhưng thường xuyên hơn lại là những câu chuyện bịa đặt, với những sự việc bạ đâu nói đó. Khi kể chuyện như vậy, đối với chúng tôi dường như đó là một thứ âm nhạc êm dịu ngân nga trầm bổng trên các bức tường. Căn phòng tối tăm chật hẹp ấy mở rộng ra, đường phố xuất hiện, những sảnh đường, thành phố, lâu đài, những con người và phong cảnh xa lạ, có tiếng sấm và tiếng thì thầm, tiếng nói và tiếng khóc, vân vân. Thật thú vị khi nói chuyện với anh chàng Schacht hơi mơ mộng này. Anh ta dường như hiểu hết mọi điều ta nói với anh, và cũng đôi khi chính anh ta cũng nói được điều gì đó có ý nghĩa. Và sau đó anh ta thường phàn nàn, và đó là điều tôi thích trong cuộc trò chuyện của hai đứa. Tôi thích nghe mọi người phàn nàn. Khi đó ta có thể nhìn như thế vào người đang nói, và có sự đồng cảm sâu sắc, thân mật với người ấy, và ở Schacht có một điều gì đó làm khơi dậy sự đồng cảm, ngay cả khi anh ta không nói ra những chuyện buồn phiền. Nếu ai có vấn vương một sự bất mãn tinh tế nào trong lòng, tức là niềm khao khát một cái gì đẹp đẽ và cao cả, thì điều đó lại rất tự nhiên ở Schacht. Schacht có tâm hồn. Ai biết được, có lẽ anh ta có tư chất của một nghệ sĩ. Anh ta thổ lộ với tôi rằng anh bị bệnh, và do đây là một căn bệnh khá là không đứng đắn, anh ta đã khẩn thiết yêu cầu tôi không nói gì về chuyện đó, đương nhiên là tôi lấy danh dự của mình ra mà hứa cho anh ta yên tâm. Rồi tôi đòi anh ta cho tôi xem cái sự tình bệnh hoạn của anh ta thì lúc đó anh ta đâm ra tức giận một chút và quay mặt vào tường. “Mày thật ghê tởm,” anh ta bảo tôi. Có lần tôi đánh bạo nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay anh ta, nhưng anh rút lại và nói: “Giờ mày lại tính giở trò ngớ ngẩn gì đây? Thôi đi.” Schacht thích đi loanh quanh với tôi, điều này đặc biệt là tôi thấy rõ, nhưng sự rõ ràng hoàn toàn không cần thiết trong những chuyện như vậy. Thực tế là tôi thích anh ta hết sức và coi như cuộc sống của tôi được phong phú thêm nhờ có anh. Đương nhiên là tôi chưa bao giờ nói với anh ta những điều như vậy. Chúng tôi toàn nói với nhau những chuyện ngu xuẩn, thường cũng có những chuyện nghiêm trọng nữa, nhưng tránh dùng lời lẽ to tát. Những từ mỹ miều quá nhàm chán. À, những lần gặp gỡ với Schacht trong phòng tôi khiến tôi nhận ra điều này: đám học sinh chúng tôi ở Trường Benjamenta phải cam chịu cái cảnh ăn không ngồi rồi kỳ lạ, thường kéo dài nửa ngày. Chúng tôi luôn quỳ mọp, ngồi, đứng, hoặc nằm lăn ra ở đâu đó. Schacht và tôi thường thắp nến trong phòng tôi, để hai đứa tận hưởng. Việc này bị nghiêm cấm. Nhưng chính vì thế mới thật là vui. Quy định có nói gì thì nói: ánh nến thật là đẹp, thật huyền bí. Và gương mặt của anh bạn tôi trông mới đẹp làm sao khi được ngọn lửa đỏ nhỏ bé đó chiếu sáng! Khi tôi nhìn những ngọn nến cháy, tôi luôn cảm thấy mình giàu có. Ngay sau đó, ông lao công sẽ đi vào mắng tôi một trận. Trò này đúng là vô nghĩa hết sức, nhưng sự vô nghĩa này có một cái miệng xinh xắn, và nó biết cười. Thực ra thì Schacht cũng có những nét thô kệch, nhưng vẻ xanh xao tràn ngập trên khuôn mặt anh ta đã làm cho chúng trở nên thanh tú. Mũi anh ta quá lớn, hai tai cũng vậy. Miệng anh ta mím chặt. Có những khi tôi nhìn Schacht theo cách này, tôi cảm thấy rằng người này rồi có ngày sẽ khổ sở vô cùng. Tôi yêu làm sao những người gợi lên ấn tượng buồn đau như vậy! Đó có phải là tình huynh đệ không? Phải, có lẽ thế.

Vào ngày đầu tiên, cách hành xử của tôi hết sức là câu nệ kiểu cách, cứ như một đứa con cưng vốn được mẹ nuông chiều. Tôi được cho xem căn phòng mà tôi sẽ ngủ cùng với những người khác, tức là với Kraus, Schacht và Schilinski. Thêm đứa thứ tư là hợp thành một hội, có thể nói như thế. Ai cũng có mặt, các bạn học của tôi, ông Hiệu trưởng, người đang nhìn tôi hằm hằm, và em gái ông ta. Chà, và sau đó tôi lăn nhào ngay xuống chân cô gái và kêu ca: “Không, tôi không thể ngủ trong căn phòng đó, không thể nào được! Ở trong đó tôi không thở được đâu. Tôi thà ở cả đêm ngoài đường còn hơn.” Vừa nói tôi vừa bám vào chân cô gái. Cô ấy có vẻ bực mình và bảo tôi đứng lên. Tôi nói: “Tôi sẽ không đứng dậy cho đến khi nào cô hứa là sẽ cho tôi một căn phòng đàng hoàng để ngủ. Tôi xin cô, thưa cô, tôi van cô, hãy cho tôi ở chỗ khác, trong một cái hố cũng chẳng sao, nhưng không phải ở chỗ này. Tôi không thể ở đây. Chắc chắn là tôi không muốn làm mất lòng các bạn của tôi, và nếu như tôi đã lỡ thì tôi xin lỗi, nhưng ngủ chung với ba người, thành người thứ tư và trong một căn phòng nhỏ xíu thế này ư? Không được đâu. Ôi, thưa cô!” Bây giờ thì cô ấy đang mỉm cười, tôi nhìn thấy, và thế là tôi hấp tấp nói thêm, và bám chặt lấy cô ấy hơn nữa: “Tôi sẽ ngoan, xin hứa với cô. Tôi sẽ làm theo mọi mệnh lệnh của cô. Cô sẽ không bao giờ, không bao giờ phải phàn nàn về thái độ của tôi.” Fräulein Benjamenta hỏi: “Thế à? Tôi sẽ không bao giờ phải phàn nàn à?” “Phải, chắc chắn như thế, thưa cô,” tôi đáp. Cô ấy liếc nhìn anh trai, ông Hiệu trưởng, với ánh mắt đầy ngụ ý rồi bảo tôi: “Trước hết, xin hãy đứng lên đi. Chúa ơi, cứ nằng nặc đòi hỏi mới dữ làm sao! Rồi bây giờ hãy đi theo tôi. Cậu có thể ngủ ở chỗ khác cũng chẳng sao.” Cô ấy đưa tôi đến căn phòng mà hiện giờ tôi đang ở, cho tôi xem rồi hỏi: “Cậu có thích phòng này không?” Tôi đủ trơ tráo để nói: “Phòng chật quá. Ở nhà tôi mấy cửa sổ đều có rèm che. Và ánh nắng rọi vào những căn phòng ở đó. Ở đây chỉ có một cái giường hẹp và một bồn rửa mặt. Ở nhà tôi các phòng đều đầy đủ tiện nghi. Nhưng xin đừng giận, Fräulein Benjamenta. Tôi thích chỗ này, và cảm ơn cô. Ở nhà tôi thì đẹp hơn, thân thiện hơn và trang nhã hơn, nhưng ở đây cũng rất dễ chịu. Xin hãy thứ lỗi vì tôi đã nói ra chuyện so sánh ở đây với ở nhà tôi như thế nào, và có trời mới biết còn chuyện gì khác nữa. Nhưng tôi thấy căn phòng này cũng rất là, rất là đẹp. Nói thật, cái cửa sổ trên kia khó có thể gọi là cửa sổ. Và mọi thứ chắc chắn giống như một cái ổ chuột, hoặc cái chuồng chó. Nhưng tôi thích nó. Và tôi nó với cô như thế thật là xấc láo và vô ơn, phải không? Có lẽ tốt nhất là cô đừng cho tôi ở căn phòng này nữa, mặc dù tôi thật sự thấy căn phòng này tốt lắm, và cô hãy ra lệnh buộc tôi phải ngủ với những người khác. Các bạn của tôi chắc chắn là đã cảm thấy bị xúc phạm. Còn cô đang tức giận đó, thưa cô. Tôi thấy mà. Điều này khiến tôi rất buồn.” Cô ấy bảo tôi: “Cậu là một đứa ngu ngốc, và bây giờ cậu hãy im đi.” Và cô ấy vẫn mỉm cười. Mọi chuyện thật ngu ngốc làm sao, vào ngày đầu tiên đó. Tôi thấy xấu hổ, và tôi còn xấu hổ cho tới giờ, khi nghĩ rằng mình đã hành xử không đúng mực như thế nào. Tôi đã ngủ rất trằn trọc trong đêm đầu tiên. Tôi nằm mơ thấy cô giáo đó. Còn về căn phòng của riêng tôi, cho đến ngày nay tôi rất sẵn lòng cho một hoặc hai người khác ở chung. Ta gần như luôn phát điên khi ta nhút nhát trước mọi người.

Herr Benjamenta là một người khổng lồ, và đám học sinh chúng tôi là những chú lùn bên cạnh gã khổng lồ này, người lúc nào cũng khá cộc cằn. Là người dẫn dắt và chỉ huy của một đám đông những kẻ nhỏ bé, tầm thường như bọn chúng tôi, chắc chắn ông ta buộc phải cáu kỉnh thôi, điều hết sức đương nhiên, vì đây là một nhiệm vụ không bao giờ phù hợp với quyền uy của ông ta: chỉ cai trị bọn tôi. Không, Herr Benjamenta có thể làm những chuyện hoàn toàn khác. Một người to khoẻ như Hercules như vậy, khi ông ta đứng trước một công việc vặt vãnh như là chuyện dạy dỗ chúng tôi thì không thể nào mà không ngủ gục, hay là gầm gừ và trầm ngâm trong lúc đọc báo. Con người ấy thật sự đã nghĩ gì khi quyết định lập ra cái trường này? Về mặt nào đó, điều này khiến tôi đau lòng, và cảm giác này càng làm tăng thêm sự tôn trọng mà tôi dành cho ông ta. Lúc tôi bắt đầu ở đây, tôi nhớ là vào buổi sáng ngày thứ hai, giữa ông ta và tôi đã có một cuộc cãi vã nhỏ, nhưng lại dữ dội. Tôi đi vào văn phòng ông ta, nhưng tôi không thể mở miệng. “Ra ngoài lại đi! Xem thử cậu có thể đi vào phòng như một người đàng hoàng không,” ông ta nói với giọng khắt khe. Tôi đi ra và sau đó tôi gõ cửa, điều mà lúc nãy tôi đã quên mất không làm. “Vào đi,” một tiếng nói vang lên, rồi tôi đi vào và đứng đó. “À, cậu không định cúi chào sao? Và bước vào thì ta phải nói gì?” Tôi cúi chào và nói lí nhí: “Xin chào Hiệu trưởng.” Ngày nay, tôi đã được huấn luyện kỹ đến mức tôi có thể dõng dạc rống lên cái câu “Xin chào Hiệu trưởng” này. Vào thời đó, tôi căm ghét cái kiểu cư xử lịch sự và phục tùng này, do tôi có biết gì đâu. Điều mà lúc ấy tôi thấy là buồn cười và ngớ ngẩn thì bây giờ lại có vẻ đúng và hay. Herr Benjamenta thốt lên: “Nói to lên, thằng ranh con.” Tôi đã phải lặp lại câu “Xin chào Hiệu trưởng” năm lần. Chỉ đến lúc đó ông ta mới hỏi tôi muốn gì. Tôi đã nổi nóng lên và nói: “Ở đây chẳng học hành được cái gì cả và tôi không muốn ở lại nữa. Xin trả lại tiền cho tôi và rồi tôi sẽ rời khỏi nơi này. Giáo viên ở đây đi đâu rồi? Có kế hoạch, có ý tưởng gì cho chúng tôi làm không? Chẳng có cái gì cả. Rồi tôi sẽ rời khỏi đây. Không một người nào, dù là ai đi nữa, ngăn được tôi rời khỏi nơi tăm tối và bí hiểm này. Tôi cũng là con nhà danh giá nên đâu thể để cho mình bị quấy nhiễu bởi những quy định ngớ ngẩn của ông. Nói thật, tôi không có ý định chạy về với cha mẹ tôi đâu, không hề, nhưng tôi sẽ đi ra ngoài đường và bán mình làm nô lệ. Chẳng có hại gì cả.” À, tôi đã nói rồi. Hôm nay tôi suýt nữa đã cười lăn lộn khi nhớ lại cách xử sự ngớ ngẩn này. Vào lúc đó tôi lại cảm thấy mình hoàn toàn nghiêm túc. Nhưng ông Hiệu trưởng không nói một lời. Tôi đã định nói thẳng vào mặt ông ta một điều gì thô lỗ và xúc phạm. Rồi ông bình thản nói: “Tiền đã nộp rồi thì sẽ không được trả lại. Còn về cái ý kiến ​​ngu ngốc của cậu cho là không học được gì ở đây thì cậu đã lầm, vì cậu có thể học được. Trước tiên là học để biết môi trường xung quanh cậu. Các bạn học của cậu rất đáng để cậu làm quen. Nói chuyện với họ đi. Tôi khuyên cậu, hãy bình tĩnh. Phải ngoan ngoãn bình tĩnh.” Cái câu “phải ngoan ngoãn bình tĩnh” mà ông ta thốt ra cứ như đang trầm tư lại chẳng có một chút quan tâm nào đến tôi. Ông ta vẫn cúi gằm, như thể muốn tôi hiểu ông ta có ý tốt như thế nào, nhân từ như thế nào. Ông ta chứng tỏ với tôi là ông đang lơ đãng, rồi lại im lặng. Tôi biết làm gì đây? Herr Benjamenta lại bận rộn đọc báo nữa rồi. Tôi có cảm tưởng như một cơn bão khủng khiếp, không thể hiểu nổi, đang tràn đến đe doạ. Tôi cúi đầu thật sâu, gần như chạm đất, trước ông ta, kẻ không còn chú ý đến tôi nữa, và tôi nói, theo các quy định bắt buộc, “Tạm biệt Hiệu trưởng,” đập hai gót chân vào nhau, đứng nghiêm, quay lưng, không, nói cách khác, tôi dò dẫm tìm nắm cửa, vẫn tiếp tục nhìn vào mặt ông Hiệu trưởng, và không quay lại, tự tống mình qua khung cửa và đi ra ngoài. Như vậy là nỗ lực cách mạng của tôi đã kết thúc. Kể từ đó không còn những cuộc cãi cọ ngoan cố nữa. Lạy Chúa, và tôi đã bị đánh bại. Ông ta đã đánh bại tôi, ông, kẻ mà tôi cho là có tấm lòng thực sự quảng đại, và tôi không hề nhúc nhích, không mảy may chớp mắt, và ông ta thậm chí còn không lăng mạ tôi. Chính điều đó lại khiến tôi đau đớn, và không phải đau cho bản thân mình mà là cho ông Hiệu trưởng. Thực ra, tôi luôn nghĩ đến ông ta, về cả hai người đó, ông ta và cô em, về cách họ tiếp tục sống ở đây cùng với đám học sinh chúng tôi. Họ luôn làm việc gì trong đó, trong căn hộ của họ? Họ làm cách nào để bận rộn được chứ? Họ có nghèo không? Nhà Benjamenta có nghèo không? Ở đây có những “Phòng Nội Bộ.” Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa bước chân vào trong đó. Kraus thì có, hắn có đặc quyền, bởi vì hắn rất trung thành. Nhưng Kraus không muốn tiết lộ một điều gì về tình trạng căn hộ của ông Hiệu trưởng. Hắn chỉ trố mắt nhìn tôi khi tôi đặt câu hỏi về chuyện này, và không hé răng. Ồ, Kraus đúng là biết im lặng. Nếu tôi là một ông chủ, tôi sẽ nhận Kraus làm người hầu hạ mình ngay lập tức. Nhưng có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ xâm nhập vào những căn phòng nội bộ này. Và khi đó mắt tôi sẽ khám phá được điều gì? Có lẽ chẳng có gì đặc biệt cả? Ồ, có, có một điều gì đó đặc biệt. Tôi biết, có những điều kỳ diệu ở đâu đó tại đây.

Có một điều là đúng, ở đây không hề có thiên nhiên. Thật vậy đó, nói cho cùng đây là thành phố lớn mà. Ở nhà thì nhìn gần xa nơi nào cũng có cảnh vật. Tôi nhớ là mình luôn nghe thấy tiếng chim hót líu lo khắp các nẻo đường. Những dòng suối luôn róc rách chảy. Ngọn núi nhiều cây cối oai vệ vươn cao bên trên thành phố ngăn nắp ấy. Trên hồ nước gần đó, chiều chiều ta lại đi thuyền gondola. Chỉ đi bộ một quãng ngắn là ta gặp vách đá và rừng cây, đồi núi và cánh đồng. Lúc nào cũng có có tiếng nói và hương thơm. Và đường sá trong thành phố giống như những lối đi trong vườn, trông chúng thật mềm mại và sạch sẽ hết sức. Những ngôi nhà trắng tinh nghịch lấp ló sau những khu vườn xanh tươi. Ta sẽ thấy các bà các cô mà ai cũng biết, chẳng hạn như bà Haag, đi dạo ở phía bên kia hàng rào công viên. Đúng là ngớ ngẩn thật, dù sao thì thiên nhiên, núi, hồ, sông, thác nước sủi bọt, những tán lá xanh, và đủ thứ tiếng hát và âm thanh nằm ngay trong tầm tay. Nếu ta đi dạo thì chẳng khác gì đi trên trời, vì ta thấy bầu trời xanh ở khắp nơi. Nếu đứng tại chỗ, ta có thể nằm dài xuống đất và lặng lẽ thả mơ mộng lên ​​không trung, vì có thảm cỏ hoặc rêu dưới lưng ta. Và những cây thông thơm tuyệt vời mùi gia vị cay nồng. Tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy một cây thông núi nữa sao? Thực ra điều ấy không phải là bất hạnh. Phải từ bỏ một cái gì đó: việc ấy cũng có hương thơm và sức mạnh của nó. Ngôi nhà uỷ viên hội đồng của chúng tôi không có vườn tược gì, nhưng mọi thứ xung quanh đều là một khu vườn ngăn nắp, thơm tho và xinh đẹp. Hy vọng là tôi không còn khát khao. Vớ vẩn. Ở đây cũng tốt mà.

Mặc dù chẳng có gì đáng gọi là râu để cạo, thỉnh thoảng tôi vẫn chạy đến tiệm cắt tóc, chỉ để ngao du trên phố, và để cạo râu. Tay phụ việc cho ông thợ cắt tóc hỏi tôi có phải là dân Thuỵ Điển không. Dân Mỹ? Cả hai đều không phải. Dân Nga? Chà, vậy thì dân nước nào? Tôi thích trả lời những câu hỏi nhuốm màu tinh thần dân tộc như vậy bằng một sự im lặng sắt đá, và để mặc cho những người hỏi không biết gì về tình cảm yêu nước của tôi. Hoặc tôi sẽ nói dối và bảo rằng tôi là dân Đan Mạch. Một số kiểu thành thật nào đó chỉ gây hại và nhàm chán. Có khi nắng như đổ lửa trên những con phố sôi động này. Hoặc mọi vật sẽ bị bao trùm trong mưa, điều mà tôi cũng rất thích. Mọi người thân thiện, mặc dù tôi đôi khi cũng táo tợn không thể tả. Thường vào giờ ăn trưa, tôi sẽ ngồi thừ ra trên một băng ghế. Cây cối trong công viên hoàn toàn không màu. Những chiếc lá rủ xuống một cách khác thường, trông nặng như chì. Có khi, cứ như thể mọi thứ ở đây đều được làm bằng kim loại và sắt mỏng. Rồi mưa đổ xuống và làm ướt tất cả. Những cái ô mở ra, xe chạy ầm ầm trên đường nhựa, mọi người vội vã, các cô gái vén váy lên. Có cái gì đó hết sức thân thuộc khi nhìn thấy đôi chân thò ra dưới gấu váy. Một cái chân của phụ nữ như vậy, mang vớ dài bó sát, ta chưa từng thấy, và bây giờ đột nhiên ta thấy. Đôi giày ôm khít thật đẹp vào hình dáng của đôi bàn chân mềm mại xinh xắn. Rồi mặt trời lại sáng soi. Một cơn gió nhẹ thổi qua, và rồi ta nhớ nhà. Phải, tôi nghĩ đến Mẹ. Bà sẽ vẫn còn khóc hoài. Tại sao tôi không viết thư cho Mẹ? Tôi không biết tại sao, không thể hiểu được, và vẫn lưỡng lự không thể viết. Chỉ vậy thôi: Tôi không muốn kể chuyện gì cả. Thật ngu ngốc. Thật tiếc, tôi lẽ ra không nên có cha mẹ yêu thương mình. Tôi không muốn được yêu thương và mong mỏi chút nào. Họ sẽ phải làm quen với chuyện không có đứa con trai nữa.

Được giúp ích một người nào đó mà ta không biết, và là người không liên quan gì đến ta, là một việc hấp dẫn, nó cho ta thoáng thấy được những thiên đường thần thánh và mờ ảo. Ngay cả lúc đó: tất cả mọi người, hoặc gần như tất cả, đều có liên quan đến ta. Những người qua lại, họ có liên quan gì đó với tôi, chắc chắn là thế. Tất nhiên, chuyện này đúng là riêng tư. Tôi bước đi, nắng toả sáng, và rồi đột nhiên tôi thấy một con chó con rên ư ử dưới chân mình. Lập tức tôi thấy ngay con vật xa xỉ bé bỏng này đã mắc kẹt hai cái chân nhỏ nhắn trong cái rọ mõm. Nó không đi được nữa. Tôi cúi xuống và cái đại hoạ này trở thành dĩ vãng. Bây giờ, cô chủ của con chó mới đi tới. Cô ấy nhìn thấy chuyện đã xảy ra, và cảm ơn tôi. Tôi ngả mũ chào nhanh cô gái rồi tôi đi tiếp. À, cô nàng đó ở phía sau giờ đang nghĩ rằng trên đời này vẫn còn những chàng trai lịch sự. Cũng tốt thôi. Vậy là tôi có ích cho những người trẻ tuổi nói chung. Và cô gái này, (phải nói là không xinh đẹp chút nào) đã mỉm cười với tôi rạng rỡ biết bao. “Cảm ơn, thưa ông.” A, cô ta đã coi tôi là một quý ông cao cả. Phải, khi ta biết cách cư xử, ta sẽ là một quý ông cao cả. Và khi ta nói lời cảm ơn là ta kính trọng người mà ta đang cảm ơn. Người nào mỉm cười đều xinh đẹp cả. Mọi phụ nữ đều đáng được nhận sự lịch sự. Phụ nữ nào cũng có một điểm gì đó tinh tế ở bản thân. Tôi đã thấy những chị thợ giặt có phong thái như bà hoàng. Thật hài hước quá chừng, ôi, hài hước hết sức. Và trời nắng lên dữ dội, rồi tôi chạy như bay! — chạy ngay vào cửa hàng: tôi đi chụp ảnh ở đó. Herr Benjamenta muốn có một ảnh chụp của tôi. Và sau đó tôi phải viết một bản tường thuật ngắn gọn và trung thực về cuộc đời mình. Vậy có nghĩa là cần có giấy. Thế là tôi có thêm niềm vui bước vào tiệm văn phòng phẩm.

Anh bạn Schilinski là dân gốc Ba Lan. Cậu ta nói một thứ tiếng Đức ba rọi hấp dẫn. Thứ gì ngoại lai cũng đều có vẻ cao quý, tôi không hiểu tại sao. Niềm tự hào lớn lao của Schilinski là một chiếc ghim cà-vạt có thể đánh lửa bằng điện mà cậu ta bằng cách nào đó đã có được. Cậu ta cũng rất thích quẹt những que diêm, thích lắm. Điều đặc biệt là ta thường thấy Schilinski trau chuốt bộ đồ vest, đánh giày và chải bụi cho chiếc mũ két. Cậu ta thích tự ngắm mình trong chiếc gương bỏ túi rẻ tiền. Tất nhiên, đám học sinh chúng tôi ai cũng có một chiếc gương bỏ túi, mặc dù chúng tôi thực sự không biết phù phiếm là gì. Schilinski mảnh khảnh, có khuôn mặt đẹp và mái tóc xoăn mà cậu chải chuốt suốt ngày không biết mệt. Cậu ta hay nói là thích có một con ngựa con. Chải lông và tỉa tót cho con ngựa, rồi cưỡi đi chơi, là ước mơ thích nhất của cậu ta. Năng lực trí tuệ của cậu ta thì yếu kém. Cậu ta chậm hiểu lắm, trong trường hợp của Schilinski thì ta không nên nói đến chuyện đầu óc nhanh nhạy. Nhưng mà cậu ta không hề ngu ngốc, có lẽ là trí tuệ hạn chế thôi, nhưng tôi không thích nói như vậy khi nghĩ đến những người bạn đồng môn. Còn tôi là đứa thông minh nhất trong đám lại là chuyện có lẽ không hoàn toàn thú vị cho lắm. Nhiều suy nghĩ và ý tưởng thì có ích gì nếu ta thấy mình không biết phải làm gì với chúng, giống như tôi đây này? Đằng nào cũng thế. Không, không, tôi sẽ cố nhìn nhận mọi việc một cách rõ ràng và tôi không muốn lên mặt ta đây, tôi không bao giờ muốn cảm thấy mình vượt trội hơn so với mọi người xung quanh. Schilinski rồi sẽ gặp may mắn trong đời. Phụ nữ sẽ thích cậu ta hơn, nhìn bộ dạng của cậu ta thì biết, đúng là mẫu người trong mộng của các nàng. Khuôn mặt và bàn tay cậu ta có nước da nâu sáng, khiến ta nghĩ đến một thứ gì đặc biệt, và đôi mắt cậu đầy vẻ rụt rè như mắt nai. Đôi mắt quyến rũ. Cậu ta có thể là chàng quý tộc hoàn hảo ở vùng quê. Phong thái của Schilinski khiến ta nghĩ đến một vùng điền trang, nơi lối sống thành thị và nông thôn, những điều tinh tế và thô thiển, hòa quyện thành một tính chất nhân văn phong nhã và mạnh mẽ. Cậu ta đặc biệt thích tha thẩn dạo quanh, và đi trên những con phố sôi động nhất, mà đôi lúc tôi cũng đi cùng, trước nỗi kinh hoàng của Kraus, đứa căm ghét sự nhàn rỗi và hay hoạnh hoẹ và khinh miệt chuyện đó. “Vậy là hai tụi bay lại ra ngoài chơi bời phải không?” — đó là kiểu chào đón của Kraus khi chúng tôi trở về. Tôi sẽ có nhiều điều để nói về Kraus. Hắn là đứa thật thà và có năng lực nhất trong đám học sinh chúng tôi, và thật thà với năng lực là những phạm vi không có giới hạn, không thể đo lường được. Không gì có thể kích thích tôi sâu xa cho bằng hình ảnh và mùi vị của những điều tốt đẹp và chính đáng. Ta sẽ mau chóng đi đến tận cùng cảm xúc với những điều thô tục và xấu xa, nhưng việc hiểu được những điều tốt đẹp và cao quý lại rất khó, và cũng làm ta say mê. Không, thói hư tật xấu không làm tôi quan tâm mấy, chẳng thể nào bằng những đức tính tốt. Bây giờ tôi sẽ phải nói về Kraus và tôi thực sự sợ hãi chuyện đó. Làm bộ đứng đắn à? Từ khi nào vậy? Tôi mong là không.

Bây giờ ngày nào tôi cũng đến cửa hàng hỏi xem ảnh chụp của tôi sao chưa làm xong. Mỗi lần tôi đều có thể đi thang máy lên tầng cao nhất. Tôi thấy chuyện đó khá thú vị, và phù hợp với những trò vô nghĩa khác của mình. Khi đi thang máy, tôi thực sự cảm thấy mình là đứa con của thời đại. Người khác có nghĩ vậy không? Tôi vẫn chưa viết bản tự thuật của mình. Tôi thấy hơi lúng túng khi phải kể ra sự thật đơn giản về quá khứ của tôi. Kraus càng ngày càng nhìn tôi với vẻ trách móc hơn. Điều đó lại rất hợp ý tôi. Tôi thích thấy những người tôi yêu thương nổi giận một chút. Không có gì làm tôi thích bằng việc tạo ra một hình ảnh hoàn toàn sai lệch về bản thân mình đối với những người mà tôi đã yêu quý. Có lẽ làm thế là bất công, nhưng chuyện đó lại táo tợn cho nên nó thích hợp. Tất nhiên, với tôi thì trò này hơi bệnh hoạn một chút. Cho nên tôi tưởng tượng rằng sẽ thật hay ho khôn tả khi phải chết với ý ​​thức khủng khiếp là tôi đã xúc phạm bất kỳ ai mình yêu quý nhất và đã khiến cho họ có đầy ý nghĩ ​​xấu về tôi, chẳng hạn thế. Sẽ chẳng ai hiểu được điều đó, hoặc chỉ người nào cảm nhận được những rung động của vẻ đẹp trong sự bất chấp. Phải chết thảm hại, vì một trò tai ác nào đó, một sự ngu xuẩn nào đó. Thế không đáng mong muốn sao? Không, chắc chắn là không. Nhưng mấy chuyện đó đều là những trò ngu thuộc loại tệ hại nhất. Vào lúc này, có chuyện gì đã xảy ra với tôi và vì một lý do nào không rõ, tôi thấy mình buộc phải nói ra điều này. Cách đây một tuần hoặc hơn, tôi vẫn còn mười đồng mark. Ồ, bây giờ thì mười mark ấy đã tiêu tùng. Có một hôm tôi đã bước vào một nhà hàng, loại có các nữ nhân viên phục vụ. Tôi bị lôi cuốn vào nơi này không cưỡng lại được. Một cô gái lao về phía tôi và bắt tôi ngồi xuống sofa. Tôi biết mang máng chuyện này sẽ có kết cuộc ra sao. Tôi kháng cự lại, nhưng không có một chút gì mạnh mẽ. Tôi đúng là không cần, nhưng vẫn cứ làm. Đúng là thích thú vô cùng khi đóng vai một quý ông lịch sự và hạ mình chiếu cố trước cô gái đó. Chỉ có hai chúng tôi ở đó, và chúng tôi đã làm những trò ngớ ngẩn hay ho nhất. Chúng tôi uống rượu. Cô ta liên tục chạy đến quầy mang đồ uống tới. Cô ta cho tôi xem cái nịt bít-tất đẹp của cô và tôi kề môi mình vào đó mà mơn trớn. A, ta thật ngớ ngẩn quá. Cô ta tiếp tục đứng dậy và lấy thức uống mới. Và đi mới nhanh làm sao. Đúng là cô ta muốn kiếm một món tiền nhỏ dễ dàng từ anh chàng khờ khạo này mà thôi. Tôi biết thừa, nhưng chính vì thế mà tôi lại thích — việc cô ta nghĩ là tôi ngu. Đúng là hết sức suy đồi: thầm khoái trá trong lòng khi được quan sát một người đang bị ăn cướp nhẹ nhàng. Nhưng mọi chuyện đó đối với tôi lại có vẻ mê hoặc làm sao. Xung quanh tôi, mọi thứ đều mờ dần trong tiếng nhạc thánh thót vuốt ve. Cô gái đó là người Ba Lan, thon thả và mềm mỏng, và tội lỗi đến tuyệt diệu. Tôi nghĩ: “Đi tong mười mark rồi.” Thế là tôi hôn cô ta. Cô ta nói: “Nói em nghe, anh là loại người nào? Anh cư xử như nhà quý tộc ấy.” Tôi hít lấy hít để mùi thơm tỏa ra từ cô ta. Cô ta để ý thấy và nghĩ rằng điều đó là tao nhã. Và thực tế: hạng người vô lại nào, không chút cảm xúc với tình yêu và vẻ đẹp, mà lại đến những nơi chỉ có khoái cảm mới tha thứ cho những trò sa đoạ đã làm? Tôi đã nói dối rằng tôi là người chăn ngựa. Cô ta nói: “Ồ, không, anh cư xử quá đẹp nên không phải như vậy đâu. Bây giờ thì hãy “chào sân” đi nào.” Và thế là tôi đã làm cái trò mà người ta gọi là “chào sân” ở những nơi như vậy, nói cách khác, cô ta giải thích cho tôi biết, vừa cười đùa vừa hôn tôi, và rồi tôi đã làm chuyện đó. Một lúc sau tôi thấy mình trên phố chiều, nhẵn túi, không còn một xu. Bây giờ tôi cảm thấy thế nào về việc này? Tôi không biết. Nhưng có một điều tôi biết: Tôi phải kiếm cho được ít tiền. Nhưng bằng cách nào đây?

Gần như mỗi sáng sớm đều có một cuộc đấu khẩu thì thầm giữa tôi và Kraus. Kraus luôn tin rằng hắn phải thúc đẩy tôi làm việc. Có lẽ hắn cũng không sai hoàn toàn khi cho rằng tôi không thích dậy sớm. Tôi chắc chắn thích dậy sớm, nhưng tôi cũng thấy rất đã khi nằm nướng trên giường lâu hơn một chút. Nhiều lúc việc không phải làm gì cả lại có sức lôi cuốn đến mức ta không cưỡng lại được. Cho nên tôi rất thích mọi kiểu cưỡng bức, bởi vì nó cho tôi được tận hưởng những gì bị cấm đoán. Nếu chẳng có điều răn đe nào, bổn phận nào trên đời, tôi sẽ chết, đói khát, què quặt vì buồn chán. Tôi phải được thúc đẩy, ép buộc, kiểm soát chặt. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tôi. Rốt cuộc thì chính tôi là người quyết định, chỉ có tôi thôi. Tôi thường khiêu khích cho cái luật lệ cau có kia nổi nóng một chút, rồi sau đó cố làm cho nó nguôi giận. Kraus là hiện thân của tất cả quy định ở Trường Benjamenta này, do đó tôi luôn thách thức những đứa giỏi nhất trong đám bạn học của tôi để có trò gây gổ gì đó. Tôi sẽ phát ốm nếu không được cãi nhau, và tuyệt thay, Kraus lại rất thích hợp với chuyện cãi vã, trêu chọc. Hắn luôn đúng: “Đã tới lúc phải thức dậy rồi đó, đồ lười chảy thây!” Và tôi luôn sai: “Ừ, ừ, chịu khó chút, tôi dậy ngay.” Người sai luôn đủ xấc xược thách thức lòng kiên nhẫn của người đúng. Đúng luôn nóng nảy, còn sai luôn tỏ có phong thái điềm tĩnh ngạo nghễ và láo lếu. Kẻ có hảo ý hết sức mạnh mẽ (Kraus) luôn chịu thua kẻ rất lơ mơ về những gì tốt đẹp và cần thiết (tức là tôi). Tôi chiến thắng, bởi vì tôi vẫn tiếp tục nằm trên giường, còn Kraus giận run người, bởi vì hắn cứ phải đập cửa một cách vô ích, cứ phải giậm chân và nói: “Dậy ngay đi, Jakob! Ngay bây giờ! Chúa ơi, đúng là đồ lười chết xác.” À, tôi thật là thích những người dễ tức giận. Kraus tức giận với lý do nhỏ nhặt nhất. Thế mới hay, mới hài hước, mới xuất sắc biết bao. Và hai đứa chúng tôi rất hợp với nhau. Kẻ tội lỗi phải luôn đối mặt với người bị xúc phạm, nếu không thì sẽ thiếu đi một cái gì đó. Rồi khi tôi cuối cùng đã bước xuống giường, tôi cứ làm như thể mình đang đứng lì ra đó. Thế là hắn nói: “Bây giờ thì nó lại đứng há hốc mồm ra kìa, thằng ngu, thay vì làm việc gì đó.” Những chuyện như thế mới tuyệt làm sao. Đối với tôi, tiếng cằn nhằn của một người cáu kỉnh còn hay hơn tiếng róc rách của con suối trong rừng, với ánh nắng đẹp nhất của buổi sáng Chủ nhật rọi chiếu lấp lánh. Con người, con người, chỉ có con người! Phải, tôi cảm nhận điều đó hết sức mạnh mẽ: Tôi yêu mọi người. Những trò điên khùng và sự nổi nóng bất ngờ của họ đối với tôi còn đáng yêu và quý giá hơn những kỳ quan tinh vi nhất của tạo hoá. — Đám học sinh chúng tôi phải quét dọn lớp học và văn phòng vào sáng sớm, trước khi các cấp trên thức dậy. Hai đứa chúng tôi thay nhau làm công việc đó. “Thức dậy ngay đi. Mày đã xong chưa?” Hoặc: “Mày sẽ không hả hê được bao lâu đâu.” Hoặc: “Dậy mau, dậy mau. Tới giờ rồi. Mày lẽ ra đã phải cầm cây chổi trong tay từ lâu rồi.” Thật thú vị làm sao! Và Kraus, anh chàng Kraus giận dữ kinh niên, tôi yêu mến hắn biết bao.

Tôi phải kể lại ngay từ đầu lần nữa, vào cái ngày đầu tiên ấy. Giờ giải lao, Schacht và Schilinski, hai đứa lúc đó tôi chưa quen biết, chạy vào bếp và lấy đồ ăn sáng, đặt trên đĩa, mang vào lớp học. Tôi cũng được cho ăn món gì đó, nhưng tôi không đói, tôi không muốn động vào một thứ gì cả. “Mày phải ăn,” Schacht nói với tôi, và Kraus nói thêm: “Mọi thứ trên đĩa phải ăn bằng hết, mọi thứ. Mày hiểu không?” Tôi còn nhớ lúc đó tôi thấy những lời đó thật khó chịu. Tôi cố ăn, nhưng kinh tởm bỏ mứa gần hết. Kraus lách qua đám học sinh đi tới rồi vỗ vai tôi một cách trịnh trọng và nói: “Mày là người mới đến đây, nhưng mày phải hiểu quy định bắt buộc là phải ăn hết tất cả thức ăn. Mày ngạo nghễ đó, nhưng cứ chờ một lúc đi, mày sẽ hết ngạo nghễ nhanh thôi. Mày có nhặt miếng bánh mì bơ và mấy lát xúc xích rơi ngoài đường lên ăn được không? Được không hả? Cứ chờ một lúc xem, rồi mày có lẽ sẽ thấy thèm ăn. Đằng nào thì mày cũng phải ăn hết những thứ còn lại đây, đó là điều chắc chắn. Ở Trường Benjamenta không chấp nhận để thừa lại thức ăn. Tiếp tục ăn đi. Nhanh lên. Chần chừ, lo lắng gì chứ, chắc là mày tưởng mày sang trọng lắm! Mày sẽ bỏ cái thói sang trọng đó sớm thôi, tao nói cho mày biết. Mày không muốn ăn, mày nói thế à? Nhưng tao khuyên mày nên biết thèm ăn đi. Chính vì ngạo nghễ mà mày không thấy thèm ăn đó, chính là thế đấy. Đưa cái đĩa cho tao! Lần này tao sẽ ăn giúp mày cho hết, mặc dù làm vậy là trái quy định. Phải. Bây giờ mày thấy cách người ta ăn chưa? Và như thế này? Và như thế đó? Vậy mới là hay, tao nói cho mày biết.” Lúc đó tôi đã hết sức lúng túng. Tôi thấy ghét cái thằng đang ăn này quá chừng, còn bây giờ? Bây giờ tôi ăn sạch sẽ mọi thứ giống như mọi học sinh khác. Thậm chí tôi còn luôn trông mong từng bữa ăn xoàng được nấu kỹ, và tôi không bao giờ có ý khinh thường chúng nữa. Đúng vậy, lúc đầu tôi thật phù phiếm và ngạo nghễ, bực tức vì cái gì chẳng biết, xấu hổ làm sao chẳng rõ nữa. Mọi thứ, mọi điều lúc đó vẫn hoàn toàn mới mẻ đối với tôi, cho nên trở thành thù địch, và ngoài ra, tôi lúc đó là một đứa ngu ngốc thậm tệ. Tới bây giờ tôi vẫn ngu ngốc, nhưng ngu theo kiểu tinh tế và thân thiện hơn. Và mọi sự đều phụ thuộc vào cách ứng xử thôi. Một người có thể hoàn toàn ngu xuẩn và khờ khạo: chỉ cần hắn ta biết cách thích nghi, biết mềm dẻo và biết cách xê dịch, thì hắn vẫn không lạc lối mà có lẽ còn tìm ra đường sống còn tốt hơn một người khôn lanh và đầy hiểu biết. Cách đó thôi: phải, phải.

Kraus đã sống một đời khổ cực, ngay cả trước khi hắn đến đây. Kraus và người cha, một thuyền trưởng, đã xuôi ngược sông Elbe trên những chiếc sà lan lớn chở than. Hắn đã phải làm việc vất vả, cực nhọc, cho đến một ngày hắn đổ bệnh. Bây giờ hắn muốn trở thành một người hầu, một gia nhân thực sự, cho một ông chủ nào đó, và hắn cứ như được sinh ra để làm chuyện này, với tất cả những đức tính tốt. Hắn sẽ là một người hầu rất tuyệt, vì tướng mạo của hắn không chỉ phù hợp với cái nghề khiêm nhường và phục tùng này, không, cả tâm hồn hắn, toàn bộ bản chất của hắn, toàn bộ tính cách con người của anh bạn tôi, theo nghĩa tốt đẹp nhất, đều có vẻ gì đó giống như đầy tớ. Hầu hạ! Giá như Kraus tìm được một ông chủ tử tế, tôi mong cho hắn như ý. Chắc chắn là có những quý tộc, hay lãnh chúa, nói ngắn gọn là người bề trên, những người không thích hoặc không muốn được hầu hạ một cách chu đáo, những người không biết cách chấp nhận những thành quả thực sự của sự hầu hạ. Kraus có phong thái và hắn chắc chắn sẽ thuộc về một Bá tước nào đó, nói cách khác, một nhà quý tộc hoàn toàn danh giá. Ta không nên để Kraus làm việc như một người lao công hay làm thuê bình thường. Hắn có thể trở thành một người tiêu biểu. Gương mặt hắn đúng là hoàn hảo để thể hiện một giọng điệu, một phong thái nhất định, và ai mà mướn Kraus đều có thể hãnh diện về tướng tá và cách cư xử của hắn. Mướn hắn đi! Phải, đó là câu mọi người thường nói. Và một ngày nào đó sẽ có ai đó đem Kraus cho mướn, hoặc sẽ mướn hắn. Và hắn đang trông mong điều đó, và đó là lý do tại sao hắn rất sốt sắng cố nhồi tiếng Pháp vào cái đầu có phần trì độn của mình. Cái đầu ấy bị làm sao đó khiến hắn khó chịu. Như hắn nói, ở tiệm hớt tóc hắn tự nhiên mọc ra một dấu hiệu phân biệt khá kinh khủng, một vòng hoa lá nhỏ đo đỏ, hoặc ngắn gọn là những đốm lấm tấm đỏ, hoặc thậm chí ngắn gọn hơn, là mụn nhọt. Dù sao thì cũng tệ hại, tất nhiên rồi, nhất là khi hắn sắp gặp một ông chủ tốt và thực sự đàng hoàng. Biết làm sao đây? Tội nghiệp Kraus! Những cái đốm làm hắn xấu xí vẫn không ngăn cản tôi hôn hắn, không hề, ví dụ như có xảy ra chuyện đó. Nói nghiêm túc: Mấy cái đốm đó thực sự không ngăn cản được tôi, vì tôi đâu còn để ý đến những thứ như vậy nữa, tôi không còn thấy nó đẹp nữa. Tôi nhìn thấy tâm hồn đẹp đẽ trên khuôn mặt hắn, và đó là cái tâm hồn đáng được hôn hít, mơn trớn nhất. Nhưng vị lãnh chúa và chủ nhân tương lai sẽ suy nghĩ hoàn toàn khác, tất nhiên, và đó cũng là lý do Kraus bôi thuốc mỡ lên những vết thương vô duyên đã làm hắn xấu xí. Hắn cũng thường dùng gương để theo dõi tiến triển của cách chữa trị này, chứ không phải vì thói phù phiếm vô nghĩa. Nếu không có những tì vết này, hắn sẽ không bao giờ soi gương, vì thế gian này không thể tạo ra được một thứ gì phi viển vông, phi tự mãn hơn là hắn. Herr Benjamenta, người rất quan tâm đến Kraus, thường hỏi han về những cái mụn nhọt và sự tan biến đáng mong mỏi của tai hoạ đó. Vì Kraus chẳng bao lâu nữa sẽ ra đời và đi làm. Tôi sợ cái giây phút hắn rời khỏi trường này. Nhưng chuyện đó sẽ không đến ngay đâu. Tôi nghĩ là Kraus còn phải chữa trị cái gương mặt của hắn rất lâu, chuyện đó tôi không hề muốn như vậy, nhưng tôi lại thầm mong. Rồi hắn sẽ sớm gặp ông chủ của hắn thôi, gặp một người biết quý những phẩm chất của hắn, và tôi sẽ sớm phải chịu mất đi một người mà tôi yêu quý mà hắn không hề hay biết.

Tôi thường viết tất cả những dòng này vào buổi tối, dưới ánh đèn, ở chiếc bàn học lớn, mà đám học sinh chúng tôi, dù đần độn hay không đần độn, vẫn thường phải ngồi ở đó. Kraus đôi khi rất tò mò và nhìn trộm qua vai tôi. Có một lần tôi trách hắn: “Kìa Kraus, nói tôi biết đi, từ bao giờ anh lại bận tâm về những thứ không liên quan đến mình?” Hắn rất bực tức, giống như mọi người khi họ bị bắt gặp trên những con đường bí mật của sự tò mò lén lút. Đôi khi tôi ngồi thừ một mình cho đến tận khuya trên băng ghế trong công viên. Đèn đường bật sáng, ánh điện chói loá rọi xuống qua những khe lá, lỏng và thiêu đốt. Mọi thứ đều nóng và hứa hẹn những điều riêng tư lạ kỳ. Mọi người qua lại. Những tiếng xì xào vẳng đến từ những lối đi ẩn khuất trong công viên. Rồi tôi về nhà và sẽ thấy cửa đã khoá. “Schacht,” tôi gọi khẽ, và anh bạn tôi, như đã sắp xếp, ném chìa khóa xuống sân trong. Tôi sẽ nhón chân đi rón rén, vì quy định là cấm ra ngoài lâu, tôi về phòng và đi ngủ. Và rồi tôi sẽ mơ. Tôi thường mơ thấy những chuyện khủng khiếp. Vì vậy có một đêm tôi mơ thấy mình đánh vào mặt Mẹ, người mẹ thân yêu, xa cách của tôi. Tôi thét lên mới dữ dội sao, và đột ngột tỉnh dậy. Nỗi đau đớn vì việc làm khủng khiếp của mình đã xua tôi ra khỏi giường. Tôi đã tóm lấy mái tóc khả kính của con người thiêng liêng ấy và xô bà ngã xuống đất. Ôi, đừng nghĩ đến những chuyện như thế. Những giọt nước mắt bắn ra như những tia sắc bén từ đôi mắt Mẹ. Tôi vẫn còn nhớ rõ việc bất hạnh ấy đã làm rách toạc miệng bà như thế nào, và bà đã tràn trề đau khổ như thế nào, và rồi đầu bà bật ngửa ra sau như thế nào. Nhưng nhớ lại những hình ảnh này làm gì chứ? Ngày mai, rốt cuộc tôi cũng phải viết bản tự thuật của mình, nếu không tôi có nguy cơ bị mắng nhiếc thậm tệ. Các buổi tối, vào khoảng chín giờ, bọn con trai chúng tôi luôn hát một bài ngắn chúc ngủ ngon. Chúng tôi đứng thành nửa vòng tròn bên cánh cửa dẫn đến các phòng nội bộ, và sau đó cánh cửa ấy sẽ mở ra, Fräulein Benjamenta xuất hiện ở ngưỡng cửa, mặc áo choàng toàn màu trắng, buông rủ kín đáo, và nói với chúng tôi, “Ngủ ngon nhé, các cậu”, rồi ra lệnh cho chúng tôi đi ngủ ngay và dặn chúng tôi phải im lặng. Rồi sau đó, lần nào Kraus cũng tắt đèn trong phòng học, và từ lúc đó, không một tiếng động nhỏ nào được phát ra. Ai cũng phải rón rén lên giường của mình. Đúng là kỳ lạ hết sức. Thế anh em Benjamenta ngủ ở đâu? Trông Fräulein Benjamenta giống như một thiên thần khi cô ấy chúc chúng tôi ngủ ngon. Tôi tôn sùng cô ấy! Vào buổi tối không bao giờ thấy ông Hiệu trưởng. Cho dù có kỳ lạ hay không, điều đó là rành rành ngay trước mắt.

Hình như Trường Benjamenta đã từng có lúc nổi tiếng và nhiều khách hàng hơn bây giờ. Trên bốn vách tường lớp học chúng tôi, có một vách tường treo một bức ảnh lớn, với chân dung của rất nhiều nam sinh đã theo học tại trường này trong năm trước đó. Ngoài ra, lớp học của chúng tôi được trang bị rất sơ sài. Ngoài chiếc bàn khá dài, chừng mười hay mười hai chiếc ghế, một chiếc tủ đứng lớn, một chiếc rương cũ, và vài món đồ không đáng kể khác, trong phòng không có đồ đạc gì cả. Bên trên cánh cửa dẫn đến thế giới vô minh, bí mật của các phòng nội bộ có treo làm vật trang trí trên tường một thanh kiếm của cảnh sát trông khá buồn tẻ cùng với một bao kiếm bắt chéo trông cũng buồn tẻ không kém. Ngự bên trên là một chiếc mũ sắt. Vật trang trí này giống như một biểu tượng, hoặc là dấu hiện tinh tế, về các quy định áp dụng ở đây. Còn tôi thì nếu được tặng tôi cũng không thèm nhận những món trang trí này, thứ có lẽ đã mua ở một tiệm đồng nát. Cứ mỗi nửa tháng, mấy món mũ kiếm đó lại được tháo xuống để lau chùi, một việc phải nói là rất tốt nhưng đúng là hoàn toàn ngu ngốc. Ngoài những đồ trang trí này, trong lớp học có treo những bức ảnh của cố Hoàng đế và Hoàng hậu. Vị Hoàng đế già trông ôn hoà đến khó tin, còn Hoàng hậu lại có diện mạo bình dị như người mẹ. Thường thì đám học sinh chúng tôi rửa sạch lớp học bằng xà phòng và nước nóng, để sau đó mọi thứ đều thơm tho và ngời ngời sự sạch sẽ. Chúng tôi phải tự làm mọi thứ, và với công việc của con sen này mỗi đứa đều quấn một chiếc tạp dề quanh bụng, trong trang phục gợi lên tính phụ nữ đó, chúng tôi không trừ một đứa nào đều trông rất hài hước. Nhưng những ngày lau dọn ấy là những dịp vui của chúng tôi. Sàn nhà được chà sáng trưng, các đồ vật, kể cả những món trong nhà bếp, cũng được kỳ cọ cho đến khi bóng loáng, để làm chuyện đó thì giẻ lau và bột tẩy ê hề. Bàn ghế cũng được ngâm nước, tay nắm cửa được đánh bóng như gương, những ô kính cửa sổ được chúng tôi hà hơi lên và chùi sạch, đứa nào cũng có một nhiệm vụ nhỏ, đứa nào cũng làm một việc gì đó. Vào những ngày lau chùi, kỳ cọ và chà rửa đó, chúng tôi trông như bầy yêu tinh trong truyện cổ tích, những kẻ mà ai cũng biết là thường làm hết những công việc nặng nhọc, vất vả vì lòng tốt phi phàm và trong sáng của họ. Những việc mà đám học sinh chúng tôi làm, chúng tôi làm vì buộc phải làm, còn tại sao chúng tôi phải làm thì không ai biết rõ. Chúng tôi tuân lệnh mà không hề suy xét là mọi chuyện phục tùng vô tư này rồi sẽ được cái gì, và chúng tôi làm mà không hề suy nghĩ xem việc làm của chúng tôi có đúng, có tốt không. Vào một ngày lau dọn như vậy, Tremala, đứa lớn tuổi nhất trong đám, đi đến chỗ tôi và định giở trò. Nó lén đứng sau lưng tôi và lòng bàn tay ghê tởm (bàn tay nào làm chuyện này đều thô bỉ và ghê tởm) chộp vào chỗ kín của tôi, với ý đồ ban cho tôi một ân huệ đáng ghét, gần giống như cù nhột một con vật. Tôi quay phắt lại và đánh tên khốn đó ngã lăn xuống sàn. Thường thì tôi không mạnh như thế, thằng Tremala mạnh hơn tôi nhiều. Nhưng sự tức giận đã cho tôi sức lực vượt trội. Tremala lồm cồm đứng dậy và lao vào tôi, rồi cánh cửa bật mở và Herr Benjamenta xuất hiện. “Jakob, thằng ranh!” ông ta gọi, “lại đây!” Tôi đến chỗ Hiệu trưởng và ông ta không hề hỏi ai đã gây sự đánh nhau, mà vả một cái vào đầu tôi rồi bỏ đi. Tôi định chạy theo và hét vào mặt ông ta rằng ông thật bất công, nhưng tôi kìm chế, suy nghĩ, nhìn qua cả đám con trai kia, và quay trở lại công việc của mình. Kể từ đó tôi không nói một lời nào với Tremala, và nó cũng tránh mặt tôi, nó thừa biết tại sao. Nhưng nó có hối lỗi, hay gì đó tương tự, hay không thì cũng vô nghĩa đối với tôi. Cái chuyện khiếm nhã đó, nói như thế nào nhỉ, tôi đã quên lâu rồi. Hồi trước, Tremala đã từng làm thuỷ thủ tàu biển. Nó là một tên sa đoạ và thích thú những trò đê hèn đó. Ngoài ra, nó cũng chẳng hiểu biết cái quái gì cả, cho nên tôi chẳng quan tâm. Đã xảo quyệt lại còn ngu không chịu nổi: thật chán mớ đời! Nhưng Tremala đã dạy tôi một điều: ta phải luôn đề phòng một chút mọi kiểu hành hung và xúc phạm.

Tôi thường đi ra ngoài đường, và ở đó tôi dường như đang sống trong một câu chuyện cổ tích hoàn toàn hoang dã. Chao ôi là chen chúc và đông đúc, chao ôi là ồn ào và huyên náo! Tiếng la ó, rú rít và những tiếng rù rì náo loạn! Và tất cả mọi thứ đều được lèn chặt lại. Sát bên các bánh xe là mọi người qua lại, trẻ em, thiếu nữ, đàn ông và đàn bà thanh lịch; những ông già và người tàn tật và những người đầu băng bó, ta thấy không thiếu loại nào trong đám đông này. Và người xe lớp lớp thay đổi không ngừng. Những toa tàu điện trông giống như những cái thùng đầy người. Những chiếc xe buýt ì ạch chạy qua như những con bọ khổng lồ vụng về. Rồi những cỗ xe trông giống như tháp canh di động. Mọi người ngồi trên ghế cao ngất ngưởng và lướt qua trên đầu của bất cứ thứ gì đang đi bộ và chạy nhảy bên dưới. Những đám đông mới chen vào giữa những đám đông hiện có, và tất cả cùng lúc vừa đến vừa đi, vừa xuất hiện vừa biến mất dần. Những con ngựa giẫm đạp. Những chiếc mũ tuyệt đẹp trang trí lông chim gật gù trên những cỗ xe mui trần của nhà giàu đang lướt nhanh qua. Tất cả châu Âu đều gửi các mẫu người tiêu biểu của nó đến đây. Giới quý tộc đi kề bên dân thấp hèn và bất lương, mọi người đang đi đến nơi nào chẳng ai biết, và rồi họ lại tới đây và là những người hoàn toàn khác và chẳng ai biết họ từ đâu ra. Ta nghĩ rằng mình có thể đoán được chút ít, và vui mừng vì đã mất công giải đáp lý do. Và mặt trời lấp lánh rọi xuống mọi vật. Nắng chiếu xuống mũi người này, xuống cổ người khác. Những diềm đăng-ten thò ra lấp lánh và bối rối dưới gấu váy. Những con chó nhỏ cưỡi trên đùi những bà già sang trọng ngồi trên xe. Những chiếc vú nẩy về phía ta, bộ ngực phụ nữ bị chèn ép trong quần áo và những hình thù. Và rồi lại có những điếu xì gà ngớ ngẩn cắm trong khe mồm của cánh đàn ông. Và ta nghĩ đến những con đường chưa từng mơ tưởng, những vùng đất mới vô hình, cũng nhung nhúc người như thế. Chiều chiều, từ sáu đến tám giờ, là lúc người nhung nhúc thanh lịch và dày đặc nhất. Đó là giờ giới thượng lưu dạo chơi. Ta thực sự là cái gì trong dòng lũ, dòng sông người đủ loại, không bao giờ cạn kiệt này? Đôi khi tất cả những bộ mặt di động này đều nhuốm màu đo đỏ dưới ánh mặt trời đang lặn. Còn khi trời xám xịt và đổ mưa? Lúc đó tất cả những hình thù ấy, và cả tôi trong số đó, đều hấp tấp bước đi như những ảo ảnh trong mơ dưới màn mưa âm u, tìm kiếm một cái gì đó và có lẽ, dường như không hề tìm ra một thứ gì đẹp đẽ và thích hợp. Ở đây ai cũng tìm kiếm một điều gì, ai cũng khao khát được giàu có và tiền của thừa mứa, ê hề. Ta hấp tấp bước đi. Không, tất cả đều tự kiềm chế, nhưng sự gấp rút, khao khát, khổ sở và bồn chồn lấp loé trong những đôi mắt tham lam. Rồi mọi thứ lại chìm trong ánh nắng trưa nóng bức. Mọi thứ dường như đang ngủ, ngay cả xe cộ, những con ngựa, bánh xe, tiếng động. Và mọi người trông ai cũng đờ đẫn hết sức. Những ngôi nhà cao, trông như muốn sụp đổ, lại có vẻ mơ màng. Các cô gái vội vã đi, tay xách nách mang. Ta muốn vòng tay ôm một ai. Khi tôi về nhà, Kraus ngồi đó và chế nhạo tôi. Tôi nói với hắn rằng ta thực sự cần phải hiểu đời một chút. “Hiểu đời?” hắn nói, như thể đang đắm chìm trong suy nghĩ sâu xa. Và hắn cười khinh bỉ.

Sau khi tôi đến trường này khoảng hai tuần, Hans xuất hiện trong lớp học. Hans là một cậu nông dân bình thường, giống như những cậu bé trong truyện cổ Grimm. Anh ta từ vùng xa nhất ở Mecklenburg đến, và sực nức mùi của đồng cỏ xum xuê đầy hoa, của chuồng bò và trang trại. Anh ta mảnh khảnh, thô kệch và xương xẩu, và anh ta nói một thứ ngôn ngữ nông dân hiền lành, xa lạ, mà thực tế là tôi thích, nếu tôi chịu khó bịt mũi. Không phải vì Hans bốc mùi hôi hay vì cái gì đâu. Thế nhưng đúng là ta phải bịt một loại lỗ mũi nào đó, có lẽ là lỗ mũi tinh thần, lỗ mũi văn hóa hoặc lỗ mũi tâm hồn, và ta không kềm được cho dù ta chẳng hề muốn xúc phạm anh Hans tốt tính. Và anh ta chẳng hề để ý những điều như vậy, chàng dân quê này nhìn và nghe và cảm nhận một cách quá lành mạnh và đơn giản đối với chuyện đó. Một cái gì giống như chính đất cát và những luống cày và con đường quanh co đang đứng trước mặt ta, khi ta nhìn kỹ anh chàng này, nhưng không cần phải nhìn kỹ đâu. Hans không khiến ta phải trầm ngâm suy nghĩ. Không phải là tôi coi thường anh ta, không hề, nhưng, tôi phải nói sao đây, anh ta hơi xa cách và tầm thường. Ta không coi trọng anh ta, bởi vì không có gì ở anh ta gợi lên được một cảm xúc có ý nghĩa. Cậu bé nông dân trong truyện cổ Grimm. Nhìn qua một cái là biết người này hủ lậu và đáng mến, dễ hiểu và rất cần thiết. Rất đáng cho ta thành bạn tốt với kẻ này. Về sau, Hans sẽ làm lụng chăm chỉ, không hề than thở. Anh ta hầu như sẽ không để ý tới những chuyện lao khổ, lo lắng và tai ương. Anh ta tràn trề sinh lực và sức khỏe. Và cũng không xấu trai đâu. Nói chung: Tôi không thể không chế nhạo chính mình: Tôi luôn tìm ra điều gì đó tốt đẹp trong mọi chuyện và về mọi chuyện. Tôi yêu quý hết sức tất cả bọn họ, đám học sinh ở đây, những bạn đồng môn của tôi.

Tôi có phải là dân thành thị bẩm sinh không? Rất có thể. Tôi hầu như không bao giờ sửng sốt hay ngạc nhiên. Bất kể sự kích động có thể tấn công tôi, ở tôi có điều gì đó lạnh lùng khôn tả. Trong sáu ngày tôi đã vứt bỏ hết những thói quen tỉnh lẻ. Tất nhiên, tôi đúng là đã lớn lên trong một đô thị bé tẻo teo. Tôi đã uống cuộc sống thành phố và cảm giác thành phố theo dòng sữa mẹ. Lúc còn nhỏ, tôi đã thấy những người công nhân say rượu hò hét đi lảo đảo ngả nghiêng. Ngay cả khi tôi còn bé xíu, thiên nhiên đối với tôi dường như là một thiên đường xa xôi. Cho nên không có thiên nhiên thì tôi cũng không cần. Vậy nếu ta cũng không có Thượng Đế thì sao? Nhận biết được sự tốt lành, trong sạch và cao cả, ẩn nấp ở đâu đó, một nơi nào mịt mù, và sùng kính và tôn thờ nó một cách hết sức là lặng lẽ, với lòng nhiệt thành hoàn toàn thờ ơ và mơ hồ, có thể nói như vậy: Tôi đã quen với điều đó. Có một hôm khi còn nhỏ, tôi nhìn thấy một ông công nhân người Ý nằm chết dựa vào bức tường, trên vũng máu và bị nhiều vết dao đâm. Và một lần khác, lúc đó là thời Ravachol,[1] đám trẻ chúng tôi bảo nhau rằng chẳng mấy chốc khu vực của chúng tôi trên đời này cũng sẽ bị đánh bom, đại loại thế. Lâu rồi, thời ấy. Tôi định nói một chuyện hoàn toàn khác kia, tức là nói về anh bạn Peter, cậu Peter Lêu Nghêu. Anh chàng cao quá khổ rất buồn cười, cậu ta từ Teplitz ở Bohemia đến đây, và nói được tiếng Slav và tiếng Đức. Cha cậu ta là cảnh sát, và Peter được huấn luyện làm nhân viên trong một xưởng làm dây thừng, nhưng cậu ta hình như đã giả vờ là ngu dốt, vô dụng và bất tài, điều mà tôi thầm thấy rất đáng quý. Peter bảo cậu ta cũng nói được tiếng Hungary và tiếng Ba Lan, nếu được yêu cầu. Nhưng ở đây chẳng có ai yêu cầu cậu ta điều gì như thế cả. Vốn ngôn ngữ mới sâu rộng làm sao! Peter thực sự lại là đứa ngốc nghếch và vụng về nhất trong đám học sinh chúng tôi, và điều đó khiến cậu ta có thêm cả đống vinh quang trong con mắt tầm thường của tôi, vì tôi cực kỳ yêu mến những người ngu ngốc. Tôi ghét cái loại người giả vờ như mình hiểu biết mọi chuyện và lên mặt khoe khoang kiến ​​thức với trí tuệ. Những kẻ xảo quyệt và tinh khôn đối với tôi là hạng ghê tởm không thể tả. Chính ở điểm này mà Peter mới dễ thương biết bao. Cậu ta cao, cao đến mức có thể gãy làm đôi, điều đó cũng hay, nhưng hay hơn nữa chính là cái lòng nhân hậu luôn luôn thầm thì với cậu ta rằng cậu ta là người hào hiệp và có tướng mạo của một tay phóng đãng cao quý và lịch lãm. Mắc cười không chịu nổi. Cậu ta luôn nói về những cuộc phiêu lưu đã trải qua, nhưng chắc là không hề có. Dù sao thì cũng có một điều là sự thật: Peter có chiếc gậy đẹp nhất và sang nhất thiên hạ. Và bây giờ cậu ta luôn ra ngoài và đi dạo trên những con phố tấp nập nhất với cây gậy này trên tay. Một lần tôi gặp cậu ta ở phố F——. Phố F—— là tâm điểm hấp dẫn của đời sống đô thị ở thành phố lớn này. Ngay từ đằng xa, cậu ta đã vẫy tay chào tôi, vừa gật đầu vừa vung cây gậy đó. Sau đó, khi tôi đến gần, cậu ta nhìn tôi với vẻ lo lắng của người cha, như thể muốn nói: “Cái gì? Mày cũng tới đây? Jakob, Jakob, đây đâu phải chỗ dành cho mày.” Và rồi cậu ta kiếu từ, như một ông lớn trên đời, như một chủ bút một tờ báo nổi tiếng quốc tế, người không thể phí phạm một chút thời gian quý giá nào của mình. Và rồi tôi thấy chiếc mũ nhỏ, tròn, xinh, ngớ ngẩn của cậu ta biến mất trong rừng đầu người và mũ nón khác. Như người ta thường nói, cậu ta tan biến vào đám đông. Peter hoàn toàn không học gì cả, mặc dù buồn cười thay, cậu ta thực sự cần phải học, và có vẻ như cậu ta chỉ đến Trường Benjamenta này để được nổi danh bằng sự ngu ngốc tuyệt diệu của mình. Có lẽ cậu ta thậm chí còn ngu hơn tới mấy bậc so với trước kia, mà thật tình thì tại sao sự ngốc nghếch của cậu ta lại không được phép phát triển chứ? Như tôi chẳng hạn, tôi tin rằng Peter sẽ có một số thành công nhục nhã trong đời, và kể cũng lạ, tôi chấp nhận cho cậu ta điều đó. Vâng, tôi thậm chí còn nghĩ xa hơn. Tôi có cảm giác, và đó là một cảm giác rất khoái, râm ran và dễ chịu, rằng một ngày nào đó tôi cũng có được một ông chủ, lãnh chúa và bề trên giống như Peter sẽ có, vì những kẻ ngu xuẩn như thế vốn hay được đề bạt, được thăng chức, được sống sung túc, và được quyền ra lệnh, còn những người có trí thông minh ở một mức độ nào đó, như tôi đây, nên để cho những động lực tốt đẹp của họ nảy nở và cạn kiệt vì hầu hạ kẻ khác. Tôi, tôi sẽ thành một thứ gì đó rất thấp kém và nhỏ bé. Cái cảm giác mách bảo tôi điều này lại giống như một sự thật hoàn toàn và bất khả xâm phạm. Chúa ơi, đằng nào thì tôi cũng có rất nhiều, rất nhiều say mê với cuộc đời? Tôi mắc cái chứng gì vậy? Thường thì tôi cũng hơi sợ hãi chính mình, nhưng chỉ một lúc rồi hết. Không, không, tôi tự tin vào bản thân. Nhưng điều đó há chẳng phải hết sức khôi hài sao?

Tôi chỉ có một lời thôi để nói về thằng Fuchs cùng lớp: thằng Fuchs lươn lẹo, thằng Fuchs xảo trá. Nó nói năng tráo trở chẳng ra làm sao và cư xử như một thứ ất ơ gì đâu nhồi nặn thành hình dáng con người. Mọi thứ ở cái thằng đó đều khó chịu, nên không thể ưa nó được. Tìm hiểu chút gì về thằng Fuchs là một sự sỉ nhục, một việc không cần thiết thô tục và bực mình. Ta chỉ cần biết những đứa lưu manh như vậy để khinh thường thôi; nhưng vì chẳng có ai muốn khinh thường cái gì một chút nào nên ta quên luôn và không để ý tới cái đồ đó. Phải, cái đồ đó. Vì nó chỉ là thứ vô nghĩa. Chúa ôi, sao hôm nay tôi lại độc mồm độc miệng thế này? Tôi phát ghét chính mình vì điều đó. Tìm điều gì đó tốt đẹp hơn cho rồi. — Tôi rất hiếm gặp Herr Benjamenta. Đôi khi tôi vào văn phòng, cúi chào sát đất, nói “Xin chào Hiệu trưởng,” và xin con người quyền uy này cho phép tôi ra ngoài. “Cậu đã viết bản tự thuật chưa?” ông ta hỏi. Tôi đáp: “Chưa. Nhưng tôi sẽ viết.” Herr Benjamenta đi tới chỗ tôi, tức là đến chỗ cái quầy mà tôi đang đứng, và dí cái nắm tay khổng lồ của ông ta trước mũi tôi. “Mày phải nộp đúng thời hạn đó, thằng nhãi, hoặc liệu hồn — mày biết hậu quả sẽ ra sao mà.” Tôi hiểu ý ông ta, tôi lại cúi chào và biến mất. Kỳ cục, tôi lại khoái chọc tức những kẻ thích dùng vũ lực. Có đúng là tôi muốn cái ông Benjamenta này trừng phạt tôi không? Tôi có máu liều mạng chắc? Chuyện gì cũng có thể, mọi chuyện, ngay cả những chuyện đê tiện và hèn hạ nhất. Được lắm, tôi sẽ viết bản tự thuật ngay thôi. Tôi thấy Herr Benjamenta thực sự rất bảnh trai. Một bộ râu màu nâu tuyệt vời — cái gì? Bộ râu màu nâu tuyệt vời? Tôi là thằng khùng. Không, chẳng có gì bảnh trai ở ông Hiệu trưởng cả, chẳng có gì tuyệt vời cả, nhưng đằng sau con người này, ta cảm nhận được những bước đường gian nan của số phận và những cú đấm nặng nề của định mệnh, và chính cái điều rất người này, điều gần như thiêng liêng này, đã khiến ông ta trở nên đẹp đẽ. Con người đích thực và đàn ông đích thực không hề có vẻ đẹp lộ liễu. Đàn ông có bộ râu thật đẹp thường là ca sĩ opera hoặc một quản lý lương cao trong một cửa hàng lớn. Những người sống bề ngoài đều bảnh trai, thường là thế. Tuy nhiên, có thể vẫn có những ngoại lệ và có những mẫu đàn ông đẹp trai đích thực. Ở Herr Benjamenta, khuôn mặt và bàn tay (tôi đã sờ vào bàn tay đó) giống như những chiếc rễ cây sần sùi, những chiếc rễ mà vào một lúc bất hạnh nào đó đã phải chịu đựng mấy nhát rìu tàn nhẫn. Nếu tôi là một phụ nữ quý phái và thông minh, nhất định tôi tôi sẽ biết cách trọng vọng những người đàn ông giống như tay hiệu trưởng rõ ràng là túng thiếu này, nhưng theo tôi nghĩ, Herr Benjamenta lại không giao du với giới thượng lưu ngoài đời. Thực tế là ông ta luôn ở nhà, chắc chắn là ông ta cứ như luôn lẩn trốn, ông ta “chui vào sự cô độc,” và quả thực, con người cao quý và thông minh này phải sống một đời cô đơn khủng khiếp. Chắc hẳn phải có chuyện gì đã xảy ra và để lại một vết hằn sâu xa, thậm chí là có sức tàn phá, trong tính cách đó, nhưng ai mà biết? Là một học sinh ở Trường Benjamenta thì biết cái quái gì được? Nhưng ít ra tôi vẫn luôn tìm hiểu. Để tìm hiểu, tôi thường đến văn phòng không vì lý do gì khác hơn là hỏi con người này những câu vặt vãnh như thế này “Tôi xin phép đi ra ngoài được không, thưa Hiệu trưởng?” Phải, người đàn ông này mê thích tôi, ông ta chú ý đến tôi. Cô giáo cũng khơi dậy trong tôi một sự quan tâm mãnh liệt nhất. Phải, và vì lý do này, để moi được chút bí mật nào đó, tôi chọc tức ông ta để cho ông ta phun ra một lời nào đó giống như một nhận xét bất cẩn. Ông ta đánh tôi thì có hại gì? Khao khát được trải nghiệm của tôi lớn dần thành một cảm xúc lấn át và nỗi đau đớn mà sự bực tức của con người kỳ lạ này gây ra cho tôi chẳng thấm gì so với cái ham muốn run rẩy trong tôi là dụ ông ta nói ra một điều gì đó hớ hênh. Ôi, tôi mơ tưởng — tuyệt vời, tuyệt vời — rằng mình giành được niềm tin mà con người này mới bắt đầu hé lộ. Có thể phải mất nhiều thời gian, nhưng tôi nghĩ, tôi nghĩ cuối cùng tôi sẽ có cách nhìn thấu được bí mật của nhà Benjamenta. Những bí mật khiến ta mơ tưởng đến phép thuật không thể cưỡng lại, chúng có hương thơm của một thứ gì đó đẹp không thể tả được. Ai mà biết, ai mà biết. A…

Tôi yêu sự ồn ào và chuyển động không ngừng nghỉ của thành phố. Cái gì bất tận ắt phải tạo ra khuôn phép. Một kẻ cắp, chẳng hạn, khi hắn thấy mọi người tất bật, sẽ không khỏi nghĩ rằng hắn là phường vô lại như thế nào, và rồi, bao cảnh tượng hối hả, vô tư lự kia có thể cải thiện cái tính cách băng hoại, suy đồi của hắn. Kẻ khoác lác có lẽ sẽ trở nên khiêm tốn và ý tứ hơn khi hắn chứng kiến mọi động lực đang vận hành ở đây, và khi những đám đông mềm dẻo kia thu hút sự chú ý của hắn, kẻ mất tư cách này có thể nhủ thầm rằng hắn hẳn phải là một thằng khốn đáng tởm lắm mới dám lên mặt, một cách ngu ngốc và phù phiếm, ra vẻ tự cao tự đại như vậy. Chính thành phố sẽ dạy dỗ, sẽ uốn nắn, và bằng những điển hình, thế mới hay, chứ không phải bằng giáo điều khô khan của sách vở. Chẳng có gì cao siêu trong chuyện đó cả, và điều đó mới đáng khen, vì sự nghiêm trọng cao vời của tri ​​thức chỉ khiến ta chán nản. Và rồi có rất nhiều thứ ở đây sẽ nuôi dưỡng, duy trì và giúp đỡ ta. Điều này thật khó diễn tả. Mô tả cho sống động về điều gì tốt đẹp quả là khó ghê lắm! Ở đây, ta mang ơn cuộc sống từng chút một, ta luôn thấy biết ơn thêm một chút khi cuộc sống thúc giục người ta, khi ta đang vội vã. Người có thời gian để lãng phí thì không biết thời gian có ý nghĩa gì, và hắn là một kẻ vô ơn ngu ngốc bẩm sinh. Ở thành phố, không có một thằng nhỏ sai vặt nào mà không biết quý trọng thời gian, không có một thằng bé bán báo nào mà coi thường thời gian. Và rồi mọi thứ mới kỳ diệu làm sao, đẹp như tranh và thơ mộng! Mọi người tiếp tục hấp tấp và xô đẩy nhau. À, đấy, điều đó mới quan trọng, điều đó mới kích thích, cho tâm trí thêm một nhịp điệu hăng say hơn. Trong khi ta đang lưỡng lự chần chừ, một trăm người và một trăm chuyện đã lướt qua đầu ta và trước mắt ta, điều này cho thấy rất rõ thế nào là kẻ chậm chạp và kẻ lười nhác. Ở đây ai ai cũng vội vàng như vậy vì người ta nghĩ rằng từng khoảnh khắc đua tranh và giành giật mọi thứ đều thật tuyệt vời. Hơi thở của cuộc sống trở nên mê hoặc hơn. Những vết thương và nỗi đau đớn càng sâu xa hơn, niềm vui thêm hân hoan vui vẻ hơn và lâu hơn ở những nơi khác, bởi vì bất cứ ai ở đây mà vui vẻ thì dường như họ đều luôn trả giá một cách cay đắng và chính đáng cho điều đó bằng sự lao khổ. Và rồi lại có những khu vườn nằm sau những rào dậu mong manh, thật yên tĩnh và lạc lõng, như những góc bí mật trong công viên nước Anh. Kề bên chúng, dòng xe cộ vận tải ồn ào hấp tấp chạy qua, cứ như thể những cảnh đẹp hay giấc mơ chưa từng tồn tại. Xe lửa chạy ầm ầm qua những cây cầu rung rinh. Chiều chiều, những tủ kính bày hàng sang trọng và đắt giá khôn tưởng tỏa sáng, và những dòng người, những đoàn rồng rắn và đợt sóng người cuồn cuộn lướt ngang qua những sản vật quý giá đầy quyến rũ đang trưng bày. Phải, tất cả đều có vẻ huy hoàng và tốt đẹp đối với tôi. Ta hưởng lợi khi ở giữa sự quay cuồng và sôi sục này. Ta có cảm giác thích thú ở chân, ở tay, ở ngực trong khi cố luồn lách thật khéo léo và kín đáo đi qua mọi sự vật sống động này. Vào buổi sáng, tất cả lại hồi sinh, và vào buổi tối, tất cả lại chìm trong vòng tay ôm ấp cuồng nhiệt của một giấc mơ mới chưa được biết đến. Thật thơ mộng hết sức. Fräulein Benjamenta sẽ khiển trách tôi đích đáng nếu cô ấy đọc những dòng tôi đang viết ở đây. Đừng nói đến Kraus, cái đứa không biết say mê phân biệt giữa làng quê và thành thị. Kraus chỉ thấy thứ nhất là con người, thứ hai là bổn phận, và thứ ba là khoản tiền mà nó nghĩ là sẽ để dành mà gửi cho mẹ nó. Kraus luôn viết thư về nhà. Nó được giáo dục đơn giản như con người thường tình. Sự náo động của thành phố lớn với tất cả những điều hứa hẹn điền rồ, lấp lánh, chẳng hề khiến nó xao xuyến. Thật là một tâm hồn con người ngay thẳng, nông cạn và cứng nhắc!

Cuối cùng thì ảnh chụp của tôi đã xong. Bức chân dung, một bức thực sự đẹp, cho thấy tôi đang rất, rất hăng say nhìn ra thế giới. Kraus tính chọc tức tôi và nói rằng tôi trông như dân Do Thái. Rốt cuộc, rốt cuộc hắn cũng bật cười khẽ. “Kraus,” tôi nói, “xin hãy hiểu cho, ngay cả dân Do Thái cũng là con người.” Chúng tôi cãi nhau về chuyện giá trị và vô giá trị của người Do Thái và đó là trò tiêu khiển tuyệt hay. Tôi không biết hắn có ý kiến ​​gì hay ho: “Người Do Thái nắm hết tiền bạc,” hắn nghĩ. Tôi gật đầu, tôi đồng ý và nói: “Chính tiền đã tạo nên dân Do Thái. Một người Do Thái nghèo không phải là dân Do Thái, và những người Cơ đốc giàu có, họ thật đáng sợ, họ chính là hạng dân Do Thái tồi tệ nhất.” Hắn gật đầu. Cuối cùng, cuối cùng tôi đã có được sự tán thành của kẻ này. Nhưng rồi hắn lại tức giận và nói rất nghiêm túc: “Hãy thôi cái trò lảm nhảm này đi! Người Do Thái với người Cơ đốc thì mắc mớ gì? Những người như vậy không tồn tại. Chỉ có người xấu và người tốt thôi. Chỉ vậy thôi. Thế mày nghĩ sao về điều đó, Jakob? Mày thuộc loại nào?” Và rồi bắt đầu một cuộc tranh luận thật là lâu. Ồ, Kraus thích nói chuyện với tôi lắm, tôi biết. Tâm hồn tốt đẹp. Chỉ có điều hắn không muốn thú nhận điều đó. Tôi yêu mến biết bao những kẻ không thích thú nhận! Kraus có cá tính: ta cảm thấy điều đó rõ làm sao. — Tất nhiên, tôi đã viết bản tự thuật của mình, nhưng tôi đã xé vụn. Fräulein Benjamenta hôm qua đã cảnh cáo tôi là phải biết chú ý và nghe lời hơn. Tôi có những ý tưởng hay ho nhất về sự tuân phục và chăm chú, và thật kỳ cục: chúng bay đâu mất. Tôi có đạo đức trong việc tưởng tượng của mình, nhưng khi thực hành đạo đức? Lúc đó thì sao? Ta hiểu mà, lúc đó lại là một chuyện hoàn toàn khác, và rồi ta không làm được, và rồi ta miễn cưỡng. Mà tôi cũng bất lịch sự. Tôi rất muốn tỏ ra nhã nhặn và lịch sự, nhưng khi đụng tới chuyện phải vọt nhanh lên trước cô giáo và kính cẩn mở cửa cho cô ấy, thì cái thằng vô lại nào cứ đứng lì ở bàn kia? Và ai sẽ lao vọt tới như cơn lốc để thể hiện phép lịch sự của nó? A ha, Kraus chứ ai. Kraus là một hiệp sĩ từ đầu đến chân. Quả thật, hắn thuộc về thời Trung cổ, và thật đáng tiếc khi hắn không có Thế Kỷ Mười Hai để tung hoành mặc sức. Hắn là người trung thành, hăng hái phục vụ và biết cung cúc chiều ý một cách kín đáo. Hắn không hề phán xét gì về phụ nữ, hắn chỉ tôn kính họ mà thôi. Cái gì rơi xuống sàn thì ai nhặt lên và nhanh như sóc trao lại cho cô giáo? Ai phóng khỏi nhà để chạy việc vặt? Ai xách giỏ khi cô giáo đi chợ? Ai không cần sai bảo mà vẫn lau chùi cầu thang với nhà bếp? Ai làm tất cả những việc này và không cần cảm ơn? Ai hài lòng với chính mình một cách hết sức vẻ vang, hết sức mạnh mẽ như thế? Hắn tên gì? À, tôi biết đó là ai rồi. Đôi khi tôi thích thằng Kraus này đấm tôi. Nhưng những người như hắn, làm sao họ biết đấm chứ? Kraus chỉ muốn những gì đúng đắn và tốt đẹp. Điều đó nói không ngoa chút nào. Hắn không bao giờ có ý xấu. Ánh mắt hắn ân cần đến đáng sợ. Kẻ này, hắn thực sự đang làm gì trong một thế giới được xây dựng cho những lời rỗng tuếch, dối trá và phù phiếm? Khi nhìn Kraus, ta không khỏi cảm thấy rằng sự khiêm tốn trên đời này đã mất sạch không còn gì trông mong.

Tôi đã bán chiếc đồng hồ của mình, để mua thuốc lá vấn điếu. Tôi có thể sống không cần đồng hồ, nhưng không thể không hút thuốc, chuyện đáng xấu hổ, nhưng là một điều thiết yếu. Bằng cách nào đó tôi phải kiếm được ít tiền nếu không tôi sẽ không còn quần áo sạch để mặc. Cổ áo sạch sẽ là điều tôi không thể thiếu. Hạnh phúc của người ta phụ thuộc, nhưng cũng không phụ thuộc, vào những thứ đó. Hạnh phúc? Không. Nhưng ta phải đàng hoàng. Riêng sự sạch sẽ thôi là một niềm vui. Tôi chỉ nói nhảm. Tôi ghét làm sao tất cả những từ ngữ phù hợp! Hôm nay cô giáo đã khóc. Tại sao? Giữa buổi học, nước mắt cô chợt ứa ra. Điều đó khiến tôi xúc động kỳ lạ. Đằng nào tôi cũng phải theo dõi thật kỹ. Tôi thích lắng nghe cái gì đó không muốn tạo ra tiếng động. Tôi chú ý, và điều đó làm cho cuộc sống đẹp hơn, vì nếu chúng ta không cần phải chú ý thì làm gì có cuộc sống. Rõ ràng là Fräulein Benjamenta đang sầu khổ và đó phải là một nỗi sầu khổ dữ dội, bởi vì thường thì cô giáo của chúng tôi rất tự chủ. Tôi phải kiếm ít tiền. Và một chuyện nữa: Tôi đã viết xong bản tự thuật của mình. Nó như thế này:

TỰ THUẬT

Người ký tên dưới đây, Jakob von Gunten, con nhà danh giá, sinh ra vào ngày tháng năm như thế, lớn lên ở nơi như thế, đã thành học sinh Trường Benjamenta để có kiến ​​thức về đôi điều cần thiết cho việc hầu hạ. Cũng chính kẻ ấy không hề có cao vọng gì trong đời. Y mong muốn được đối xử nghiêm khắc, để y có thể hiểu được ý nghĩa của việc tự kiềm chế. Jakob von Gunten không có nhiều triển vọng, nhưng y có ý muốn cư xử tốt và trung thực. Nhà von Gunten là một dòng họ lâu đời. Thời xưa, nhà này là những chiến binh, nhưng họ đã giảm dần tính hiếu chiến và ngày nay họ là những uỷ viên hội đồng và thương nhân, và người nhỏ tuổi nhất trong nhà, đối tượng của phúc trình này, đã quyết tâm kết thúc hoàn toàn mọi truyền thống kiêu hãnh. Y muốn cuộc đời dạy dỗ y, chứ không phải những nguyên tắc kế thừa hay quý phái. Đương nhiên là y kiêu hãnh, bởi không thể nào y chối bỏ bản chất bẩm sinh của mình, nhưng y lại muốn nói đến sự kiêu hãnh theo một ý nghĩa nào đó hoàn toàn mới mẻ, một điều phù hợp, ở một mức độ nhất định, với thời điểm mà y đang sống. Y hy vọng rằng mình hiện đại, trong phạm vi nào đó phù hợp với các công việc hầu hạ, và không hoàn toàn ngu ngốc và vô dụng, nhưng nói thế là nói dối, y không chỉ hy vọng mà là y khẳng định điều này, và y biết như thế. Y ngang ngạnh, tinh thần bất kham của tổ tiên vẫn còn tồn tại chút gì đó trong y, nhưng y muốn được khiển trách khi y cư xử ngang ngạnh, và nếu điều đó không có tác dụng, thì xin hãy trừng phạt, bởi y tin rằng lúc đó sẽ hiệu quả. Nói chung là cần phải biết cách xử trí với y. Người ký tên dưới đây tin rằng y có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh, cho nên y không quan tâm đến những gì y được lệnh phải làm, y tin chắc rằng bất kỳ công việc nào được thực hiện cẩn thận sẽ cho y một vinh dự lớn lao hơn là ngồi không và sợ sệt trong một cái xó ấm cúng ở nhà. Một người nhà von Gunten sẽ không ngồi trong cái xó ấm cúng. Nếu tổ tiên của kẻ ngoan ngoãn ký tên dưới đây mang thanh kiếm hiệp sĩ, thì hậu duệ của họ cũng noi theo truyền thống đó bằng cách hăng hái làm cho bản thân mình trở nên hữu dụng bằng cách nào đó. Chừng nào dũng khí của y còn được tâng bốc thì lòng khiêm tốn của y không có giới hạn, và nhiệt tình hầu hạ của y cũng không lớn kém tham vọng của y, điều đã khiến y khinh thường những cảm xúc tự ái về danh dự vốn gây cản trở và có hại. Ở nhà, cũng chính người ký tên dưới đây thường cho thầy giáo lịch sử của y, Tiến sĩ Merz khả kính, ăn đòn, một điều thật đáng xấu hổ và khiến y ân hận. Giờ đây y mong được phép nện vào tảng đá lao lực tàn nhẫn cho vỡ tan thói ngông nghênh tự phụ của mình, điều có lẽ vẫn còn kích động y phần nào. Y là người kín tiếng và không bao giờ tiết lộ những chuyện riêng tư. Y không tin vào thiên đường cũng như địa ngục. Sự hài lòng của người thuê mướn sẽ là thiên đường của y, và ngược lại, sự buồn phiền của chủ sẽ là địa ngục hủy diệt của y, nhưng y tin chắc rằng mọi người hài lòng về bản thân y và những việc y làm. Niềm tin vững chắc này cho y lòng can đảm để trở thành con người đích thực của mình:

Jacob von Gunten.

Tôi đã nộp bản tự thuật cho ông Hiệu trưởng. Ông ta đã đọc qua hai lần, tôi nghĩ thế, và có vẻ thích những gì tôi viết, bởi vì một nụ cười mơ hồ thoáng hiện trên môi ông ta. Ồ, hẳn rồi, tôi đã theo dõi con người này rất kỹ. Ông ta đúng là có thoáng cười, đó là và vẫn là một sự thật. Thế là rốt cuộc cũng có một dấu hiệu gì đó của tính người. Ta phải làm những trò nhảy nhót gì đây để kích thích người ta, những người mà ta muốn hôn tay họ, dù chỉ để nhận được từ họ một cử chỉ thân thiện rất phù du! Tôi đã cố tình, cố tình viết bản tự thuật của mình một cách kiêu hãnh và xấc láo như thế: “Giờ thì đọc đi. Sao? Đọc xong rồi ông có muốn ném nó lại vào mặt tôi không?” Đó là ý nghĩ của tôi. Và rồi ông ta nở một nụ cười đẹp và xảo quyệt, ông Hiệu trưởng đẹp và xảo quyệt này, kẻ mà rủi thay, rủi thay, tôi lại tôn kính hơn ai hết. Và tôi nhận ra điều đó. Một cuộc giao tranh tiên phong đã giành chiến thắng. Hôm nay tôi nhất định phải nghĩ ra thêm một trò láu cá nho nhỏ nữa. Hoặc tôi sẽ chết vì vui mừng và cười. Nhưng cô giáo đang khóc? Thế là thế nào? Tại sao tôi lại thấy vui một cách kỳ cục? Tôi điên à?

Bây giờ tôi phải tường thuật một chuyện có lẽ sẽ làm dấy lên chút nghi ngờ. Thế nhưng điều tôi nói hoàn toàn là sự thật. Có một người anh của tôi sống trong thành phố bao la này, người anh duy nhất ấy, theo tôi là một người phi thường, anh ấy tên là Johann, và hình như là một họa sĩ khá nổi tiếng. Tôi không biết gì đích xác về tình hình hiện tại của anh ấy trên đời này, vì lâu nay tôi đã tránh né không thăm anh. Tôi sẽ không đi gặp anh ấy. Nếu chúng tôi tình cờ gặp nhau trên phố, và nếu anh ấy nhận ra tôi và đi tới, thế thì tốt, tôi sẽ vui lòng bắt tay anh ấy một cái thật mạnh. Nhưng tôi sẽ không bao giờ xúi giục một cuộc gặp gỡ như vậy, không đời nào. Tôi là cái thứ gì, và anh ấy là cái thứ gì? Tôi biết thế nào là một học sinh của Trường Benjamenta, hiển nhiên rồi. Một học sinh loại đó là con số không tròn trĩnh, không hơn không kém. Nhưng anh tôi ngay lúc này là cái thứ gì thì tôi không biết được. Có lẽ xung quanh anh ấy là những người tốt, có học vấn và những nghi thức nào đó có Chúa mới biết, và tôi tôn trọng các nghi thức cho nên tôi không đến thăm anh mình, vì có thể tôi sẽ phải gặp một quý ông bảnh bao, tươi cười gượng gạo. Tất nhiên, tôi biết Johann von Gunten của thời trước. Anh ấy cũng lạnh lùng và tính toán giống như tôi và mọi người nhà Gunten, nhưng anh lớn tuổi hơn nhiều và sự khác biệt tuổi tác giữa mọi người và các anh em là những rào cản không thể vượt qua. Đằng nào thì tôi cũng không cho phép anh ấy khuyên bảo tôi một lời nào, và đó chính là điều anh ấy sẽ làm, tôi sợ thế, khi anh gặp tôi, vì nếu anh ấy thấy tôi trông hết sức nghèo hèn thì anh, người nào khá giả cũng vậy thôi, chắc chắn sẽ ngứa ngáy muốn cho tôi nhận biết vị trí thấp hèn từ đầu tới chân của mình, và tôi sẽ không chịu đựng nổi điều đó, tôi sẽ thể hiện lòng kiêu hãnh von Gunten của mình và trở nên thô lỗ, và rồi sau đó tôi sẽ rất hối tiếc. Không, ngàn lần không. Sao? Chấp nhận sự chiếu cố từ chính anh tôi, người ruột thịt của mình? Xin lỗi, không thể được. Tôi hình dung ra anh ấy rất sang trọng, hút loại xì gà ngon nhất thế giới, và nằm giữa những tấm đệm và thảm ấm cúng trưởng giả. Và sao lại thế? Ừ, trong tôi lúc này có cái gì đó phi trưởng giả, cái gì đó hoàn toàn trái ngược với sự an lạc, và có lẽ anh tôi đang ung dung sống trong một thế giới an lạc rực rỡ nhất, tuyệt vời nhất. Điều xác định là: chúng tôi sẽ không gặp nhau, có lẽ sẽ không bao giờ. Và chuyện đó thậm chí không cần thiết. Không cần thiết? Tốt, cứ vậy đi. Ngu đần như tôi mà lại nói “chúng tôi” cứ như một thầy giáo trịnh trọng vậy. — Chắc chắn, anh tôi phải được bao bọc bằng những cung cách sang trọng nhất và tinh tế nhất của những khách sảnh thượng lưu. Merci. Xin cảm ơn. Sẽ có ở đó nhiều phụ nữ, họ sẽ thò đầu ra cửa và hỏi một cách xấc xược: “Hôm nay lại ai tới đây nữa này? Ôi, kinh quá. Hắn ta là ăn mày à?” Rất cảm ơn cái kiểu tiếp đón đó. Tôi quá tử tế nên không muốn ai thương hại. Hoa thơm phức trong phòng. Ồ, tôi không thích hoa chút nào. Còn đám công dân quốc tế lạnh lùng? Gớm. Phải, tôi muốn gặp anh ấy, tôi rất muốn gặp anh tôi. Nhưng nếu tôi nhìn thấy anh như thế này, trong đủ thứ tiện nghi xa hoa đó: sẽ tiêu tùng ngay cái cảm giác đây là người anh ruột, tôi chỉ có thể giả vờ vui, và anh ấy cũng vậy. Vì thế tôi sẽ không gặp.

Trong giờ học, đám học sinh chúng tôi ngồi đó, căng mắt nhìn ra phía trước, bất động. Tôi nghĩ là ta thậm chí còn không được phép hỉ mũi nữa. Bàn tay của chúng tôi đặt trên đầu gối của mình và không ai nhìn thấy chúng suốt buổi học. Bàn tay là bằng chứng có năm ngón về thói phù phiếm và tham lam của con người, do đó chúng được giấu kín dưới bàn. Mũi của chúng tôi hết sức giống nhau về tính chất, chúng dường như đều cố sức vươn lên cao ít nhiều, tới nơi bềnh bồng rực rỡ điều thấu tri về sự hỗn loạn của cuộc đời. Mũi của đám học sinh trông như tẹt và khoằm xuống, đó là quy định bắt buộc, các quy định đã nghĩ đến mọi điều, và thực sự, mọi công cụ khứu giác của chúng tôi đều được uốn cong một cách khiêm tốn và nhu mì. Cứ như thể chúng đã được cắt tỉa bằng những con dao bén. Mắt chúng tôi luôn nhìn chăm chăm vào cõi trống rỗng suy nghĩ, quy định cũng bắt buộc điều này. Thực sự thì ta không nên có một con mắt nào, bởi vì những con mắt luôn trâng tráo và tò mò, và sự trâng tráo và tò mò là đáng lên án, xét theo hầu hết mọi quan điểm lành mạnh. Tai của đám học sinh chúng tôi khá là hay. Có cố căng ra mà nghe thì chúng hầu như cũng không dám lắng nghe. Chúng lúc nào cũng hơi run rẩy, như thể chúng sợ bị ai đằng sau bất ngờ kéo mạnh để khiển trách và sẽ bị xé rách. Tội nghiệp những cái tai, phải chịu đựng những nỗi kinh hoàng như thế. Nếu có tiếng ai gọi hay ra lệnh đập vào những cái tai, chúng sẽ ngân vang và run sợ như những cây đàn harp bị ai chạm tay vào quấy rối. À, đấy, phải nói thêm là tai của đám học sinh này cũng thích ngủ một chút, và chúng cứ bị đánh thức mãi thôi! Thật là vui. Nhưng bộ phận được huấn luyện tốt nhất của chúng tôi là cái miệng, nó luôn ngoan ngoãn và tận tuỵ ngậm chặt. Và thế là quá đúng: một cái miệng há ra là một sự thật mở toác, thực tế là chủ nhân của nó cùng với vài suy nghĩ đang sống ở một nơi nào khác chứ không ở trong lãnh địa và khu vườn hoan lạc của sự chú ý. Một cái miệng ngậm chặt cho thấy đôi tai đang hăm hở mở toang, do đó các cánh cửa bên dưới lỗ mũi phải luôn được chốt chặt. Một cái miệng mở chỉ là một cái mồm, và chúng tôi đứa nào cũng biết rõ điều đó. Đôi môi không được phép phô ra và tươi hồng đầy khêu gợi ở tư thế tự nhiên thoải mái, chúng phải được gập vào và mím lại như một dấu hiệu của sự nhiệt tình chối bỏ bản thân và mong đợi. Cả đám học sinh chúng tôi đều làm thế, chúng tôi đối xử với đôi môi của mình rất nghiêm khắc và tàn nhẫn, theo các quy định hiện hành, và do đó chúng tôi đứa nào cũng trông dữ tợn như những viên trung sĩ đang ra lệnh. Như ai cũng biết, một tay hạ sĩ quan sẽ muốn lính của mình cũng có bộ dạng gầm gừ và dữ tợn như hắn ta, vậy là hợp ý hắn, vì hắn có óc hài hước, thường là vậy. Nói nghiêm túc: những người phục tùng thường trông giống như những người ra lệnh. Một đầy tớ không thể không mang cái bản mặt và thái độ của chủ nhân, để trung thành truyền bá chúng, có thể nói như thế. Mà cô giáo đáng kính của chúng tôi tất nhiên không phải là một trung sĩ rồi, ngược lại, cô ấy rất hay cười, phải, đôi khi cô ấy tự cho phép mình cười nhạo chúng tôi, một lũ mặt thộn cung cúc vâng lời, nhưng cô ấy cho rằng chúng tôi sẽ không hề thay đổi sắc mặt, để yên cho cô ấy cười, và chúng tôi làm đúng như thế, chúng tôi làm bộ như mình không hề nghe thấy âm thanh trong trẻo, du dương trong tiếng cười của cô. Bọn chúng tôi mới thật kỳ quặc làm sao. Tóc chúng tôi luôn luôn được chải chuốt gọn gàng, trơn mướt, và đứa nào cũng phải rẽ một đường ngôi thẳng tắp lên đỉnh đầu, một con kênh rạch vào thế giới đen hoặc vàng của tóc. Phải như thế. Đường ngôi cũng nằm trong quy định. Và do cả đám đều có vẻ được hớt tóc và rẽ ngôi duyên dáng, chúng tôi trông giống nhau, đó sẽ là một trò cười nôn ruột cho bất kỳ nhà văn nào, chẳng hạn, nếu như ông ta ghé đến để nghiên cứu đám học sinh này trong sự vẻ vang và sự tầm thường của chúng. Ngài nhà văn ấy tốt hơn nên ở nhà. Các nhà văn chỉ là lũ ba hoa, những kẻ chỉ muốn nghiên cứu, khắc hoạ, và quan sát. Sống mới là điều quan trọng, và rồi việc quan sát sẽ tự nó diễn ra. Đằng nào thì Fräulein Benjamenta của chúng tôi cũng sẽ mắng sa sả một tay nhà văn lang thang như vậy, do mưa rơi hay tuyết đổ mà dạt vào chỗ chúng tôi, quát tháo mạnh đến mức hắn sẽ ngã lăn xuống sàn trước sự chào đón thù địch này. Rồi cô giáo, người thích làm ra vẻ bạo chúa, có lẽ sẽ bảo chúng tôi: “Các cậu, hãy đỡ quý ông này đứng dậy.” Và sau đó, đám học sinh chúng tôi ở Trường Benjamenta sẽ chỉ cho vị khách không mời này biết cánh cửa nằm ở đâu. Và tay nhà văn quèn tò mò này lại sẽ biến mất. Không, đây chỉ là tưởng tượng. Khách đến đây là những quý ông muốn thuê mướn đám học sinh chúng tôi hầu hạ cho họ, chứ không phải những kẻ dắt bút lông trên tai.

Hoặc là các giáo viên trong trường chúng tôi không tồn tại, hoặc họ vẫn còn ngủ, hoặc họ cơ hồ đã quên mất chức nghiệp của mình. Hoặc có lẽ họ đang đình công, vì không ai trả lương hằng tháng cho họ? Những cảm giác kỳ lạ xâm chiếm tôi khi tôi nghĩ về những kẻ thèm ngủ và lơ đãng đáng thương này. Đấy, tất cả họ đều ngồi, hoặc nằm ườn ra, dựa vào những bức tường trong một căn phòng được sắp xếp riêng cho họ nghỉ ngơi. Trong đó có Herr Wälchli, được cho là thầy dạy môn Vạn Vật. Ngay cả khi ngủ, ông ta vẫn cắm tẩu thuốc trong miệng. Thật thảm hại, lẽ ra ông ta làm nghề nuôi ong thì hay hơn. Bộ mặt ông ta mới đỏ làm sao, và bàn tay mềm mại, già nua của ông ta mới mập béo làm sao. Và đây, bên cạnh ông ta, chẳng phải là Herr Blösch, thầy dạy tiếng Pháp đáng kính, đó sao? À, đúng, chính là ông, và ông ta đã nói dối khi ông ta cho rằng mình đang ngủ, một kẻ nói dối kinh khủng. Các buổi học của ông ta cũng vậy, chỉ toàn là những lời nói dối, một chiếc mặt nạ bằng giấy. Trông ông ta nhợt nhạt làm sao, và giận dữ làm sao! Ông ta có bản mặt xấu, đôi môi dày cứng, những đường nét thô kệch tàn nhẫn: “Thầy đang ngủ à, thầy Blösch?” Ông ta không nghe. Ông ta thực sự đáng ghét. Còn người kia là ai thế? Mục sư Strecker? Mục sư Strecker cao gầy, dạy môn Giáo Lý? Tên ác ôn, phải, chính ông ta đó. “Thầy ngủ à, thưa Mục sư? Được rồi, cứ ngủ đi, thầy có ngủ cũng chẳng có hại gì. Thầy dạy Giáo Lý thì chỉ phí  thời gian thôi. Thầy thấy đó, thời này tôn giáo chẳng có ý nghĩa gì cả. Giấc ngủ còn đáng tôn thờ hơn mọi tôn giáo của thầy. Khi ta đang ngủ thì ta có lẽ ở gần Chúa nhất. Thầy nghĩ sao?” Ông ta đâu có nghe. Tôi sẽ đi chỗ khác. A ha, xem ai đây này, chọn một chỗ mới thoải mái chứ? Có phải thầy Merz, Tiến sĩ Merz, dạy môn Lịch sử La Mã không? Đúng, chính là ông, tôi nhận ra bộ râu nhọn của ông ta. “Ông có vẻ giận tôi, Tiến sĩ Merz. Thôi, ngủ tiếp đi và quên đi những cuộc cãi cọ không hay gì giữa ông và tôi, đừng có chửi rủa trong bộ râu dê của ông nữa. Ngủ là tốt cho ông. Trong thời gian qua, thế giới đã xoay quanh tiền bạc chứ không còn xoay quanh lịch sử. Mọi đức tính anh hùng cổ xưa mà ông mổ xẻ đã hết quan trọng từ lâu, ông cũng thừa biết. Cảm ơn ông đã cho tôi dăm ba ấn tượng tuyệt vời. Ngủ ngon nhé.” Nhưng mà đây này, như tôi thấy, Herr von Bergen dường như cũng đã rúc vào ngủ, lão von Bergen chuyên hành hạ học sinh. Trông lão như đang mơ, và lão rất thích ban phát những cái bạt tai, một cách thiên vị thấu trời, “bốp”. Hoặc lão ra lệnh: “Cúi xuống!” và sau đó trông lão mới khoái trá làm sao khi quất vằn vện vào lưng thằng bé tội nghiệp với cây gậy bằng đá bọt của lão. Tướng tá rất thanh lịch như dân Paris, nhưng mà tàn nhẫn. Và ai đây? Thầy giám thị Wyss? Hay lắm. Ta không cần phải mất nhiều thời gian cho những kẻ chỉ biết luật lệ. Và ai đây nữa? Bur? Thầy giáo Bur? “Rất vui được gặp thầy.” Bur là cựu giáo viên toán kỳ tài nhất châu Âu này. Chỉ với Trường Benjamenta, ông ta mới tỏ ra hết sức phóng khoáng và thông minh. Kraus và những đứa khác không phải là loại học sinh thích hợp với Bur. Ông ta quá xuất sắc và đòi hỏi quá cao. Ở đây, trong trường này, không đặt ra những điều kiện tiên quyết quá mức. Nhưng có phải tôi đang mơ tưởng đến các giáo viên ở quê nhà không? Ở trường khác của tôi có rất nhiều kiến ​​thức, còn ở đây lại là cái gì đó hoàn toàn khác. Một cái gì đó hoàn toàn khác đối với đám học sinh chúng tôi ở đây.

Tôi sẽ sớm có việc làm không? Tôi cũng mong thế. Ảnh chụp và bản tự thuật của tôi, theo tôi nghĩ, sẽ gây ấn tượng tốt. Gần đây tôi cùng Schilinski đến một quán cà phê hòa nhạc hạng nhất. Schilinski run cầm cập thấy ghê vì nhút nhát. Còn tôi xử sự gần như một người cha nhân từ của cậu ta. Sau khi đưa mắt nhìn khắp người chúng tôi, tên bồi đã đánh liều phớt lờ; nhưng khi tôi, với vẻ mặt vô cùng khắc khổ, yêu cầu hắn vui lòng phục vụ chúng tôi, thì ngay lập tức hắn trở nên lịch sự và mang cho chúng tôi ít bia nhẹ trong những chiếc cốc cao được khắc tinh tế. A, ta phải biết đóng kịch. Người nào biết ưỡn ngực ra sẽ được đối đãi như một quý ông. Ta phải học cách chế ngự các tình huống. Tôi biết rất rành cách ngửa đầu ra sau, như thể tôi bị một điều gì đó xúc phạm, không, chỉ bị ngạc nhiên thôi. Tôi nhìn xung quanh, như thể muốn nói: “Chuyện gì thế này? Cậu nói gì? Đây là nhà thương điên à?” Hữu hiệu ngay. Ở Trường Benjamenta tôi cũng dần tạo được phong thái. Ồ, đôi khi tôi cảm thấy rằng việc đùa cợt với đời và mọi chuyện trong đời là việc nằm trong khả năng của tôi. Bất chợt tôi hiểu ra tính cách dễ thương của phụ nữ. Những trò nũng nịu của họ làm tôi thích thú và tôi nhận ra sự sâu sắc trong những cử chỉ vặt vãnh và cách ăn nói của họ. Nếu ta không hiểu khi họ nâng cốc lên môi hoặc nắm lấy tà váy là có ý gì, thì ta sẽ không bao giờ hiểu được họ. Tâm hồn của họ vấp té cùng với cặp gót cao vút của đôi giày nhỏ xinh, và nụ cười của họ vừa là một thói quen ngu ngốc vừa là một phần lịch sử của thế gian. Vẻ cao ngạo lẫn trí thông minh thấp bé của họ đều quyến rũ, có sức quyến rũ hơn cả tác phẩm của những văn gia kinh điển. Thường thì những tật xấu của họ lại là những điều đức hạnh nhất dưới ánh mặt trời, và khi họ nổi giận và mắng mỏ chúng ta? Chỉ có phụ nữ mới biết mắng mỏ. Nhưng im lặng nào! Tôi đang nghĩ đến Mẹ. Kỷ niệm về những lúc bị bà mắng sao mà thật thiêng liêng. Im lặng nào, thật im! Một học sinh ở Trường Benjamenta thì biết được gì về tất cả những điều này chứ?

Tôi không tự kiềm chế được, tôi đã đi tới văn phòng, cúi chào thật sâu như thường lệ, và tôi nói với Herr Benjamenta những lời sau: “Tôi có tay, chân và bàn tay, Herr Benjamenta, và tôi muốn làm việc, và vì vậy tôi mạn phép yêu cầu ông sớm tìm cho tôi một việc làm có lương. Tôi biết ông có đủ loại quan hệ. Đến gặp ông là giới quý tộc sang trọng nhất, những người trên ve áo choàng có gắn hình vương miện, những sĩ quan đeo kiếm lách cách, những cô nương váy dài kéo lê như gợn sóng cười khúc khích, những bà lớn tuổi giàu nứt vách, những lão già dám ném một triệu đổi lấy nửa nụ cười, những người có địa vị mà thiếu trí tuệ, những người đi khắp nơi bằng ô-tô, nói tóm lại, thưa Hiệu trưởng, cả thiên hạ đến với ông.” “Liệu hồn đừng có xấc láo,” ông ta cảnh cáo tôi, nhưng không hiểu tại sao tôi không hề cảm thấy sợ những cái nắm đấm của ông ta nữa, và tôi vẫn nói, lời lẽ cứ tuôn ra miệng: “Hãy lập tức tìm cho tôi ngay một công việc nào thú vị. Thực ra quan điểm của tôi là thế này: mọi công việc đều thú vị. Tôi đã học được rất nhiều điều từ ông, thưa Hiệu trưởng.” Ông ta thản nhiên nói: “Cậu vẫn chưa học được một cái gì cả.” Rồi tôi tiếp tục dòng suy nghĩ và nói: “Chính Chúa ra lệnh cho tôi bước ra ngoài cuộc sống. Nhưng Chúa là thứ gì chứ? Ông chính là Chúa của tôi, thưa Hiệu trưởng, nếu ông cho phép tôi đi kiếm tiền và kiếm sự tôn trọng.” Ông ta im lặng một lúc rồi nói: “Ra khỏi văn phòng này mau, ngay lập tức!” Nghe thế tôi bực mình kinh khủng. Tôi hét lên: “Tôi thấy ở ông là một con người xuất chúng, nhưng tôi đã lầm. Ông cũng tầm thường như thời đại ông đang sống. Tôi sẽ ra ngoài đường và ăn cướp của ai đó, tôi buộc phải trở thành tội phạm.” Tôi biết mình đang gặp nguy hiểm gì. Vừa nói xong những lời này, tôi liền phóng tới cửa và hét lên trong thịnh nộ: “Adieu, Hiệu trưởng!” rồi lướt ra, lanh lẹ tuyệt vời. Tôi dừng lại ngoài hành lang và nghe ngóng qua lỗ khóa. Mọi thứ trong văn phòng im lặng như tờ. Tôi vào lớp học và đắm mình trong cuốn sách Mục tiêu của Trường Benjamenta là gì?

Việc học của chúng tôi có hai phần, một phần lý thuyết và phần kia là thực hành. Nhưng cả hai đối với tôi vẫn như một giấc mơ, như một chuyện cổ tích vừa vô nghĩa lại vừa giàu ý nghĩa. Học thuộc lòng, đó là một trong những công việc chính của chúng tôi. Tôi học thuộc lòng rất dễ dàng, Kraus thì rất khó nhọc, vì thế hắn luôn học miệt mài. Những khó khăn mà hắn phải vượt qua chính là bí mật của sự cần cù ở hắn, và là cách giải quyết điều đó. Hắn chậm nhớ, và thế là hắn cố nhồi nhét mọi thứ vào đầu, ngay cả khi phải vận hết sức lực. Những gì hắn biết được, có thể nói là đã được khắc vào kim loại và hắn không bao giờ có thể quên nữa. Trong trường hợp của hắn thì không thể có chuyện quên. Ở một ngôi trường chẳng được học gì nhiều, Kraus rất thoải mái, cho nên hắn hoàn toàn thoải mái trong Trường Benjamenta. Một trong những châm ngôn của trường chúng tôi là: “Ít nhưng mà kỹ lưỡng.” À, đấy, Kraus bám chắc nguyên tắc này, cái đứa bẩm sinh có đầu óc hơi đần độn. Học ít thôi! Nhai đi nhai lại mãi! Dần dần tôi cũng bắt đầu hiểu rằng ẩn sau những lời ấy là một thế giới rộng lớn biết bao. Nhồi nhét điều gì đó thật chặt, thật chặt vào đầu óc ai! Tôi hiểu điều đó là quan trọng hơn hết thảy mọi thứ ra sao, điều đó tốt đẹp và đáng trân trọng ra sao. Phần thực hành hoặc thể chất trong việc học của chúng tôi là một kiểu thể dục hoặc khiêu vũ lặp đi lặp lại liên tục, hoặc ta muốn gọi nó là cái gì cũng được. Cách chào, cách bước vào phòng, cách cư xử với phụ nữ hay bất cứ thứ gì, đều được thực hành, và việc thực hành này kéo dài triền miên, thường rất nhàm chán, nhưng cả ở đây nữa, như bây giờ tôi đã thấy và nhận ra, cũng có một ý nghĩa ẩn chứa sâu xa. Như tôi thấy, đám học sinh chúng tôi phải được huấn luyện và nhào nặn, chứ không phải nhồi nhét các môn khoa học. Chúng tôi được học cách bắt buộc phải tìm hiểu chính xác đặc điểm của tâm hồn và cơ thể của mình. Chúng tôi rõ ràng đã quen hiểu rằng chính sự kỷ luật và hy sinh mới có tác dụng giáo dục, và rằng trong một bài tập rất đơn giản, có thể nói là ngu ngốc, còn có nhiều điều đáng quý và nhiều kiến ​​thức đích thực hơn là chuyện học đủ thứ khái niệm và ý nghĩa. Chúng tôi nắm bắt hết điều này đến điều khác, và khi chúng tôi đã hiểu được một điều gì đó thì cứ như thể nó sẽ chiếm hữu chúng tôi. Không phải chúng tôi chiếm hữu nó, mà ngược lại: bất cứ điều gì chúng tôi rõ ràng đã tiếp thu được thì sau đó nó sẽ điều khiển chúng tôi. Chúng tôi được nhồi vào đầu rằng việc học ít mà chắc chắn và đích xác sẽ có lợi, nói cách khác, có tác dụng làm cho ta quen dần và uốn nắn bản thân theo các luật lệ và mệnh lệnh đòi hỏi phải có rèn luyện nghiêm ngặt việc biểu lộ ngoài mặt. Có lẽ chúng tôi đang bị u mê đần độn dần, chắc chắn là chúng tôi đang bị hèn mọn dần. Nhưng những điều đó không làm chúng tôi trở nên nhút nhát, không hề. Đám học sinh chúng tôi, đứa nào cũng như đứa nấy, đều biết rằng nhút nhát là một tội đáng bị trừng phạt. Đứa nào mà ấp úng và tỏ ra sợ hãi sẽ bị cô giáo của chúng tôi khinh bỉ, nhưng chúng tôi phải hèn mọn tầm thường, và chúng tôi phải biết, biết chính xác, rằng chúng tôi chẳng có gì lớn lao cả. Phép tắc là mệnh lệnh, kỷ luật là bắt buộc, và nhiều quy định tàn nhẫn là nhằm để cho chúng tôi một định hướng và cho chúng tôi trải nghiệm tốt: đó mới là điều lớn lao, chứ không phải đám học sinh của chúng tôi. Ồ, ai cũng nhận thấy điều này, ngay cả tôi nữa, rằng chúng tôi đều là những thằng lùn nghèo hèn, lệ thuộc, luôn phải vâng dạ. Cho nên chúng tôi hành xử đúng như thế: khiêm nhường, nhưng hết sức tự tin. Tất cả chúng tôi, không trừ một ai, đều khá năng động, vì bởi hoàn cảnh thấp hèn và bần cùng khiến chúng tôi vững tin vào những thành tựu ít ỏi mà chúng tôi đạt được. Niềm tin vào bản thân chính là sự khiêm tốn của chúng tôi. Nếu chúng tôi không tin vào bất cứ điều gì, chúng tôi sẽ không biết mình tầm thường đến mức nào. Tuy nhiên, lũ trai trẻ chúng tôi cũng đâu phải đồ bỏ. Chúng tôi có thể không ngông cuồng, có thể có không nhiều tưởng tượng, chúng tôi bị cấm không được nhìn ngó chung quanh, và điều đó khiến chúng tôi hài lòng và trở nên hữu ích cho bất kỳ công việc nhanh chóng nào. Chúng tôi không am hiểu thế giới này, nhưng rồi cũng sẽ biết về nó, vì chúng tôi sẽ được phơi trần trước giông tố cuộc đời. Trường Benjamenta là tiền sảnh của các phòng khách và sảnh đường của cuộc đời rộng lớn nói chung. Ở đây, chúng tôi học cách cảm nhận sự kính trọng và hành xử như tất cả những ai phải giả vờ làm kẻ có điều gì đó đáng ngưỡng mộ. Tôi, chẳng hạn, đứng cao hơn tất cả những điều này một chút, thế là tốt, bởi vì tất cả những ấn tượng này càng rõ ràng hơn đối với tôi. Chính xác là tôi cần phải học cách cảm nhận sự quý trọng và tôn kính các sự việc trên đời này, rốt cuộc tôi sẽ thành cái thứ gì nếu tôi không biết kính trọng tuổi già, nếu tôi chối bỏ Chúa, chế nhạo luật pháp và cho phép mình thò cái mũi nhãi ranh vào mọi chuyện cao siêu, quan trọng và lớn lao? Theo tôi nghĩ, thế hệ trẻ hiện nay đáng ghét chính là vì lý do này, chúng hét toáng lên làm giặc rồi sau đó khóc thút thít kêu cha gọi mẹ khi chúng bắt buộc phải nhượng bộ một chút trước những trách nhiệm, những điều răn đe và giới hạn. Không, không, nhà Benjamenta ở đây là ngôi sao soi đường sáng ngời quý báu của tôi, cả người anh lẫn cô em gái, cô giáo ấy. Chừng nào còn sống thì tôi vẫn còn nghĩ đến họ.

Tôi đã thấy anh tôi; còn hơn thế nữa, chúng tôi đã gặp nhau giữa đám đông thành phố. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi hóa ra rất thân thiện. Gặp nhau không gượng ép và rất tình cảm. Johann cư xử tử tế lắm, và có lẽ tôi cũng vậy. Chúng tôi vào một nhà hàng nhỏ, kín đáo và trò chuyện ở đó. “Cứ làm như em muốn đi, em,” Johann bảo tôi, “cứ bắt đầu từ dưới cùng mà đi lên, vậy là hay lắm. Nếu em cần giúp đỡ. . .” Tôi khoát tay từ chối. Anh tôi tiếp tục: “Cứ nhìn đi, em thấy đó, thật chẳng đáng phải cố vươn lên tột đỉnh. Chắc em hiểu ý anh. Đừng có hiểu lầm anh nhé, em.” Tôi gật đầu lia lịa, vì tôi biết trước anh ấy sẽ nói gì, nhưng tôi cứ yêu cầu anh tiếp tục và anh nói: “Chính là bầu không khí ở đó. Ý anh là ai cũng đều có cảm giác chán chê rồi, và điều đó khiến mọi chuyện dừng lại, trở nên bức bối. Anh mong là em sẽ không hiểu hết ý anh, vì nếu em đã biết rõ rồi thì em sẽ thành một kẻ đáng sợ đó, em ạ.” Chúng tôi bật cười. Ôi, được cười với anh mình, tôi thích thế. Anh nói: “Bây giờ em là một con số không, cứ cho là vậy đi. Nhưng khi còn trẻ thì người ta nên là một con số không, vì không có gì tai hại hơn là có chút gì đó quan trọng quá sớm, quá trẻ. Chắc chắn là em có một chút quan trọng đối với bản thân em. Điều đó tốt. Hay lắm. Nhưng đối với thiên hạ, em vẫn không là gì cả và điều đó cũng hay không kém đâu. Anh vẫn mong em sẽ không hiểu hết ý anh, vì nếu em đã biết rõ rồi thì. . .” Tôi cắt lời: “Em sẽ thành một kẻ đáng sợ.” Chúng tôi lại bật cười. Vui thật là vui. Một ngọn lửa kỳ lạ bắt đầu kích động tôi. Mắt tôi nóng bừng. Phải nói là tôi rất thích cảm giác này, khi tôi thấy nóng bừng cả người. Mặt tôi đỏ ửng lên. Và rồi những suy nghĩ đầy trong sáng và cao cả thường tấn công tôi. Johann tiếp tục, anh ấy nói: “Này em, đừng có ngắt lời anh hoài vậy chứ. Tiếng cười trẻ trung ngớ ngẩn của em sẽ bóp nghẹt các ý tưởng. Nghe đây! Hãy chú ý cho kỹ đi. Những gì anh đang nói với em có thể có ích cho em một ngày nào đó. Điều quan trọng nhất: đừng bao giờ nghĩ mình là kẻ bỏ đi. Không có ai là đồ bỏ đi cả, em à, vì có lẽ trên đời này chẳng có gì đáng để chúng ta mong mỏi cả. Thế nhưng em vẫn phải mong mỏi, thậm chí mãnh liệt nữa kia. Nhưng làm sao đừng có khao khát quá thiết tha; hãy nhớ là trên đời này chẳng có gì đáng để chúng ta mong mỏi cả. Mọi thứ đều thối rữa. Em có hiểu điều đó không? Này, anh vẫn mong rằng em không hiểu được hết những điều này. Anh lo lắng chuyện đó.” Tôi nói: “Không may là em quá thông minh nên không hiểu lầm anh được, như anh đã mong. Nhưng đừng có lo. Những gì anh tiết lộ không làm em sợ hãi chút nào.” Chúng tôi mỉm cười với nhau. Rồi chúng tôi gọi thêm đồ uống, và Johann, phải nói là trông anh sang trọng lạ thường, tiếp tục câu chuyện: “Đúng là trên đời này có cái gọi là sự tiến bộ, nhưng đó chỉ là một trong rất nhiều điều dối trá mà dân kinh doanh đã bày đặt ra, để họ có thể moi tiền của đám đông một cách trắng trợn và tàn bạo hơn. Dân chúng chính là những nô lệ thời nay, và mỗi cá nhân là nô lệ của những ý tưởng đại chúng lan tràn. Chẳng còn gì đẹp đẽ và tuyệt hảo cả. Em phải mơ ước những cái gì đẹp, tốt và công bằng. Nói anh nghe, em có biết mơ ước không?” Tôi gật đầu thoả mãn, một cái, hai cái, và để Johann nói tiếp trong khi tôi nghe chăm chú: “Hãy cố kiếm thật nhiều tiền. Mọi thứ khác đều sai lầm, nhưng tiền thì không. Mọi thứ, mọi thứ đều hỏng, đều hao hụt, đều bị cướp mất vẻ duyên dáng và huy hoàng. Các thành phố của chúng ta đã không ngừng biến khỏi mặt đất. Những đống vô nghĩa đang chiếm mất chỗ trước kia của nhà cửa và cung điện tráng lệ. Đàn piano, em yêu quý, và tiếng ngân nga đi cùng với nó. Các phòng hòa nhạc và nhà hát ngày càng đi xuống, ngày càng không được coi trọng. Chắc chắn là vẫn còn một cái gì đó giống như một xã hội để xác định âm điệu, nhưng nó không còn đủ khả năng tạo ra những nốt nhạc trang nghiêm và tinh tế của tâm tư. Có những cuốn sách — nói tóm lại, đừng bao giờ tuyệt vọng. Cứ tiếp tục nghèo hèn đi, em yêu quý. Từ bỏ ý định kiếm tiền đi. Đó là điều tốt đẹp và vinh quang nhất, nó khiến ta trở thành một kẻ bất hạnh rất đáng thương. Người giàu, Jakob ơi, là những kẻ luôn bất an và khổ sở. Người giàu ngày nay: họ không còn gì cả. Họ là những kẻ thực sự đang chết đói.” Tôi lại gật đầu. Đó là sự thật, tôi rất dễ dàng đồng ý với mọi chuyện. Nhưng tôi thích những gì Johann nói, và nó phù hợp với tôi. Trong lời anh nói có niềm tự hào, và nỗi buồn. Và, chà, hai điều này hợp lại với nhau, niềm tự hào và nỗi buồn, thì nghe mới hay. Chúng tôi gọi thêm ít bia và người anh tương đồng nhưng khác cảnh ngộ với tôi nói tiếp: “Em phải hy vọng nhưng không hy vọng gì cả. Hãy ngưỡng mộ điều gì đó, phải, hãy làm thế, vì điều đó hợp với em, em còn trẻ, quá trẻ mà, Jakob, nhưng phải luôn thừa nhận với chính mình em coi thường nó, cái thứ mà em đang ngưỡng mộ. Lại gật đầu nữa hả, em? Chúa ơi, em là người lắng nghe đầy hiểu biết. Em giống như một cái cây nặng trĩu sự hiểu biết. Hãy bằng lòng đi, em yêu quý, hãy phấn đấu, học hỏi, làm mọi điều tốt và tử tế nhất cho mọi người. Này, anh phải đi. Khi nào anh em mình gặp lại nhau? Thành thật mà nói, em khiến anh quan tâm—” Chúng tôi đi ra và ở ngoài đường, chúng tôi tạm biệt nhau. Tôi đứng nhìn người anh thân yêu của mình rất lâu trong lúc anh bước đi. Vâng, đó là anh tôi. Tôi mừng biết bao vì anh là anh tôi.

Cha tôi có một cỗ xe, mấy con ngựa và một người hầu, già Fehlmann. Mẹ có lô ghế riêng ở nhà hát. Cánh phụ nữ ở thành phố nhỏ 28.000 dân này ghen tị với mẹ phải biết! Bất kể tuổi tác, mẹ tôi vẫn là một phụ nữ nhan sắc, thậm chí là rất đẹp. Tôi còn nhớ chiếc váy màu xanh nhạt, bó sát người mà mẹ có lần mặc. Lúc đó bà che một chiếc dù trắng tao nhã. Nắng đang rực rỡ. Trời đang tiết xuân huy hoàng. Phố xá thoảng hương hoa violet. Mọi người ra ngoài đi dạo và ban nhạc đang chơi dưới tán cây xanh trong công viên. Mọi thứ thật êm đềm và rạng rỡ làm sao! Một đài phun đang tóe nước, và những đứa trẻ mặc đồ màu sáng đang cười đùa nô giỡn. Và một làn gió nhẹ mơn man thổi qua, lan toả hương thơm, đánh thức niềm khao khát về những điều không thể nói. Từ cửa sổ những ngôi nhà trên quảng trường Neuquartierplatz, mọi người đang nhìn ra. Mẹ mang đôi găng dài màu vàng nhạt trên đôi bàn tay mảnh mai và cánh tay đáng yêu. Anh Johann lúc đó không còn ở nhà. Nhưng cha thì còn. Không, sẽ không bao giờ tôi nhận sự giúp đỡ (tiền bạc) từ cha mẹ yêu kính của mình. Niềm kiêu hãnh bị tổn thương của tôi sẽ ném tôi lên giường bệnh và bao ước mơ sống tự lập của tôi sẽ tan tành, phá hủy vĩnh viễn những kế hoạch đau đáu ấp ủ về chuyện lập thân. Đó là điểm cốt yếu: tự rèn luyện hoặc dự trù cho việc học trong tương lai, đó là lý do tôi trở thành học sinh Trường Benjamenta, vì ở đây, ta chuẩn bị cho mình một công việc khó khăn, mịt mù sắp đến. Và đó cũng là lý do tôi không viết thư về nhà, vì ngay cả việc viết về chuyện này cũng sẽ khiến tôi hoài nghi bản thân, sẽ phá hỏng hoàn toàn ý đồ khởi sự từ dưới đáy đi lên. Một điều gì đó tuyệt vời và táo bạo phải diễn ra trong bí mật và im lặng, nếu không nó sẽ tàn lụi và tan biến, và ngọn lửa đã được khơi dậy sẽ lại tắt ngóm. Tôi biết mình muốn điều đó biết bao, vậy là đủ. — À, phải, đúng rồi. Tôi còn một chuyện vui để kể, chuyện về già Fehlmann người hầu ở nhà tôi, ông vẫn còn sống và vẫn làm người hầu. Chuyện như thế này: Có một hôm Fehlmann đã làm một việc gì đó rất sai trái và ông ấy sẽ bị sa thải. “Fehlmann,” Mẹ nói, “ông có thể đi. Chúng tôi không cần ông nữa.” Nghe thế ông già tội nghiệp ấy, không lâu trước đó ông đã chôn cất đứa con trai chết vì bệnh ung thư (một chuyện thật chẳng vui gì), ông ấy đã phủ phục dưới chân mẹ tôi và cầu xin được khoan dung, phải, đúng là xin được khoan dung. Thật tội nghiệp, đôi mắt già nua của ông đẫm lệ. Mẹ tha thứ cho ông. Ngày hôm sau tôi kể lại cái cảnh này cho bạn tôi nghe, anh em nhà Weibel, và chúng cười khinh tôi. Chúng không chơi với tôi nữa, vì chúng cho rằng gia đình tôi quá bảo hoàng. Chúng thấy việc phủ phục dưới chân ai thật đáng ngờ, và chúng cứ đi nói xấu tôi và Mẹ bằng đủ cách kỳ quặc nhất. Giống như những thằng ranh con bình thường, phải, nhưng cũng giống như những người ủng hộ chế độ cộng hòa tầm thường, những kẻ mà đối với họ việc ban phát lòng thương xót riêng tư và chuyên quyền hoặc sự bất mãn là một điều kinh tởm phải tránh xa. Bây giờ nghĩ lại tôi mới thấy hài hước hết sức! Thế nhưng biến cố nhỏ này lại có ý nghĩa làm sao trong xu thế thời nay. Cả thế giới bây giờ cũng phán xét như anh em nhà Weibel ngày trước. Phải, cũng một kiểu: không ai dung thứ cho bất kỳ kiểu cách vương gia, mệnh phụ nào nữa. Không có ông chủ nào được làm theo ý mình, và đã lâu lắm rồi không còn bà chủ nào nữa. Tôi có nên buồn vì điều này không? Tôi còn không nghĩ tới chuyện đó. Tôi có phải chịu trách nhiệm với tinh thần của thời đại này không? Tôi chấp nhận thời đại này như nó vốn là thế và chỉ giữ quyền đưa ra những nhận xét thầm lặng của riêng mình. Già Fehlmann may mắn: ông ta đã được tha thứ, theo cách kẻ cả, bề trên. Những giọt nước mắt của lòng trung thành và lệ thuộc, điều đó mới đẹp làm sao!

Từ ba giờ chiều, đám học sinh chúng tôi gần như hoàn toàn muốn làm gì thì làm. Không ai bận tâm đến chúng tôi nữa. Anh em Benjamenta ẩn náu trong các phòng nội bộ và trong lớp học là sự trống rỗng, một sự trống rỗng khiến ta muốn phát bệnh. Cấm tiệt mọi tiếng ồn. Ta chỉ được phép chạy hấp tấp và đi rón rén và nói thì thầm. Schilinski soi gương, Schacht nhìn ra ngoài cửa sổ hoặc cậu ta khoa tay múa chân với những cô giúp việc nhà bếp ở bên kia đường, còn Kraus đang học thuộc lòng, lẩm nhẩm những bài học với chính mình. Bốn bề im ắng như một nấm mồ. Khoảnh sân ngoài kia vắng tanh, như một sự vĩnh cửu hình vuông, và tôi thường tập đứng một chân. Để thay đổi, tôi cũng hay thử xem mình có thể nín thở được bao lâu. Đó cũng là một cách thể dục, và thậm chí còn được xem là tốt cho sức khỏe, như một bác sĩ đã từng nói với tôi. Hoặc tôi viết. Hoặc tôi nhắm đôi mắt không biết mệt của mình lại để không nhìn thấy gì nữa. Đôi mắt truyền đi những suy nghĩ, cho nên thỉnh thoảng tôi nhắm mắt lại để không phải suy nghĩ. Khi ta chỉ hiện diện như thế này và không làm gì cả, ta đột nhiên cảm thấy cuộc sống có thể đau đớn như thế nào. Không làm gì nhưng vẫn phải giữ tác phong là việc đòi hỏi nghị lực, một người làm việc gì đó thì thời gian của họ dễ chịu hơn nhiều. Đám học sinh chúng tôi là những bậc thầy về kiểu khuôn phép này. Thông thường, vì buồn chán những kẻ không-làm-gì bắt đầu làm cái gì đó, nằm dài, ngọ ngoạy, ngáp hoặc thở dài. Đám học sinh chúng tôi không hề làm những trò như thế. Chúng tôi mím chặt môi và bất động. Trên đầu chúng tôi, những quy định bực mình luôn lơ lửng. Có lúc, khi chúng tôi đang ngồi hoặc đang đứng đó, cánh cửa mở ra và cô giáo vừa bước chậm rãi qua phòng học, vừa nhìn chúng tôi với ánh mắt kỳ lạ. Đối với tôi, cô ấy luôn giống một bóng ma. Cứ như thể đó là một người từ xa, rất xa đến. “Đang làm gì đó, các cậu?” lúc đó cô ấy có thể hỏi, nhưng không chờ đợi câu trả lời, cô đi tiếp. Cô ấy mới xinh đẹp sao! Mái tóc đen huyền sao mà bóng mượt! Thường ta chỉ thấy cô ấy với ánh mắt nhìn xuống. Cô ấy có đôi mắt tuyệt vời thích hợp với việc cúi nhìn. Mí mắt cô ấy (ồ, tôi quan sát rất kỹ cả những điều này) cong cong quyến rũ và có khả năng chuyển động nhanh đến lạ. Ôi, đôi mắt! Nếu ta mà thấy đôi mắt ấy, ta sẽ nhìn vào một cái gì đó sâu thăm thẳm một cách đáng sợ. Đôi mắt này, với bóng tối lấp lánh, dường như không nói gì cả thế nhưng vẫn nói hết mọi điều không thể nói, chúng rất quen thuộc nhưng lại vô cùng xa lạ. Đôi chân mày mỏng như vỡ tan và được vẽ thành hai đường vòng cung trên đôi mắt. Nếu nhìn vào chúng, ta sẽ có cảm giác như bị gai đâm. Chúng giống như hai mảnh trăng lưỡi liềm trên bầu trời chiều xanh xao bệnh hoạn, như hai vết thương nhỏ, nhưng lại hết sức sắc bén, cắt sâu vào trong. Và đôi má! Những khao khát và ngại ngùng thầm lặng dường như mở hội mừng trên đôi má ấy. Dọc ngang nơi đó là những vết sầu đau mong manh và dịu dàng mà không ai hiểu được. Đôi khi trên lớp tuyết lung linh của đôi má này xuất hiện một vết đỏ nhẹ nhàng van nài, một sức sống rụt rè ửng hồng, một mặt trời, không, không phải thế, chỉ là ánh phản chiếu mờ nhạt của một mặt trời nào. Rồi đôi má ấy cứ như đột ngột mỉm cười, hoặc hơi bừng sốt. Khi ta nhìn đôi má của Fräulein Benjamenta, ta không còn niềm vui sống nào nữa, vì ta có cảm giác rằng cuộc đời phải là một địa ngục hỗn loạn đầy những điều thô bạo hèn hạ. Sự mong manh dường ấy gần như buộc ta phải nhìn sâu vào chính sự gian khó và nguy nan. Và hàm răng, ta sẽ thấy lung linh khi đôi môi đầy đặn và hiền hậu của cô ấy nở một nụ cười. Và khi cô ấy khóc. Ta tưởng chừng mặt đất phải sụp đổ dưới mọi bước chân của cô, trong hổ thẹn và đau khổ, khi nhìn thấy cô khóc. Và khi ta chỉ nghe thấy tiếng cô ấy khóc? Ồ, lúc đó ta chết lịm mất. Mới đây chúng tôi đã nghe cô khóc, ngay trong lớp học. Tất cả chúng tôi đều run như cầy sấy. Vâng, cả đám chúng tôi, chúng tôi yêu cô ấy. Cô ấy là người hướng dẫn chúng tôi, bề trên của chúng tôi. Và có điều gì đó đang khiến cô ấy đau khổ, hiển nhiên rồi. Cô ấy không khỏe sao?

Fräulein Benjamenta đã nói với tôi vài câu, ở nhà bếp. Tôi lúc đó vừa định đi lên phòng mình thì cô ấy hỏi tôi mà không ban cho tôi một cái nhìn: “Cậu khỏe không, Jakob? Mọi chuyện ổn chứ?” Tôi lập tức đứng nghiêm, theo đúng quy định, và nói với giọng phục tùng: “Ồ, tốt cả, chắc chắn rồi, Fräulein Benjamenta. Mọi chuyện đều tốt cả.” Cô thoáng mỉm cười và hỏi: “Nghĩa là thế nào?” Cô ấy hỏi vọng ra sau vai. Tôi đáp: “Tôi có mọi thứ tôi cần.” Cô ấy nhìn tôi một lúc và im lặng. Một lát sau, cô ấy nói: “Cậu đi được rồi, Jakob. Cậu được phép đó. Không cần phải đứng lại nữa.” Tôi cúi chào cô tôn kính đúng quy định bắt buộc, rồi hấp tấp về phòng mình. Chưa đầy năm phút sau đã nghe tiếng gõ cửa. Tôi nhảy vọt tới cánh cửa. Tôi biết tiếng gõ đó. Cô ấy đã đứng trước mặt tôi. “Jakob,” cô ấy nói, “nói cho tôi biết, cậu hòa hợp thế nào với các học sinh khác? Họ là những người dễ thương, cậu có thấy vậy không?” Câu trả lời của tôi là tôi cảm thấy yêu mến và tôn trọng tất cả bạn học, không trừ một ai. Đôi mắt đẹp của cô giáo nhìn tôi ranh mãnh, và cô nói: “Chà, chà. Thế mà cậu vẫn cãi nhau với Kraus. Cãi nhau đối với cậu là một dấu hiệu của sự yêu mến và tôn trọng à?” Tôi trả lời không do dự: “Vâng, ở một mức độ nào đó, thưa cô. Cô thấy đó, chuyện cãi nhau này không có ý gì nghiêm trọng vậy đâu. Nếu Kraus thông minh, anh ấy sẽ nhận thấy là tôi yếu mến anh ấy hơn bất kỳ ai khác. Tôi rất tôn trọng Kraus. Tôi sẽ đau lòng khi nghĩ rằng cô không tin điều đó.” Cô ấy nắm lấy bàn tay tôi, bóp nhẹ và nói: “Được rồi, vậy đi, hãy bình tĩnh nào. Cậu phải coi chừng, khi cậu nổi nóng. Cậu nóng tính. Nếu mọi chuyện đúng như cậu nói, thì tôi phải hài lòng về cậu. Tôi cũng sẽ hài lòng nếu cậu cứ cư xử tốt như thế. Phải, hãy nhớ điều này: Kraus là một người tuyệt vời và tôi sẽ khó chịu nếu cậu cư xử không tốt với cậu ấy. Hãy dễ thương đối với cậu ấy. Đó là mong muốn đặc biệt của tôi. Nhưng đừng buồn nào. Nghe này, tôi không khiển trách cậu. Cậu thật là một công tử con quen được nâng niu và chiều chuộng! Kraus đúng là người tốt. Không phải sao, không phải Kraus là người tốt sao, Jakob?” Tôi nói: “Phải.” Chỉ một tiếng “Phải” và rồi đột nhiên tôi không nén được một tiếng cười khá ngu ngốc, tôi không biết tại sao. Cô ấy lắc đầu và bỏ đi. Tại sao tôi phải bật cười? Tôi vẫn không biết. Nhưng chuyện đó không hề quan trọng. Khi nào tôi mới kiếm được ít tiền? Câu hỏi này mới có vẻ quan trọng. Theo tôi thấy, tiền bạc có một giá trị hoàn toàn lý tưởng vào lúc này. Khi tôi tưởng tượng tiếng lanh canh của một đồng tiền vàng, tôi thực sự muốn phát điên lên. Tôi vẫn còn thứ để ăn: vậy đã sao. Tôi muốn được giàu có và muốn đập nát đầu mình. Chẳng mấy chốc tôi sẽ không còn muốn ăn gì nữa.

Nếu tôi giàu có, tôi sẽ không ngao du khắp thế giới. Phải thừa nhận là điều đó cũng không quá tệ. Nhưng tôi chẳng thấy gì cực kỳ hấp dẫn khi làm quen chớp nhoáng với những nơi xa lạ. Nói chung, tôi sẽ không chịu mở mang trí tuệ thêm nữa, như người ta thường nói. Tôi thà bị thu hút bởi những điều sâu sắc và tâm hồn, hơn là bởi khoảng cách và những chuyện xa xôi. Việc xem xét những gì cận kề hấp dẫn tôi hơn. Và tôi cũng sẽ không mua bất cứ thứ gì. Tôi sẽ không sở hữu gì cả. Quần áo thanh lịch, đồ lót đẹp, chiếc mũ chóp, khuy măng-sét vàng khiêm tốn, đôi ủng da bóng, vậy là đủ, và tôi sẽ bắt đầu với những thứ này. Không nhà cửa, không vườn hoa, không gia nhân, phải, một người hầu thôi, tôi sẽ mướn với một người tốt, đàng hoàng như Kraus. Và sau đó tôi có thể khởi sự. Sau đó tôi sẽ bước ra màn sương mù cuộn xoáy trên đường phố. Mùa đông với cái lạnh u sầu sẽ phù hợp tuyệt vời với những đồng tiền vàng của tôi. Tôi sẽ mang tiền giấy trong một chiếc cặp đơn giản. Tôi vẫn đi bộ như thường lệ, với ý đồ thầm kín là không muốn mọi người thấy tôi giàu sang vương giả như thế nào. Có lẽ, trời cũng sẽ đổ tuyết. Tôi không màng, ngược lại, điều đó lại càng hợp ý tôi. Tuyết mềm mại rơi giữa những ánh đèn đường buổi tối. Tuyết sẽ lấp lánh, quyến rũ. Tôi không hề nghĩ là mình sẽ đón xe đi. Chỉ những ai vội vàng hoặc muốn ra vẻ cao sang mới làm chuyện đó. Nhưng tôi không muốn ra vẻ cao sang, và tôi chẳng có gì phải vội vàng cả. Nhiều ý nghĩ sẽ nảy ra khi tôi tản bộ. Bất ngờ tôi sẽ chào một ai đó, rất lịch sự, và kìa, một người đàn ông. Rồi rất lịch sự, tôi sẽ nhìn người đó, rồi tôi sẽ thấy ông ta đang gặp khó khăn. Tôi sẽ nhận ra, chứ không nhìn thấy điều này, ta nhận ra những điều như vậy, cho dù ta hầu như không nhìn thấy chúng, nhưng có cái gì đó ở chúng khiến ta biết. Chà, đằng nào thì người này cũng sẽ hỏi tôi cần gì, và hỏi một cách có văn hoá. Câu hỏi này sẽ được nêu ra rất nhẹ nhàng và đơn giản, và sẽ khiến tôi xúc động sâu xa. Vì tôi chắc chắn đã chờ đợi một lời thô lỗ. “Người này hẳn đã bị thương tích nặng lắm,” ngay lập tức tôi thầm nghĩ, “nếu không thì ông ta đã bực mình rồi.” Và sau đó tôi sẽ không nói gì cả, nhất định là không, nhưng chỉ cần tiếp tục nhìn ông ta là đủ, nhìn lâu thật lâu. Không soi mói, không, chỉ nhìn bình thường thôi, thậm chí có lẽ là một ánh mắt vui vẻ. Và rồi tôi sẽ biết ông ta là ai. Tôi sẽ mở chiếc cặp của mình, lấy trong đó ra mười nghìn mark bằng mười tờ giấy bạc riêng rẽ, và sẽ đưa số tiền này cho ông ta. Sau đó, tôi sẽ bỏ mũ ra chào, lịch sự như mọi khi, nói lời tạm biệt, rồi đi. Và tuyết vẫn tiếp tục rơi. Trong lúc bước đi, tôi sẽ không nghĩ thêm bất kỳ ý nghĩ nào nữa, có muốn cũng không thể, tôi sẽ cảm thấy quá sức hứng thú nên không thể suy nghĩ gì được. Người đó là một nghệ sĩ nghèo túng khủng khiếp, tôi biết chắc điều đó, tôi đã cho tiền một người như thế. Phải, tôi biết, vì tôi sẽ không để cho mình bị đánh lừa. Ồ, thiên hạ sẽ bớt đi một nỗi lo lắng hết sức phiền não. Chà, buổi tối kế tiếp có lẽ tôi sẽ có những ý tưởng nào đó hoàn toàn khác. Đằng nào thì tôi cũng sẽ không ngao du khắp thế giới, nhưng lại thích nghĩ ra mấy trò ngông cuồng và ngu ngốc. Chẳng hạn, tôi có thể tổ chức một bữa tiệc xa hoa và tưng bừng điên đảo và bày ra những trò trác táng đời này chưa từng thấy. Tôi muốn bữa tiệc đó phải tốn một trăm nghìn mark. Nhất định là số tiền đó sẽ phải được chi tiêu cực kỳ hoang phí, bởi vì chỉ những khoản tiền nào thực sự đã phung phí mới là — mới từng là — số tiền đẹp đẽ. Và một ngày nào đó tôi sẽ thành ăn mày và mặt trời sẽ chói lọi và tôi sẽ rất hạnh phúc, và tôi sẽ không bao giờ muốn biết tại sao. Và rồi Mẹ sẽ đến ôm tôi — những mộng tưởng này thật đẹp!

Khuôn mặt và bản tính của Kraus có vẻ gì đó cổ xưa, và chính vẻ cổ xưa toả ra từ hắn sẽ đưa bất cứ ai nhìn hắn đi về xứ Palestine. Thời đại của Abraham hồi sinh trên gương mặt người bạn đồng môn của tôi. Cái thời đại gia trưởng cổ xưa, với những phong tục và cảnh trí bí hiểm đó, hiện ra trên bản mặt này và nhìn chằm chằm vào ta một cách cha chú bề trên. Tôi có cảm tưởng như mọi người thời đó đều là những người cha với khuôn mặt rất già và bộ râu dài màu nâu rối rắm, đúng là suy nghĩ vớ vẩn, nhưng có lẽ trong cái ý tưởng rất ngớ ngẩn vẫn có điều gì đó đúng với sự thật. Phải, vào thời đó! Ngay cả cụm từ này, “vào thời đó”: nghe sao mà vừa có vẻ bề trên vừa có vẻ tôi tớ hết sức! Vào thời người Do Thái xưa, đôi khi cũng rất có thể có một ông bố Isaac hoặc Abraham nào đó, ông ta được kính trọng và sống an nhàn tuổi già trong của cải trời cho, thứ tài sản nằm trong đất đai. Vào thời đó, có vẻ gì đó giống như sự uy nghiêm bao quanh tuổi già. Những ông già thời đó chẳng khác gì những vị vua, và số tuổi của họ đồng nghĩa với số tước hiệu quý tộc mà họ có được. Và những ông già này sao mà đầy sức trai tráng! Một trăm tuổi mà họ vẫn sinh con trai và con gái đầy đàn. Vào thời đó vẫn chưa có nha sĩ, cho nên ta phải cho rằng lúc đó hoàn toàn không có răng hư thối. Ví dụ như ông Joseph ở Ai Cập, ông ta mới đẹp làm sao. Ở Kraus có vẻ gì đó giống như Joseph trong nhà Potiphar thời ấy. Joseph lúc trẻ đã bị bán cho nhà này làm nô lệ, và hãy nhìn xem, họ đang đưa anh chàng vào diện kiến một người lương thiện và tốt bụng, vô cùng giàu có. Và thế là anh chàng ở lại đó, làm nô lệ trong gia đình này, nhưng lại vui thú tận hưởng thân phận của mình. Luật pháp thời ấy có lẽ là tàn bạo, hẳn rồi, nhưng các phong tục, tập quán và quan niệm lại tinh tế và tao nhã hơn nhiều so với bây giờ. Một nô lệ ngày nay sẽ khổ sở hơn nhiều, xin Chúa phù hộ anh ta. Tất nhiên, trong số những con người hiện đại, rập khuôn một cách ngạo mạn của chúng ta cũng có những kẻ nô lệ. Có lẽ mọi người chúng ta ngày nay đều có phần giống như nô lệ, bị chế ngự bởi một thế giới quan đầy hung hăng, cộc cằn, sẵn sàng vung roi. — Mọi chuyện tốt đẹp, thế rồi một hôm, bà chủ nhà đòi Joseph phải làm những gì bà ta muốn. Thật kỳ lạ làm sao mà những chuyện lén lút như thế này vẫn còn được biết rõ tới ngày nay, chúng sống mãi, được truyền miệng qua mọi thời đại. Chuyện này được đem ra dạy ở tất cả các trường tiểu học, và mọi người có còn phản đối cái thói mô phạm của Joseph không? Tôi xem thường những kẻ đánh giá thấp vẻ đẹp của sự mô phạm, họ là kẻ hoàn toàn không có đầu óc, thiếu suy xét. Hay lắm, và rồi Kraus khước từ, ý tôi là Joseph. Nhưng cũng rất có thể là Kraus, bởi vì ở hắn có điều gì đó rất là Joseph-Ai-Cập. “Không, thưa lệnh bà, tôi sẽ không làm chuyện như thế, tôi phải trung thành với lãnh chúa chủ nhân.” Thế người phụ nữ đó, phải nói là đẹp quyến rũ, lại đi buộc tội anh gia nhân trẻ đã làm chuyện đê hèn, toan dụ dỗ bà chủ vào đường tội lỗi. Nhưng tôi không biết gì thêm nữa. Điều kỳ lạ là tôi không biết Potiphar đã nói gì và làm gì sau đó. Tôi vẫn còn nhìn thấy được rất rõ dòng sông Nile. Phải, Kraus có thể là Joseph, hoặc bất cứ thứ gì, trong chuyện đó. Tác phong, vóc dáng, khuôn mặt, kiểu tóc và cử chỉ của hắn đều phù hợp không gì bằng. Ngay cả da mặt của hắn, rủi thay vẫn chưa chữa lành. Mụn nhọt là thứ thuộc về Thánh Kinh, về Đông phương. Còn đạo đức, tư cách của hắn, việc làm chủ các đức tính trong trắng của một thanh niên? Những điều đó đều phù hợp một cách tuyệt vời. Joseph ở Ai Cập cũng vậy, hẳn phải là một anh chàng mô phạm hoàn toàn, nếu không thì anh ta đã vâng lời người đàn bà lăng loàn ấy và đã phản bội ông chủ của mình. Kraus sẽ hành động đúng y như phiên bản Ai Cập cổ đại của hắn đã làm. Hắn sẽ giơ tay phản đối và nói với vẻ mặt nửa cầu khẩn, nửa khiển trách: “Không, không, tôi không làm chuyện đó đâu,” vân vân.

Kraus yêu quý! Suy nghĩ của tôi cứ quay trở lại với hắn. Ở hắn, ta có thể thấy từ “văn hóa” thực sự có nghĩa gì. Về sau, đi bất kỳ đâu Kraus cũng sẽ được coi là một người hữu dụng nhưng thiếu văn hoá, nhưng đối với tôi, hắn hết sức có văn hoá, và chủ yếu là vì hắn là hiện thân của sự toàn vẹn tốt đẹp, kiên định. Ta thậm chí có thể gọi hắn là một nền văn hóa trong hình hài con người. Xung quanh Kraus không có hề có sự run rẩy của tri thức bay bổng và lao xao, nhưng có điều gì đó thư thái ở hắn, và bản thân hắn cũng thư thái nằm nghỉ trên cái gì đó. Ta có thể an tâm phó thác linh hồn ta cho hắn giữ gìn. Hắn sẽ không bao giờ lừa dối hoặc nói xấu ai, và hơn hết thảy là cái tính không lắm chuyện, đó là điều mà tôi gọi là văn hóa. Kẻ ba hoa đều là phường lừa dối, người đó có thể là rất tử tế, nhưng cái thói nói về mọi thứ chuyện chợt nảy ra trong đầu khiến y trở thành một kẻ tầm thường và xấu xa. Kraus luôn thận trọng, hắn luôn giữ kín một điều gì đó, với hắn việc tán chuyện là không cần thiết, và điều này có tác dụng tương tự như lòng tốt và tính khoan dung mạnh mẽ. Đó là điều mà tôi gọi là văn hóa. Kraus không tử tế và thường khá thô lỗ với những người cùng giới và độ tuổi, và chính đây là lý do tôi thích hắn, vì nó cho tôi thấy rằng hắn sẽ không có thói phản bội tàn bạo và vô tâm. Hắn trung thành và tử tế với mọi người. Thế mới rắc rối: vì lòng tốt thông thường, ta cứ hay xúc phạm uy tín và đời tư của hàng xóm, bạn bè, thậm chí là anh em, một cách kinh khủng nhất. Kraus không hiểu biết nhiều, nhưng hắn không bao giờ, không bao giờ vô tâm, hắn luôn tuân theo những mệnh lệnh nào đó do chính hắn đặt ra và đó là điều mà tôi gọi là văn hóa. Bất cứ điều gì tử tế và có ý tứ ở một con người đều là văn hóa cả. Và ngoài ra còn rất nhiều thứ khác. Hết sức xa cách với bất kỳ mọi trò vụ lợi, dù là nhỏ nhặt, và hết sức gần gũi với sự hy sinh quên mình như Kraus, tôi nghĩ đó là điều đã khiến Fräulein Benjamenta nói: “Không phải sao, không phải Kraus là người tốt sao, Jakob?” Phải, hắn tốt. Mất người bạn này là tôi sẽ mất luôn cả một cõi thiên đàng, tôi biết. Và tôi gần như sợ cãi nhau một cách tùy tiện với Kraus. Tôi chỉ muốn chiêm ngưỡng hắn, luôn luôn chiêm ngưỡng hắn, vì sau này tôi sẽ phải bằng lòng với hình ảnh của hắn, bởi cuộc đời điên đảo nhất định sẽ chia lìa hai đứa.

Bây giờ tôi cũng đã hiểu tại sao Kraus không có ưu điểm gì về ngoại hình, không có lợi thế gì về thể chất, hiểu tại sao tạo hoá lại đè bẹp và bóp méo hắn thành một thằng lùn như thế. Tạo hoá muốn cái gì đó ở hắn, nó có những ý đồ dành cho hắn, hoặc nó đã trù tính gì cho hắn ngay từ đầu. Có lẽ đối với tạo hoá, con người này quá chân chất, và đó là lý do tạo hoá ném hắn vào một cơ thể tầm thường, nhỏ bé, không đẹp đẽ, để bảo vệ hắn trước những thành công nguy hiểm ngoài mặt. Hoặc có lẽ không phải như vậy, và tạo hoá đã bực tức và ác ý khi tạo ra Kraus. Nhưng bây giờ tạo hoá hẳn phải hối hận biết bao, khi đã đối xử với hắn như một mụ dì ghẻ độc ác! Và ai mà biết. Có lẽ tạo hoá đã vui mừng trước kiệt tác vô duyên này của mình, và thực sự nó sẽ có lý do để vui mừng, vì thằng Kraus vô duyên này còn đẹp hơn những kẻ duyên dáng và xinh đẹp nhất. Hắn không tỏa sáng bằng tài năng, mà bằng hào quang của một trái tim tốt lành và không ô uế, và cách cư xử tồi tệ rõ ràng của hắn, một kiểu cư xử dù có cứng nhắc, vụng về nhưng có lẽ đó là kiểu tác phong và cư xử đẹp nhất có thể tìm thấy trong xã hội loài người. Không, Kraus sẽ không bao giờ có được một thành công nào, hoặc là với phụ nữ, những người sẽ thấy hắn khô khan và xấu xí, hoặc là với ai khác trên đời này, những người sẽ hờ hững lướt qua hắn. Hờ hững? Đúng vậy, sẽ chẳng ai thèm để ý đến Kraus, và chính điều này, việc hắn tiếp tục sống mà không được chú ý tới, đó là điều tuyệt vời, dường như đã nằm trong dự định, chính là dấu hiệu của Đấng Sáng Thế. Chúa ban cho thế gian này một thằng Kraus, để giao phó một điều bí ẩn không thể giải đáp, có thể nói như thế. Và điều bí ẩn đó sẽ không bao giờ hiểu được, bởi vì thế này: mọi người thậm chí còn không cố gắng giải đáp, và vì thế mà Kraus lại chính là một điều bí ẩn tuyệt vời và sâu sắc: bởi vì không ai muốn giải đáp, bởi vì không có người sống nào lại cho rằng có một nhiệm vụ nào, một điều bí ẩn nào, hoặc một ý nghĩa nào tinh tế hơn, ở trên lưng của thằng Kraus vô danh, kín đáo này. Kraus là một tác phẩm đích thực của Chúa, một con số không, một tên đầy tớ. Với tất cả mọi người, hắn dường như thiếu văn hoá, chỉ đủ giỏi để làm những công việc nặng nề nhất, và thật kỳ lạ: mọi người nghĩ thế cũng không sai mà là hoàn toàn đúng, vì đó là sự thật: Kraus, sự khiêm tốn đích thực, vương miện, cung điện của sự nhún nhường, hắn sẽ làm công việc tôi đòi, hắn làm được và hắn muốn làm. Hắn không có suy nghĩ nào khác ngoài việc giúp ích, vâng lời và phục vụ, và ta sẽ ngay lập tức nhận ra và lợi dụng điều này, và trong việc lợi dụng hắn lại chứa đựng một sự công bằng thiêng liêng, rực rỡ, sáng lạn, lấp lánh sự tốt đẹp và huy hoàng. Đúng vậy, Kraus là hình ảnh của một con người có phép tắc, một kẻ hoàn toàn sống đơn điệu, nói những từ đơn âm và tính cách đơn giản. Sẽ không ai đánh giá sai sự đơn giản của con người này, và do đó chẳng ai để ý đến hắn, và hắn sẽ hoàn toàn không thành đạt. Tôi thấy chuyện này hay ho, hay ho, hay ho đến ba lần. Ôi, những sáng tạo của Chúa thật đầy ân sủng, đầy quyến rũ, được trang hoàng bằng bao thứ hấp dẫn và những ý tưởng. Mọi người sẽ nghĩ rằng đây là một cách diễn đạt quá đáng. Tôi phải thú nhận rằng đó không phải là điều quá đáng nhất. Không, đối với Kraus, không có thành công nào sẽ nở hoa, không có danh vọng, không có tình yêu, thế mới hay, bởi thành công không thể tách rời với cái thói hay thay lòng đổi dạ và mấy quan điểm rẻ tiền về cuộc đời. Ta thấy ngay điều đó, khi mọi người có những thành tựu và sự công nhận để phô trương, họ trở nên béo phì với sự thoả mãn chán chê, và sức mạnh của sự phù phiếm thổi họ căng phồng như những quả bong bóng, khiến ta không còn nhìn ra họ. Chúa giữ gìn cho một người tốt khỏi bị đám đông công nhận. Nếu điều đó không khiến hắn trở nên tồi tệ thì chỉ làm hắn hoang mang và yếu ớt đi thôi. Lòng biết ơn, phải. Lòng biết ơn là một cái gì đó hoàn toàn khác. Nhưng sẽ không ai biết ơn Kraus, và điều đó cũng không cần thiết. Cứ mười năm một lần, có lẽ sẽ có ai đó nói với Kraus: “Cảm ơn, Kraus,” rồi nở một nụ cười ngu ngốc, ngu thậm tệ. Kraus của tôi sẽ không bao giờ bị hủy hoại, bởi vì sẽ luôn có những khó khăn lớn lao và tàn nhẫn đối đầu với hắn. Tôi nghĩ rằng tôi, tôi là một trong số rất ít, có lẽ là kẻ duy nhất, hoặc có lẽ có hai hoặc ba người, sẽ biết họ đang, hoặc đã từng, mang ơn Kraus. Cô giáo, đúng, cô ấy biết. Có lẽ ông Hiệu trưởng nữa. Đúng, chắc chắn là ông ta biết. Herr Benjamenta chắc chắn đủ sắc sảo để biết Kraus đáng giá như thế nào. Hôm nay viết tới đây thì phải ngưng. Tôi bị kích động quá. Tôi đang bối rối. Và những con chữ đang chập chờn và nhảy múa trước mắt.

Phía sau ngôi trường của chúng tôi là một khu vườn bỏ hoang lâu năm. Khi tôi nhìn thấy nó vào sáng sớm từ cửa sổ văn phòng (mỗi buổi sáng tôi phải dọn dẹp văn phòng, cùng với Kraus), tôi thấy tiếc cho nó, nằm đó không ai trông nom, và lần nào tôi cũng muốn chạy xuống và chăm sóc nó. Nhưng đó là những ý tưởng uỷ mị. Ma quỷ thường mang vẻ hiền lành mơ màng đầy lừa mị. Có những khu vườn hoàn toàn khác dành cho chúng tôi ở Trường Benjamenta. Còn khu vườn thực sự kia thì cấm vào. Không học sinh nào được phép vào đó. Tôi thực sự không biết tại sao. Nhưng, như tôi đã nói, chúng tôi có một khu vườn khác, có lẽ đẹp hơn khu vườn có thật. Trong cuốn sách vỡ lòng của chúng tôi, Mục tiêu của Trường Benjamenta là gì?, ở trang 8 có nói: “Hạnh kiểm tốt là một khu vườn đầy hoa.” Đây chính là khu vườn của tinh thần và tình cảm mà đám học sinh chúng tôi được phép tung tăng. Không tệ. Nếu chúng tôi có đứa nào hạnh kiểm xấu, nó sẽ tự động bước vào một địa ngục tăm tối kinh khủng. Nếu ngoan, nó đương nhiên sẽ được phần thưởng là được đi giữa những tàng lá xanh rợp mát lốm đốm nắng. Thật quyến rũ làm sao! Và theo suy nghĩ thảm hại kiểu con trai của tôi, trong điều răn dạy đó có phần nào sự thật. Nếu ai cư xử ngu ngốc thì người đó phải xấu hổ và tức giận với bản thân, và đó là địa ngục đau khổ mà y phải sợ toát mồ hôi. Nhưng nếu y đã chăm chú và ngoan ngoãn thì một thứ gì đó vô hình sẽ nắm lấy bàn tay y, một thứ gì đó giống như một con yêu tinh thân thiện, và đó chính là khu vườn, một sự ban phát nhân từ, và rồi y thực sự sẽ tự động được dạo chơi trên những bãi cỏ xanh hiền hoà. Nếu mà có học sinh nào ở Trường Benjamenta được phép tự mãn, chuyện hiếm khi xảy ra vì các quy định sẽ luôn giáng mưa bão, giông gió, tuyết sương, sấm sét lên đầu chúng tôi, thì lúc đó xung quanh y sẽ ngát hương thơm, và đó là hương thơm ngọt ngào của những lời khen khiêm tốn nhưng phải kiên cường phấn đấu mới có. Nếu Fräulein Benjamenta thốt ra một lời khen thì hương thơm sẽ toả ra, và nếu cô ấy la mắng, thì phòng học sẽ tối sầm lại. Quả là một thế giới kỳ lạ, ngôi trường của chúng tôi. Nếu một học sinh có hạnh kiểm tốt và tề chỉnh, một mái vòm sẽ thình lình hiện ra trên đầu, và đó là bầu trời xanh không thể thay thế bên trên khu vườn tưởng tượng ấy. Nếu đám học sinh chúng tôi kiên nhẫn lắm, và nếu chúng tôi giỏi duy trì nỗ lực của mình, nếu chúng tôi có thể đứng và chờ đợi, thì trước đôi mắt có phần mệt mỏi của chúng tôi bầu không khí sẽ đột nhiên chuyển ánh vàng, và chúng tôi biết rằng đó là nắng thiên đường. Bất cứ ai có quyền và có tư cách được mệt mỏi đều sẽ thấy ánh nắng rọi chiếu xuống chính mình. Và nếu chúng tôi không bắt gặp chính mình đang có những ước muốn ô tạp, điều luôn khiến ta khổ sở, thì chúng tôi sẽ lắng nghe và, a ha! cái gì kia? Chim hót! Chà, hẳn đó phải là những con chim lông đẹp và vui vẻ trong khu vườn của chúng tôi đang hót và kêu ríu rít thanh tao. Hãy thừa nhận đi nào: đám học sinh chúng tôi ở Trường Benjamenta có cần khu vườn nào khác ngoài những khu vườn mà chúng tôi tự tạo cho mình không? Chúng tôi là những quý tộc giàu có, nếu chúng tôi biết cư xử tế nhị và lịch sự. Chẳng hạn, bất cứ khi nào tôi muốn có tiền, rủi thay, điều này thường xảy ra, thì tôi lại chìm vào vực sâu ham muốn vô vọng, cuồng nộ, ồ, rồi tôi đau khổ và ngất lịm, và không biết mình tôi có bao giờ được cứu giúp hay không. Và sau đó, nếu tôi nhìn Kraus, một niềm an ủi tuyệt vời, như một suối nguồn rì rào, sâu thẳm, sẽ xâm chiếm lấy tôi. Đó là suối nguồn bình yên của sự khiêm tốn, đang dâng lên trong khu vườn của chúng tôi, tóe nước khắp nơi, và sau đó tôi sẽ vui lắm, trong một tâm trạng hết sức hưng phấn, hết sức hòa hợp với điều tốt đẹp. A, thế mà họ nói là tôi không yêu mến Kraus? Nếu có ai trong chúng tôi là, hay nói cách khác, đã từng là một anh hùng, nếu người đó đã xả thân, liều mình làm việc gì dũng cảm (điều này có viết trong sách vỡ lòng), thì y sẽ được phép bước vào ngôi nhà bằng đá cẩm thạch nhiều cột có những bức bích hoạ ẩn giữa cây xanh của khu vườn chúng tôi, và có một cái miệng sẽ hôn y. Sách vỡ lòng không nói đó là loại miệng gì. Và tất nhiên chúng tôi không phải là anh hùng. Mà tại sao chúng tôi phải như vậy? Trước hết, chúng tôi không có cơ hội để hành xử như những anh hùng, và thứ đến: tôi không tin rằng có thể dụ dỗ cho Schilinski, chẳng hạn, hay cậu Peter Lêu Nghêu, dám hy sinh. Tôi nghĩ ngay cả khi không có những nụ hôn, những anh hùng và những đền đài nhiều cột, khu vườn của chúng tôi đã được sắp đặt rất đẹp rồi. Nói chuyện anh hùng khiến tôi rùng mình. Tôi không muốn nói gì nữa về chuyện đó.

Tôi mới hỏi Kraus là liệu hắn có lúc nào thấy buồn chán gì đó không. Hắn nhìn tôi với ánh mắt khiển trách và răn đe, suy nghĩ một lúc rồi nói: “Buồn chán à? Mày nói thế là kém thông minh rồi, Jakob. Và, để tao nói cho mà biết, những câu hỏi của mày vừa hết sức ngờ nghệch vừa hết sức tội lỗi. Trên đời này ai mà buồn chán? Có lẽ là mày. Không phải tao, tao nói cho mà biết. Tao đang học thuộc lòng các thứ trong cuốn sách này đây. Sao hả? Tao có thời gian để buồn chán không? Hỏi ngu ngốc. Dân quý phái thì chắc là cảm thấy buồn chán, không phải Kraus này đâu, và mày đang cảm thấy buồn chán, nếu không mày đã không nghĩ tới ý tưởng đó và sẽ không gặp tao để hỏi một chuyện như vậy. Người ta lúc nào cũng có thể làm việc gì đó, nếu không ở bên ngoài, thì ít nhất ở trong nhà, người ta có thể nói lẩm bẩm, Jakob. Tao biết mày thường cười nhạo tao vì những lời lẩm bẩm của tao, nhưng hãy lắng nghe và nói cho tao biết, mày có biết tao lẩm bẩm cái gì không? Từ ngữ, Jakob ạ. Tao luôn lẩm bẩm và lặp lại các từ ngữ. Làm thế khoẻ cả người lên, tao nói cho mà biết. Thây kệ mày với nỗi buồn chán của mày. Những người cảm thấy buồn chán là những người luôn nghĩ rằng có điều gì đó thú vị sẽ đến với họ từ bên ngoài. Buồn chán là nơi sinh ra tâm trạng ẩn ức, và sinh ra đủ thứ ham muốn. Mày đi đi, đừng làm phiền tao, để cho tao học, mày đi tìm việc gì làm đi. Hãy bận bịu với cái gì đó, rồi chắc chắn mày sẽ không thấy buồn chán nữa. Và sau này đừng có hỏi tao những câu ngớ ngẩn, nghe phát tức kiểu đó nữa.” Tôi hỏi: “Anh nói hết chưa, Kraus?” và cười to. Nhưng hắn chỉ nhìn tôi thương hại. Không, Kraus không bao giờ biết buồn chán, không bao giờ. Tôi thừa biết điều đó quá mà, tôi chỉ muốn trêu chọc hắn lần nữa. Tôi mới thật xấu tính làm sao, và ngớ ngẩn làm sao. Tôi chắc chắn phải cải thiện. Thật tệ quá, luôn muốn làm trò khỉ chọc tức Kraus! Chưa hết: thật quá đã! Những lời trách móc của hắn nghe thật buồn cười. Có vẻ gì đó giống trưởng lão Abraham thời xưa trong những lời khiển trách của hắn.

Mấy hôm trước tôi có một giấc mơ thật kinh khủng. Trong mơ, không biết làm sao mà tôi đúng là biến thành một kẻ tồi tệ. Tôi thô lỗ, từ đầu đến chân, một khối thịt người ăn mặc bảnh bao, cục súc và tàn nhẫn. Tôi mập phì lên, có vẻ như mọi chuyện đều rất huy hoàng đối với tôi. Những chiếc nhẫn lấp lánh trên những ngón tay thô kệch và tôi có một cái bụng béo phệ cả tạ thịt đường bệ. Tôi hoàn toàn cảm thấy mình có quyền ra lệnh và hoạnh hoẹ tùy hứng. Bên cạnh tôi, trên một chiếc bàn bày biện sa hoa, ngời ngời những đối tượng của thói phàm ăn tục uống vô độ, những chai rượu vang và rượu mùi, và những món ăn nguội cầu kỳ nhất. Tôi chỉ cần đưa tay ra lấy, và chốc chốc tôi lại làm thế. Bám trên bộ dao nĩa là nước mắt của những kẻ thù mà tôi đã tiêu diệt, và ly cốc ngân nga tiếng than thở của nhiều dân nghèo, nhưng những vết nước mắt hoen ấy chỉ làm tôi muốn bật cười, còn những tiếng thở dài tuyệt vọng đối với tôi lại vang vọng như âm nhạc. Tôi cần âm nhạc cho yến tiệc và đã có. Rõ ràng là tôi đã hết sức thành đạt trong công việc kinh doanh với cái giá phải trả là hạnh phúc của kẻ khác, và điều đó khiến tôi vui sướng tận tâm can. Ôi, ôi, tôi chè chén say sưa với ý thức rằng mình đã hớt tay trên, qua mặt mấy tên đồng nghiệp! Và tôi với lấy cái chuông rồi rung lên. Một ông già bước vào, không, xin lỗi, bò vào, đó là Hiểu Biết, và kẻ đó bò tới đôi ủng của tôi, để hôn lên đó. Và tôi đã để lão làm thế, trong nỗi nhục nhã của lão. Nghĩ coi: chính sự từng trải đó, cái nguyên tắc chung tốt đẹp và cao quý đó: nó đã hôn chân tôi. Đó là điều mà tôi gọi là sự giàu có. Vì thấy thích điều đó, tôi lại rung chuông gọi, vì tôi cảm thấy ngứa ngáy, không nhớ ở chỗ nào, nên muốn có một thay đổi hay ho, và thế là một thiếu nữ đi vào, một món ngon thực sự đối với một kẻ phóng đãng như tôi. Đó là Ngây Thơ, cô bé tự xưng như thế, và để hôn tôi, cô ta bắt đầu bằng việc liếc nhìn cây roi bên cạnh tôi, khiến tôi khoái trá vô cùng. Nỗi sợ hãi và sự sớm sa đọa hiện rõ trong đôi mắt đẹp như mắt nai của cô bé. Khi đã chán chê, tôi lại rung chuông và Nghiêm Trang bước vào, một thanh niên đẹp trai, mảnh khảnh, nhưng nghèo. Hắn là một trong những đầy tớ của tôi, và tôi đã ra lệnh cho hắn, với vẻ mặt cau có, đi lấy cho tôi cái món gì gì, chẳng nhớ tên, a, nhớ rồi, cái roi Niềm Vui Làm Việc. Ngay sau đó, Hăng Say đi vào và tôi có niềm vui thú được quất một roi vào gã, con người toàn diện, Cỗ Máy Làm Việc được chế tạo tuyệt vời này, quất ngay giữa khuôn mặt đang lặng lẽ chờ đợi của gã, đúng là một trò cười lộn ruột. Và gã không phiền lòng, là sức lực sáng tạo tự nhiên, gã không hề phiền lòng. Tất nhiên là sau đó, với một cử chỉ hạ cố uể oải, tôi mời gã một ly rượu, và tên ngu ngốc đó đã uống cạn ly rượu ô nhục. “Giờ thì mi đi đi, đi làm việc cho ta,” tôi nói, và gã đi ra. Rồi nàng Đức Hạnh, một giai nhân tuyệt sắc đối với những ai không trơ trơ như đá, vừa đi vào vừa khóc. Tôi đặt cô ả lên đầu gối mình và làm đủ trò với cô ả. Khi tôi đã cướp đi Lý Tưởng, báu vật quý giá không thể tả của cô ả, tôi đã đuổi cô ả đi với những lời nhạo báng, và rồi tôi huýt sáo và chính Thượng Đế xuất hiện. Tôi hét lên: “Cái gì thế này? Cả ông nữa sao?” Và tôi tỉnh giấc, mồ hôi đầm đìa — tôi mừng vô cùng vì đó chỉ là một ác mộng. Lạy Chúa, tôi đúng là vẫn hy vọng có ngày mình sẽ thành đạt trong đời. Làm thế nào mà trong mơ mọi sự đều đi tới tận cùng của sự điên rồ! Kraus ắt sẽ trố mắt nhìn tôi như cái thứ gì nếu tôi kể cho hắn nghe hết những chuyện này.

Cái cách đám chúng tôi sùng kính cô giáo đúng là hài hước. Nhưng tôi đây, chẳng hạn, lại hết lòng ủng hộ những trò hài hước, chắc chắn là chúng có ma lực. Lớp học luôn bắt đầu lúc tám giờ. Nhưng đám học sinh chúng tôi đã ngồi vào chỗ sẵn sàng trước mười phút, đầy háo hức và mong đợi, và chúng tôi nhìn chăm chăm vào cánh cửa mà vị Nữ soái chủ này sẽ đi qua. Với kiểu thể hiện sự tôn kính ngóng chờ này, chúng tôi cũng có quy định chính xác. Đúng theo phép tắc, chúng tôi phải lắng nghe tiếng chân, để biết khi nào cô ấy đến, cô giáo chắc chắn sẽ đến vào một lúc nào đó. Trong mười phút như lũ nhóc ngốc nghếch, đám học sinh chúng tôi phải sẵn sàng đứng dậy ở vị trí của mình. Tất cả những đòi hỏi vặt vãnh này hơi coi thường người ta, chúng đúng là rất lố bịch, nhưng chuyện đó không liên quan đến danh giá cá nhân của chúng tôi mà là danh giá của Trường Benjamenta, và điều đó chắc cũng đúng thôi, vì phận học trò thì có danh giá gì chứ? Không một tí tẹo nào. Nói cho ngay, được kiểm soát chặt và bắt nạt là thứ danh giá cao nhất dành cho chúng tôi. Đối với đám học sinh, được kiểm soát chặt là một vinh dự, điều đó rõ ràng như ban ngày. Nhưng chúng tôi cũng không nổi loạn. Chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó. Nói chung, chúng tôi rất ít suy nghĩ. Tôi có lẽ là người có nhiều suy nghĩ nhất, điều đó hoàn toàn có thể, nhưng về cơ bản thì tôi khinh thường khả năng suy nghĩ của mình. Tôi chỉ coi trọng những gì nếm trải, và theo lệ thường, những kinh nghiệm này hoàn toàn độc lập với mọi suy nghĩ và so sánh. Cho nên tôi coi trọng cái cách mà tôi mở cửa. Việc mở một cánh cửa còn ẩn chứa nhiều cuộc sống hơn là việc đặt một câu hỏi. Nhưng mọi thứ đều khiến ta phải đặt câu hỏi và so sánh và ghi nhớ. Chắc chắn ta phải suy nghĩ, thậm chí rất nhiều nữa kia. Nhưng việc phục tùng, điều đó còn tinh tế hơn rất nhiều so với việc suy nghĩ. Nếu ta suy nghĩ, ta sẽ kháng cự, và đó là điều luôn luôn xấu xa và tai hại cho mọi sự. Các nhà tư tưởng, giá như họ biết mình đã gây hại những gì. Những ai cần cù không suy nghĩ, đều sẽ làm một việc nào đó, và nhất định sẽ làm, và như thế lại cần thiết hơn. Có hàng vạn cái đầu thừa thãi đang hoạt động trên đời này. Điều đó là hiển nhiên, rõ như ban ngày. Nhiều thế hệ con người đang đánh mất niềm vui sống vì bao thứ luận thuyết và hiểu biết và kiến ​​thức của họ. Ví dụ, nếu một học sinh của Trường Benjamenta mà không biết rằng hắn đang lịch sự, thì đúng là hắn đang lịch sự đấy. Còn nếu hắn biết điều đó, thì bao nhiêu lễ độ và phong nhã vô ý thức của hắn sẽ biến mất, và hắn sẽ phạm sai lầm này hay sai lầm khác. Tôi muốn chạy xuống cầu thang. Thật lắm chuyện quá!

Thật hay khi ta khi trở nên giàu có một chút và phần nào ổn thoả chuyện vật chất. Tôi đã đến căn hộ của Johann anh tôi, và tôi phải nói rằng đó là một bất ngờ thú vị, một nơi khá cổ hủ theo kiểu nhà von Gunten. Ngay cái việc sàn nhà được trải một tấm thảm mềm, màu xanh đục, là tôi đã thấy có ấn tượng mạnh lạ thường. Phòng nào cũng đều thể hiện khiếu thẩm mỹ, không phải kiểu sở thích phô trương mà là một lựa chọn tinh tế rõ ràng. Đồ đạc được bài trí trang nhã, tạo cảm giác chào đón lịch sự, nhẹ nhàng khi ta bước vào. Có nhiều gương soi trên tường. Thậm chí còn có một tấm gương lớn cao từ sàn đến trần. Các vật dụng đều có vẻ cũ mà không cũ, sang mà không sang. Các phòng đều toát lên vẻ ấm cúng và sự kỹ lưỡng, ta nhận ra điều này và cảm giác đó thật dễ chịu. Một ý muốn thoải mái và chăm chút đã treo những tấm gương lên tường và đặt chiếc ghế sofa cong cong thanh thoát vào đúng vị trí. Tôi sẽ không phải là người nhà von Gunten nếu tôi không nhận thấy điều đó. Mọi thứ đều sạch như lau như li, thế nhưng lại không hề bóng loáng, mọi thứ đều trông êm đềm và bình lặng. Không có gì chướng mắt khó chịu. Toàn bộ sự phối hợp ở đây đều có vẻ hết sức thân mật. Một con mèo mun xinh đẹp đang nằm trên chiếc ghế nệm nhung màu đỏ sẫm, như một khối thoải mái màu đen, mềm mại được bao bọc giữa màu đỏ. Rất đẹp. Nếu là họa sĩ, tôi sẽ vẽ một bức tranh về sự thân mật của một con vật như thế. Anh tôi ra đón tôi rất tình cảm và chúng tôi đứng đối diện nhau như những người trải đời có ý tứ, những người biết phép lịch sự có thể thú vị như thế nào. Chúng tôi nói chuyện này chuyện nọ. Rồi một con chó lớn mình thon, lông trắng như tuyết, chạy đến chỗ chúng tôi, với những động tác uyển chuyển tỏ vẻ vui mừng. Chà, đương nhiên là tôi đã vuốt ve con chó. Mọi thứ trong nhà Johann đều đẹp. Với lòng yêu thích, anh ấy đã bỏ công sức tìm kiếm từng món đồ đạc và vật dụng trong các hiệu đồ cổ, cho đến khi anh sưu tầm được những món đẹp nhất và tiện dụng nhất. Anh ấy đã cố tạo ra một cái gì đó đơn giản nhưng hoàn hảo trong những giới hạn khiêm tốn, sao cho những đồ vật tiện lợi và hữu ích kết hợp với những thứ đẹp đẽ và tao nhã, và làm cho căn hộ của anh trông như một bức tranh. Liền sau đó, lúc chúng tôi đang ngồi chơi, một phụ nữ trẻ xuất hiện và Johann giới thiệu tôi với cô ta. Rồi chúng tôi uống trà và rất vui vẻ. Con mèo kêu meo meo đòi sữa và con chó to lớn xinh đẹp muốn ăn một ít bánh quy trên bàn. Cả hai con vật đều được thỏa mãn ý muốn. Trời đã tối và tôi phải ra về.

Ở Trường Benjamenta này, người ta học cách cam lòng chịu đựng những mất mát, và theo tôi đó là một kỹ năng, một bài tập luyện mà nếu không học thì bất kỳ ai cũng sẽ mãi mãi là một đứa trẻ to đầu lớn xác, một kiểu con nít khóc nhè, dù y có quyền thế đến đâu. Đám học sinh chúng tôi không có hy vọng nào, thậm chí còn bị cấm ấp ủ trong lòng những hy vọng về cuộc đời, thế nhưng chúng tôi vẫn hoàn toàn bình yên và hạnh phúc. Sao thế được? Chúng tôi có cảm thấy các thiên thần hộ mệnh, hoặc một cái gì đó tương tự, đang bay lượn qua lại trên mái đầu chải mượt của mình không? Tôi không biết được. Có lẽ chúng tôi hạnh phúc và vô tư vì bị hạn chế như vậy. Điều đó hoàn toàn có thể. Nhưng như vậy thì niềm hạnh phúc và sự thoải mái trong tâm hồn chúng tôi có trở nên kém giá trị đi chút nào không? Chúng tôi có thực sự ngu ngốc không? Chúng tôi có những rung động của mình. Dù có ý thức hay vô ý thức, chúng tôi cũng có suy nghĩ về nhiều chuyện, chúng tôi sống cùng với những hồn ma phiêu bạt, và chúng tôi gửi cảm xúc của mình đi theo mọi hướng, thu thập những kinh nghiệm và quan sát. Có rất nhiều điều an ủi chúng tôi, vì nói chung, chúng tôi là những kẻ rất sốt sắng và hay tìm hiểu, và cũng vì chúng tôi ít coi trọng giá trị bản thân. Một người coi trọng giá trị bản thân sẽ không bao giờ an toàn trước những điều làm nản lòng và nhục nhã, bởi vì kẻ có ý thức về bản thân luôn phải đương đầu với một cái gì đó thù địch với ý thức. Dù vậy, đám học sinh chúng tôi hoàn toàn có phẩm giá chứ chẳng phải không, nhưng loại phẩm giá mà chúng tôi có là một thứ rất hay thay đổi, nhỏ bé, mềm dẻo và dễ uốn nắn. Ngoài ra chúng tôi còn khoác phẩm giá lên hay trút bỏ đi tùy theo các yêu cầu. Chúng tôi là sản phẩm của một nền văn hóa cao hơn, hay chúng tôi là những đứa quê mùa thô lậu? Tôi cũng không biết nữa. Có một điều tôi biết chắc chắn: chúng tôi đang chờ đợi! Đó là giá trị của chúng tôi. Phải, chúng tôi đang chờ đợi, và cũng có thể nói là chúng tôi lắng nghe cuộc đời, nghe ngóng cái vùng đất bằng phẳng mà mọi người gọi là thế giới, nghe ngóng cái biển khơi đầy bão tố đó. Nhân tiện nói thêm, thằng Fuchs đã rời khỏi trường này. Tôi rất vui vì điều đó. Tôi không chịu được cái thằng đó.

Tôi đã nói chuyện với Herr Benjamenta, nói cách khác, ông ta đã nói chuyện với tôi. “Jakob,” ông ta bảo tôi, “nói cho tôi biết, cậu có thấy cuộc sống ở đây khắt khe, khổ sở không? Hả? Tôi muốn biết ý kiến ​​của cậu. Cứ thẳng thắn với tôi đi.” Tôi không thích nói gì cả, nhưng không phải là vì muốn thách thức. Khả năng thách thức của tôi đã biến mất từ ​​lâu. Nhưng tôi không nói gì, và đó cũng gần như câu trả lời của tôi sẽ là: “Thưa ông, cho phép tôi không nói ra bất cứ điều gì. Để trả lời một câu hỏi như vậy, cùng lắm thì tôi có thể nói ra là một điều gì đó không thích hợp.” Herr Benjamenta nhìn tôi chằm chằm, và tôi nghĩ là ông ta hiểu sự im lặng của tôi. Và quả thực là vậy, vì ông ta mỉm cười và nói: “Cậu đang thắc mắc phải không, Jakob, là tại sao tôi lại sống trong trường này một cuộc đời hết sức vật vờ, hết sức trống rỗng, có thể nói như vậy? Không phải sao? Cậu đã có thấy điều đó không? Nhưng tôi không hề muốn lừa cho cậu đưa ra những câu trả lời xúc phạm. Tôi phải thú nhận một điều với cậu, Jakob. Nghe này, tôi nghĩ cậu là một thanh niên thông minh và đàng hoàng. Đấy, hãy vênh mặt lên đi nào. Và tôi cảm thấy rằng tôi phải thú nhận với cậu một điều nữa: Tôi, Hiệu trưởng của cậu, nghĩ tốt về cậu. Và lời thú nhận thứ ba: Tôi đã bắt đầu cảm thấy thích cậu, một cảm tình khác thường, hết sức kỳ lạ, và bây giờ thì không thể kìm nén được. Bây giờ cậu sẽ vênh mặt lên với tôi chứ, Jakob? Cậu sẽ làm thế, phải không? — khi đã biết rằng tôi đã bộc lộ đôi điều về bản thân với cậu, chàng trai ạ, cậu có dám coi thường tôi không? Và cậu bây giờ có thách thức tôi không? Phải vậy không, nói cho tôi biết, phải vậy không?” Hai chúng tôi, người đàn ông có bộ râu và tôi, thằng nhóc, nhìn vào mắt nhau. Giống như một cuộc chiến đấu nội tâm. Tôi định mở miệng nói một lời ngoan ngoãn nào đó, nhưng tôi đã cố kiềm được và không nói gì cả. Và bây giờ tôi thấy ông Hiệu trưởng, con người to lớn này, đang khẽ run rẩy. Từ lúc này, giữa hai chúng tôi đã có một mối gắn kết chung. Tôi cảm thấy điều đó, phải, không chỉ cảm thấy mà tôi còn biết rõ. “Herr Benjamenta chú ý tới mình,” tôi nhủ thầm, và kết quả của nhận thức này, điều giáng xuống đầu tôi như một tia chớp, tôi thấy mình nên, thậm chí là bắt buộc, không được nói gì cả. Chỉ cần thốt một lời thôi là càng tệ hại hơn cho tôi. Một lời duy nhất cũng đủ khiến tôi trở thành một đứa học trò nhỏ tầm thường trở lại, và tôi vừa mới được lên tới tầm cao giống như con người nhất, chứ không giống học trò nữa. Tôi cảm nhận sâu sắc tất cả những điều này, và như bây giờ tôi biết, tôi đã cư xử hoàn toàn đúng vào lúc đó. Ông Hiệu trưởng, ông ta đã đến gần tôi rồi nói như sau: “Cậu có vẻ lên mặt ta đây, Jakob.” Ông ta ngừng lời, và ngay lập tức tôi nhận ra lý do. Chắc chắn là bây giờ ông ta muốn xem tôi sẽ cư xử như thế nào. Tôi biết như thế cho nên tôi không máy động một cơ bắp nào trên gương mặt mình mà cứ nhìn thẳng phía trước, cứng đơ, đần độn. Rồi chúng tôi lại nhìn nhau. Nghiêm khắc và lạnh lùng, tôi nhìn chằm chằm vào ông Hiệu trưởng. Tôi cố giả vờ trơ trơ ngoài mặt, nhưng thực tế trong lòng tôi chỉ muốn thích chí cười ầm vào mặt ông ta. Nhưng đồng thời tôi cũng thấy rằng ông ta hài lòng với tác phong của tôi, và cuối cùng ông ta nói: “Cậu nhỏ, quay lại với công việc của cậu đi! Hãy bận rộn làm cái gì đó. Hoặc đi nói chuyện với Kraus. Đi đi!” Tôi cúi chào thật sâu, như thường lệ, rồi đi ra. Ngoài hành lang, tôi dừng lại, như một lần trước đây, nhưng đúng là cũng như thường lệ, và nghe ngóng qua lỗ khóa để xem có điều gì đang xảy ra trong đó không. Nhưng mọi thứ đều im ắng. Tôi không nín được một tiếng cười khẽ, thích thú, một tiếng cười rất ngớ ngẩn, rồi tôi đi vào lớp, ở đó tôi thấy Kraus đang ngồi trong bóng chiều chạng vạng, một ánh sáng nâu nâu dường như bao quanh hắn. Tôi đứng đó một hồi lâu. Thực sự là tôi đã đứng đó rất lâu, bởi có cái gì đó, một điều gì đó mà tôi không thể hiểu được. Tôi có cảm tưởng như mình đang ở nhà. Không phải, cứ như thể tôi chưa được sinh ra, như thể tôi đang lơ lửng trong một thành phần vật chất nào đó trước khi chào đời. Tôi cảm thấy mắt nóng bừng và cảnh vật trước mặt mơ hồ như biển. Tôi đi tới chỗ Kraus và nói với hắn: “Kraus, tôi quý mến cậu.” Hắn gầm gừ như kiểu cái-quái-gì-thế-này. Tôi hấp tấp đi lên phòng mình. Và bây giờ? Chúng tôi có phải bạn bè không? Herr Benjamenta và tôi có phải bạn bè không? Đằng nào thì cũng có một quan hệ nào đó giữa hai chúng tôi, nhưng thuộc kiểu nào đây? Tôi cấm mình không được tìm cách giải thích điều đó. Tôi muốn giữ cho tươi sáng, nhẹ nhàng và vui vẻ. Dẹp hết suy nghĩ đi!

Tôi vẫn chưa có việc làm. Herr Benjamenta bảo ông ta đang tìm một chỗ. Ông ta nói thế với giọng hách dịch, và nói thêm: “Sao? Nôn nóng hả? Rồi sẽ tới lượt. Cứ chờ đó!” Đám học sinh kháo nhau rằng Kraus sẽ sớm lên đường. Lên đường, nghe có vẻ chuyên nghiệp đến hài hước. Kraus sắp đi rồi sao? Tôi mong đây chỉ là những lời đồn nhảm, những trò kích động để lấy tiếng. Ngay cả trong đám học sinh chúng tôi cũng có kiểu báo lá cải, những chuyện tầm phào bịa đặt vô cớ và rỗng tuếch. Những chuyện này tôi thấy ở đâu cũng vậy cả. Tôi cũng đã đến thăm anh tôi lần nữa, và anh chàng này đã to gan giới thiệu tôi với mọi người. Tôi đã ngồi ở bàn ăn của những người giàu có, và tôi sẽ không bao giờ quên cách mình đã cư xử. Lúc đó tôi mặc một chiếc áo khoác dài đã cũ nhưng vẫn còn khá trịnh trọng. Áo khoác dài làm cho ta trở nên lớn tuổi và có vẻ ta đây. Thế là tôi giả vờ như một người có thu nhập ít nhất là hai mươi nghìn. Tôi đã nói chuyện với những người mà họ sẽ quay lưng lại với tôi nếu họ đoán được tôi là ai. Cánh phụ nữ, những người sẽ hoàn toàn khinh thường tôi nếu tôi nói với họ rằng tôi chỉ là một cậu học trò, lại tươi cười với tôi và cũng có thể nói là họ còn có những cử chỉ khích lệ tôi nữa. Và tôi kinh ngạc trước sự thèm ăn của mình. Ta tự phục vụ ở bàn ăn nhà người khác mới thoải mái làm sao! Tôi thấy họ ai cũng làm như thế, và tôi đã bắt chước, hết sức tài tình. Thật thô bỉ hết sức. Tôi có cảm giác gần như nhục nhã khi chường bản mặt ăn uống sung sướng của mình ở đó, cụ thể là trong cái nhóm người đó. Tôi chẳng để ý gì mấy đến cách cư xử lịch sự phong nhã. Nhưng đúng là tôi thấy mọi người đều nghĩ tôi là một thanh niên nhút nhát, trong khi tôi đang tỏ ra đầy xấc láo (trong mắt tôi). Johann xử sự khéo léo trong cách giao tiếp. Anh ấy có phong thái nhẹ nhàng và thoải mái của một người có chút địa vị và tự biết điều đó. Nhìn cách cư xử của anh thật là sướng mắt. Tôi có khen Johann quá lời không? Ồ, không. Tôi không yêu quý anh mình chút nào, nhưng tôi cố gắng nhìn nhận anh ấy thật trọn vẹn chứ không chỉ nửa vời. Tất nhiên, đó có thể là tình yêu. Không hề chi. Tình yêu cũng rất hay ho ở trong rạp hát, nhưng tôi không muốn đi sâu vào chuyện đó. Rồi tôi lại cởi chiếc áo khoác dài ra. Ồ, thật dễ chịu khi được tản bộ và chạy ào ào trong trang phục của một kẻ mà ta kính trọng! Phải, chạy ào ào! Ta nói líu lo và chạy ào ào khắp nơi, trong nhóm người có học thức đó. Rồi tôi lại rón rén trở về trường và khoác bộ quần áo học sinh vào. Tôi thích ở đây và tôi sau này có lẽ sẽ có một mong muốn ngu ngốc làm cái gì đó cho anh em nhà Benjamenta, khi tôi trở thành một cái gì đó lớn lao, nhưng tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ thành cái gì lớn lao cả, và tôi rùng mình với một cảm giác thoả mãn kỳ cục rằng tôi biết chắc điều này từ trước. Một ngày nào đó tôi sẽ bị quật ngã bởi một tai hoạ bất ngờ nào đó, và rồi mọi chuyện, tất cả những điều rối rắm này, khao khát này, điều không biết này, hết mọi thứ, lòng biết ơn và vô ơn, cái trò dối người và tự dối mình này, cái ý nghĩ rằng ta biết thế nhưng chẳng biết một cái gì hết, tất cả sẽ đến hồi kết thúc. Nhưng tôi muốn sống, bất kể thế nào.

Có chuyện gì đó không hiểu nổi đã xảy ra. Có lẽ nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi không muốn để cho những điều bí ẩn chế ngự bản thân. Lúc đó tôi đang ngồi một mình trong phòng học, trời đã gần sẩm tối. Đột nhiên Fräulein Benjamenta xuất hiện, đứng sau lưng tôi. Tôi không nghe thấy tiếng cô ấy bước vào, nên chắc cô ấy đã mở cửa rất khẽ. Cô ấy hỏi tôi đang làm gì, nhưng với một giọng điệu khiến cho câu trả lời không cần thiết nữa. Ngay cả khi hỏi, cứ cho là vậy, cô ấy nói điều mà cô ấy đã biết rồi. Những lúc đó, ta đương nhiên không phải trả lời. Cô ấy đặt một tay lên vai tôi, cứ như cô ấy đang mệt và cần một chỗ dựa. Tôi liền có cảm giác mãnh liệt rằng tôi thuộc về cô ấy, hay nói cách khác, tôi thực sự đã thuộc về cô ấy rồi ư? Phải, chỉ thuộc về cô ấy. Tôi không bao giờ tin vào những cảm giác. Nhưng ở đây, cái cảm giác giống như thuộc về cô ấy, thuộc về cô giáo, đúng là thật. Chúng tôi thuộc về nhau. Tất nhiên có một khác biệt. Nhưng đột nhiên chúng tôi trở nên gần gũi. Luôn luôn, luôn luôn, có sự khác biệt. Tôi thực sự ghét cái cảm giác ít hoặc không có sự khác biệt. Fräulein Benjamenta và tôi là hai loại người khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau, cảm nhận này là một niềm vui đối với tôi. Tôi thường khinh bỉ chuyện tự lừa dối bản thân. Tôi coi những thứ địa vị và lợi thế là kẻ thù của mình, trừ khi chúng là hoàn toàn đích thực. Cho nên mới có sự khác biệt lớn này. Vậy thế này là thế nào? Tôi không thể vượt qua được những khác biệt nào đó sao? Nhưng rồi cô giáo nói: “Hãy đi với tôi! Đứng lên và đi với tôi. Tôi muốn cho cậu xem cái này.” Chúng tôi cùng nhau đi. Trước mắt chúng tôi, ít ra là trước mắt tôi (có lẽ không phải mắt cô ấy), mọi thứ đều bao trùm trong bóng tối dày đặc. “Đây là các phòng nội bộ,” tôi nghĩ thầm, và tôi cũng không sai. Chuyện là như thế, và cô giáo yêu quý của tôi dường như đã nhất quyết cho tôi thấy một thế giới đã bị che giấu cho đến tận bây giờ. Nhưng tôi phải tạm dừng để thở.

Như tôi đã nói, lúc đầu hoàn toàn tối đen. Cô giáo nắm tay tôi và nói với giọng thân thiện: “Này, Jakob, xung quanh cậu toàn là bóng tối. Và rồi sẽ có người nắm tay cậu. Và cậu sẽ vui mừng vì điều này và lần đầu tiên cậu sẽ cảm thấy biết ơn sâu sắc. Đừng nản lòng. Rồi sẽ có nhiều ánh sáng nữa.” Cô ấy chưa dứt lời thì một ánh sáng trắng chói lóa chiếu về phía chúng tôi. Một cánh cửa hiện ra và chúng tôi đi tới, cô ấy đi trước và tôi theo sát đằng sau, đi qua khoảng trống, tiến vào nơi sáng rực như lửa ấy. Chưa bao giờ tôi thấy điều gì rạng rỡ và đầy hứa hẹn như vậy nên tôi đúng là hết sức kinh ngạc. Cô giáo nói với một nụ cười, với giọng điệu thậm chí còn thân thiện hơn: “Ánh sáng này có làm chói mắt cậu không? Vậy thì hãy cố chịu đựng. Nó có nghĩa là niềm vui và ta phải biết cách cảm nhận và chịu đựng nó. Nếu muốn, cậu cũng có thể nghĩ rằng nó có nghĩa là hạnh phúc tương lai của cậu, nhưng hãy nhìn xem điều gì đang xảy ra? Nó đang biến mất. Ánh sáng này đang tan vỡ. Cho nên cậu sẽ không phải chịu đựng hạnh phúc lâu nữa đâu, Jakob. Sự thành thật của tôi có làm cậu khó chịu không? Không. Hãy đi xa hơn đi. Chúng ta phải nhanh lên một chút, vì còn nhiều điều ma quái khác và chúng ta phải run sợ đi qua. Nói tôi nghe đi, Jakob, cậu có hiểu lời tôi không? Nhưng đừng nói gì cả. Cậu không được phép nói chuyện ở đây. Cậu có nghĩ rằng tôi là bà phù thuỷ không? Không, tôi không phải là bà phù thuỷ. Quả thật là tôi biết chút ít cách mê hoặc, để dụ dỗ, tôi thừa biết như thế. Mọi cô gái đều biết làm điều đó. Nhưng đi tiếp đi nào.” Vừa nói cô gái đáng ngưỡng mộ ấy vừa mở một cánh cửa sập dưới sàn nhà, tôi phải phụ giúp, và chúng tôi cùng bước xuống một hầm sâu, cô ấy đi trước như thường lệ. Cuối cùng, khi qua hết những bậc thang bằng đá, chúng tôi đi trên mặt đất mềm, ẩm ướt. Tôi có cảm giác chúng tôi đang đứng giữa lòng trái đất, nơi vô cùng sâu thẳm và hiu quạnh. Chúng tôi đi men theo một hành lang dài tăm tối. Fräulein Benjamenta nói: “Chúng ta bây giờ đang ở trong những căn hầm của nghèo đói và bần cùng, và vì cậu có thể sẽ nghèo khổ suốt đời, Jakob yêu quý, xin hãy cố làm quen một chút với bóng tối và cái mùi lạnh lẽo, nồng nặc của chỗ này. Đừng sợ, và đừng tức giận. Chúa cũng ở đây, ngài ở khắp mọi nơi. Ta phải biết yêu quý và nuôi dưỡng sự cần thiết. Hãy hôn mặt đất ẩm ướt của căn hầm này đi. Tôi yêu cầu cậu, phải, làm đi. Làm như thế là cậu đã chứng tỏ được ý nguyện phục tùng những gì nặng nhọc và tăm tối, những gì có lẽ sẽ chiếm phần lớn trong cuộc đời cậu.” Tôi vâng lời cô ấy, nằm phủ phục trên mặt đất lạnh và hôn một cách nồng nhiệt, trong lúc một cơn rùng mình vừa nóng vừa lạnh luồn qua người. Chúng tôi đi tiếp. A, những hành lang của sự khổ sai và thiếu thốn khủng khiếp này đối với tôi dường như dài vô tận, và có lẽ chúng thực sự là vô tận. Những giây dài như nhiều cuộc đời, và những phút triền miên như bao thế kỷ thống khổ. Đủ rồi, cuối cùng chúng tôi đi tới một bức tường ảm đạm, cô giáo nói: “Hãy tới vuốt ve bức tường đi. Đó là Bức Tường Ưu Phiền. Nó sẽ luôn hiện hữu trước mắt cậu và cậu sẽ không khôn ngoan nếu căm ghét nó. À, ta nhất định phải biết cách tránh né sự cứng nhắc và bất cứ thứ gì không đem lại một cách hòa giải nào. Hãy làm thử đi.” Tôi đi tới thật nhanh, cứ như hối hả một cách say mê, đến chỗ bức tường và lao mình vào cõi lòng của nó. Phải, vào lồng ngực bằng đá ấy, và tôi đã nói với nó mấy lời ân cần, gần như là đùa bỡn. Và nó vẫn trơ trơ, đúng như dự đoán. Tôi đã đóng kịch, để làm hài lòng cô giáo của tôi, hẳn rồi, và một lần nữa tôi lại đang làm đủ trò ngoại trừ đóng kịch. Thế nhưng cả hai chúng tôi đều vui cười, cô ấy, cô giáo, cũng như tôi, cậu học trò non nớt của cô. “Nào,” cô ấy nói, “bây giờ chúng ta hãy tự thưởng cho mình một chút tự do đi, một chút hoạt động.” Và với cây gậy nhỏ màu trắng quen thuộc, cô ấy chạm vào bức tường, và toàn bộ căn hầm khủng khiếp biến mất và chúng tôi thấy mình đang ở trên một con đường bằng băng hoặc thủy tinh trơn láng, vừa chật hẹp vừa bao la. Chúng tôi lướt đi, cứ như trên những đôi giày trượt kỳ diệu, và chúng tôi cũng nhảy múa nữa, bởi con đường dưới chân dâng lên và hạ xuống như cơn sóng. Đúng là thích thú. Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ thứ gì giống như thế và tôi đã hét lên vui sướng: “Đã quá!” Và trên cao những ngôi sao đang lung linh, trên một bầu trời, lạ lùng thay, toàn màu xanh nhạt nhưng lại tăm tối, và mặt trăng với ánh sáng siêu phàm đang đăm đăm nhìn xuống hai người trượt băng chúng tôi. “Đây là tự do,” cô giáo nói, “nó là một thứ gì đó rất lạnh giá, và ta không thể chịu đựng lâu được. Ta phải luôn di chuyển liên tục, như chúng ta đang làm đây này, ta phải nhảy múa trong tự do. Nó lạnh lẽo và đẹp. Đừng bao giờ yêu nó! Điều đó chỉ khiến cậu về sau sẽ buồn khổ, vì ta chỉ có thể ở trong cõi tự do này trong phút chốc thôi, không lâu dài hơn. Hãy nhìn xem con đường tuyệt đẹp mà chúng ta đang lướt đi bên trên đang dần tan chảy. Bây giờ cậu có thể nhìn tự do đang chết dần, nếu cậu mở mắt ra. Sau này trong cuộc đời, cậu sẽ tha hồ chứng kiến cảnh tượng đau khổ này.” Cô ấy vừa dứt lời thì chúng tôi rơi tuột từ đỉnh cao hạnh phúc xuống một nơi buồn chán và ấm cúng, đó là một phòng ngủ nhỏ, đầy ắp những tiện nghi tinh vi, được trang trí những tấm thảm thêu đủ loại cảnh tượng và hình ảnh khêu gợi. Quả đúng là một phòng ngủ nệm êm chăn ấm. Tôi thường hay mơ tưởng đến những phòng ngủ đích thực. Và bây giờ tôi đã ở trong một căn phòng như vậy. Tiếng nhạc lao xao tuôn xuống những bức tường chung quanh như một cơn mưa tuyết nhẹ nhàng, ta thậm chí có thể nhìn thấy âm nhạc đang được tạo ra, những nốt nhạc như những bông tuyết thần kỳ. “Đấy,” cô giáo nói, “cậu có thể nghỉ ngơi ở đây. Nghỉ bao lâu thì cậu phải tự quyết định lấy.” Cả hai chúng tôi đều mỉm cười trước những lời bí ẩn này, và mặc dù trong lòng gợn lên một nỗi sợ hãi khôn tả, tôi vẫn nằm xuống một trong những tấm thảm bày sẵn chung quanh, tận hưởng ngay sự thoải mái, không chút do dự. Một điếu thuốc hương vị ngon lạ lùng từ trên cao bay xuống cái miệng tôi đang bất giác mở ra, và tôi hút. Một cuốn tiểu thuyết rập rờn bay vào tay tôi và tôi có thể đọc thoải mái. “Việc đó không hợp với cậu đâu. Đừng đọc những cuốn sách như vậy. Đứng lên. Chúng ta nên đi tiếp thì hay hơn. Sự êm ái sẽ dụ dỗ ta sa vào sự vô tâm và tàn nhẫn. Nghe đi, cậu có nghe thấy tiếng sấm gầm giận dữ của chúng không, chúng đang đến. Căn phòng này là căn phòng của tai họa. Cậu đã nằm nghỉ trong đó rồi. Bây giờ tai họa sẽ giáng xuống cậu và sự nghi ngờ và bất an sẽ dìm ngập cậu. Đi nào! Ta phải ra ngoài và can đảm đối mặt với những điều không thể tránh khỏi.” Cô giáo đã nói như thế và cô chưa dứt lời thì tôi đã ngụp lặn trong một dòng sông hoài nghi nhớp nháp và khó chịu nhất. Thất vọng hoàn toàn, tôi không dám nhìn quanh để xem cô ấy có còn ở gần bên mình hay không. Không, cô giáo, bà phù thuỷ đã hoá phép ra tất cả những ảo ảnh và trạng thái này, đã biến mất. Tôi đang ngụp lặn một mình mà thôi. Tôi cố thét lên, nhưng nước lại bắt đầu tràn vào miệng. Ôi, những tai họa này. Tôi oà khóc, và tôi cay đắng hối hận vì đã buông thả mình cho những khoái lạc khêu gợi. Rồi đột nhiên tôi lại ngồi trong Trường Benjamenta, trong lớp học tối tăm, và Fräulein Benjamenta vẫn đứng sau lưng tôi, và cô ấy vuốt má tôi, nhưng chẳng khác gì cô đang cần tự an ủi mình, chứ không phải tôi. “Cô ấy không vui,” tôi nghĩ thầm. Sau đó Kraus, Schacht và Schilinski trở về, đám này đã ra ngoài đi chơi cùng nhau. Cô gái liền rụt tay về và đi vào bếp để chuẩn bị bữa tối. Nãy giờ tôi nằm mơ chăng? Nhưng tại sao lại tự hỏi mình điều này, khi đã đến giờ ăn tối? Có nhiều lúc tôi thật sự là thích ăn. Lúc đó tôi có thể nhai những món thức ăn ngớ ngẩn nhất, giống như một anh thợ học việc đói khát, vậy thì tôi đang sống trong một câu chuyện cổ tích và không còn là một con người có văn hoá trong một thời đại văn hóa.

Đôi khi các buổi học thể dục và khiêu vũ của chúng tôi rất thú vị. Việc phải thể hiện kỹ năng không phải là không có nguy hiểm. Ta dễ biến mình thành trò cười lắm. Chắc chắn là đám học sinh chúng tôi không chế nhạo nhau. Không có à? Ồ, có, có chứ. Ta cười ầm bằng lỗ tai, nếu như ta không được phép cười bằng cái miệng. Và bằng đôi mắt của ta. Những con mắt rất thích cười. Và muốn đặt ra các quy định phép tắc cho đôi mắt thì cũng được, chắc chắn rồi, nhưng rất là khó. Vì thế chúng tôi không được phép nháy mắt, chẳng hạn, nháy mắt tức là nhạo báng và do đó điều này bị cấm, nhưng đúng là có lúc ta cũng phải nháy mắt. Không thể trấn áp hoàn toàn những bản tính tự nhiên. Mà cũng có thể. Nhưng ngay cả khi ta đã vứt bỏ hết sạch bản tính tự nhiên thì vẫn luôn còn sót lại một chút gì đó của nó, một phần thừa, và nó bộc lộ ra. Như cậu Peter Lêu Nghêu chẳng hạn, rất khó để cho anh chàng này vứt bỏ bản tính cá biệt nhất của cậu ta. Có những khi cậu ta buộc phải khiêu vũ, phải cử động uyển chuyển và thể hiện sự uyển chuyển của mình, thì cậu ta lại hoàn toàn cứng đờ như gỗ và gỗ là trạng thái tự nhiên của Peter, giống như một năng khiếu trời cho vậy. Thế nhưng ta không nhịn được cười với một thanh xà nhà khi nó xuất hiện trong hình dạng một người cao nghều, ta phải cười thầm ngặt nghẽo trong lòng. Tiếng cười là sự đối lập với một thanh gỗ, nó là thứ gì đó gây cháy, thứ gì đó quẹt những que diêm trong lòng ta. Những que diêm kêu rúc rích, giống hệt một tiếng cười bị đè nén. Tôi rất thích, thích lắm, cái việc ngăn không cho tiếng cười bật ra. Cái cảm giác nhột nhạt, thật kỳ diệu: không cho thoát ra cái điều đang hết sức muốn vọt ra ngoài, tôi thích những gì không được phép tồn tại, những gì phải lặn sâu vào trong lòng mình. Nó làm cho những sự tình bị trấn áp này trở nên phiền toái hơn, nhưng đồng thời lại quý giá hơn. Phải, phải, tôi thừa nhận tôi thích bị trấn áp. Chắc chắn rồi. Không, không phải lúc nào cũng chắc chắn. A lê hấp, cứ việc! Ý tôi là: nếu ta không được phép làm điều gì đó, ta sẽ làm điều đó nhiều gấp đôi ở một nơi khác. Không có gì nhạt nhẽo cho bằng một sự cho phép thờ ơ, nhanh chóng, rẻ tiền. Tôi thích phải bỏ công sức cho mọi sự, phải kinh qua mọi sự, và một tiếng cười chẳng hạn, cũng cần phải được nếm trải thấu đáo. Khi tôi cười âm thầm trong lòng, khi tôi không biết phải làm gì với đống thuốc súng đang cháy xèo xèo này, thì tôi biết thế nào là cười, như vậy tôi đã cười một cách buồn cười nhất, như vậy tôi đã hoàn toàn hiểu được cái gì đang làm tôi run bần bật cả người. Vì thế tôi phải kiên quyết khẳng định và coi như niềm xác tín của mình rằng các quy định thực sự đã mạ vàng cho cuộc sống, hoặc chí ít là cũng mạ bạc, nói cho gọn, chúng làm cho cuộc sống trở nên ngon lành. Bởi vì chắc chắn là hầu hết mọi sự việc và điều vui thú khác cũng giống y như tiếng cười ngon lành bị nghiêm cấm này. Chẳng hạn, không được phép khóc thì càng khiến ta khóc to hơn. Làm việc mà không có sự yêu thích, phải, tức là yêu thích đó. Nếu tôi không được cho yêu thì tôi yêu nhiều gấp mười lần. Thứ gì bị cấm đều có sức sống gấp trăm lần; do đó, nếu cái gì sẽ phải chết thì nó lại càng sống, sống mãnh liệt hơn. Những điều nhỏ nhặt như thế nào thì những điều lớn lao cũng như vậy. Nói rất hay ho, bằng những lời lẽ bình thường, nhưng trong những chuyện bình thường này lại là sự thật đích thực. Hình như tôi lại nói cà kê nữa rồi, phải không? Tôi thừa nhận rằng mình đang nói cà kê, nhưng những dòng chữ này phải được lấp đầy với cái gì đó. Những thứ trái cấm mới ngon làm sao, ngon thật là ngon!

Có lẽ bây giờ giữa Herr Benjamenta và tôi, cả hai đều thấy một thứ trái cấm đang lơ lửng trước mặt. Nhưng chúng tôi không ai công khai nói gì cả, và điều đó chắc chắn phải được chấp thuận. Với tôi chẳng hạn, được đối xử thân thiện đúng là khó chịu. Tôi nói chung vậy thôi. Một số người nào có cảm tình với tôi thì tôi lại thấy kinh tởm, chuyện này có nói bao nhiêu cũng không thừa. Đương nhiên là tôi cũng thích sự hoà nhã và nhiệt tình. Ai mà lại thô lỗ đến mức xa lánh hoàn toàn mọi sự thân ái, mọi tình cảm ấm áp chứ? Nhưng tôi luôn thận trọng về chuyện thân mật với mọi người, và tôi không biết, nhưng tôi phải có một khả năng nào đó để thuyết phục người khác, một cách thầm lặng, rằng tìm cách gần gũi hơn nữa sẽ là điều không khôn ngoan, ít nhất tôi nghĩ rằng khó có ai đánh cắp được sự tin cậy của tôi. Và đối với tôi, tình cảm của tôi là điều quý giá, và bất kỳ ai muốn có nó thì phải hết sức thận trọng, mà đó là điều mà ông Hiệu trưởng bây giờ đang muốn. Có vẻ như Herr Benjamenta này muốn chiếm hữu trái tim tôi và kết thân với tôi. Nhưng hiện tại, tôi quả thực đang đối xử với ông ta rất lạnh nhạt, và ai mà biết: có lẽ tôi không muốn liên quan gì đến ông ta.

“Cậu còn trẻ,” ông Hiệu trưởng nói với tôi, “cậu đang tràn trề triển vọng. Khoan đã, còn điều gì khác mà tôi quên nói không? Cậu phải nhận ra rằng, Jakob, rằng tôi có rất nhiều điều muốn nói với cậu, thế nhưng cậu có thể đã quên những điều tốt đẹp nhất và sâu sắc nhất trước khi cậu biết mình đang ở đâu. Và bản thân cậu, trông cậu giống như chính là ký ức tươi mới, trong khi ký ức của tôi bây giờ đang già cỗi đi. Đầu óc tôi đang chết dần, Jakob. Hãy tha lỗi nếu như tôi đang nói ra những điều quá yếu đuối, quá thân mật. Thật buồn cười. Cho nên tôi xin cậu tha lỗi cho tôi, trong khi tôi có thể cho cậu một trận đòn nhừ tử nếu tôi thấy điều đó cần thiết. Cậu nhìn tôi với ánh mắt nghiêm khắc làm sao. Chà, chà, tôi có thể quẳng cậu vào bức tường ở đằng kia, mạnh đến nỗi cậu sẽ không bao giờ nhìn thấy hay nghe thấy gì nữa. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra khiến tôi mất hết uy quyền đối với cậu. Có lẽ cậu đang cười nhạo tôi, cười thầm. Nhưng giữa chúng ta: hãy coi chừng. Cậu phải thấy rằng có lúc những cảm xúc điên rồ chế ngự tôi và trước khi tôi có thể tự kiềm chế thì tôi đã quên mất mình đang làm gì. Ồ, chàng trai ạ, không, đừng sợ. Sẽ không thể nào, hoàn toàn không thể, làm hại cậu được, nhưng — à, thôi, tôi đã định nói gì với cậu thế hả? Nói cho tôi biết, cậu đúng là có hơi sợ hãi? Và cậu còn trẻ và cậu có nhiều hy vọng, và cậu sẽ sớm tìm được việc làm. Không phải vậy sao? Đúng là thế. Phải, đúng là thế và tôi xin lỗi, thử nghĩ coi, nhiều lúc tôi có cảm tưởng rằng cậu là em trai tôi hoặc một cái gì đó thân thiết rất tự nhiên đối với tôi, cậu có lẽ là họ hàng rất gần với tôi, với cử chỉ này, cách nói chuyện này, cái miệng này, mọi thứ, tóm lại, chính là cậu đấy. Tôi là một ông vua đã bị phế truất. Cậu đang cười à? Tôi thấy chuyện này đúng là thú vị, cậu biết đấy, đúng ngay khi tôi đang nói về các ông vua bị phế truất và tước bỏ ngai vàng, thì cậu thoáng cười, một nụ cười tinh quái. Cậu thông minh đó, Jakob. Ồ, thật là thích khi nói chuyện với cậu. Đó là một cảm giác bực bội thú vị khi cư xử với cậu theo một cách khá yếu đuối và nhẹ nhàng hơn bình thường. Phải, cậu đúng là khơi gợi được sự dễ dãi, buông lơi, từ bỏ phẩm giá. Người ta cho là cậu có tâm hồn cao cả — cậu có tin tôi không? — và điều này khiến người ta rất muốn buông thả theo những lời giải thích và thú nhận hay ho và bổ ích, khi có mặt cậu, chẳng hạn như tôi, hiệu trưởng của cậu, đang thú nhận với cậu, đồ sâu bọ non nớt đáng thương, thứ mà tôi có thể nghiền nát nếu muốn. Đưa tay cậu cho tôi. Tốt! Hãy để tôi nói với cậu rằng cậu đã biết cách khiến tôi phải cảm thấy tôn trọng cậu. Tôi rất tôn trọng cậu và — tôi — xin phép — đang nói với cậu đây. Và bây giờ tôi muốn hỏi cậu một điều: cậu sẽ là bạn tôi, là người bạn tâm tình nhỏ tuổi của tôi chứ? Tôi xin cậu, hãy vui lòng. Nhưng tôi sẽ cho cậu thời gian để suy nghĩ chuyện này, giờ cậu đi được rồi. Làm ơn đi đi, để tôi yên.”. Ông Hiệu trưởng đã nói với tôi như thế đó, người mà, như chính ông ta đã nói, hoàn toàn có thể nghiền nát tôi nếu ông ta muốn. Tôi không cúi chào ông ta nữa, điều đó sẽ làm ông ta tự ái. Ông ta lúc đó đã nói gì về các vị vua bị phế truất? Tôi sẽ không phí thời gian để suy nghĩ mấy chuyện này, như ông ta đề nghị, mà tôi vẫn cứ giữ phép tắc như thường. Đằng nào thì điều đó cũng có nghĩa là tôi phải đề phòng. Ông ta đã nói điên rồ gì đó? Ồ, tôi phải nói là chuyện này rất đáng lo ngại. Tôi quá tốt đẹp nên không bị quật bẹp dí vào tường. Tôi có nên nói với cô giáo không? Chúa ơi, không. Tôi có đủ can đảm để giữ im lặng về những chuyện lạ thường và đủ thông minh để một mình đối phó với những gì đáng ngờ. Có lẽ Herr Benjamenta điên. Đằng nào thì ông ta cũng giống như một con sư tử, còn tôi là một con chuột. Tình hình trong Trường Benjamenta bây giờ mới hay ho chứ. Chỉ có điều là tôi không được nói với bất kỳ ai. Đôi khi giấu nhẹm một chuyện lại có được một lợi thế. Thật ngớ ngẩn hết sức. Đủ lắm rồi!

Đôi khi tôi có những tưởng tượng kỳ lạ làm sao! Chúng gần như hoàn toàn phi lý. Bỗng dưng, không thể ngăn cản được, tôi lại trở thành một soái tướng trong cuộc chiến tranh vào khoảng năm 1400, không, muộn hơn một chút, vào lúc diễn ra chiến dịch Milan. Tôi và quan quân, chúng tôi đang ăn tối. Lúc đó là sau một trận chiến thắng lợi, và danh tiếng của chúng tôi sẽ lan rộng khắp châu Âu trong vài ngày tới. Chúng tôi uống rượu và cười đùa náo nhiệt. Chúng tôi không ăn trong phòng, không, mà ở ngoài trời. Mặt trời vừa lặn, thì một tên phản bội bị bắt giữ, một kẻ tội nghiệp, một người được đưa đến trước mặt tôi, trước ánh mắt đang bừng khí thế xung trận và chiến thắng của tôi. Kẻ bất hạnh đó cúi chào và run cầm cập, biết mình không có tư cách ngước nhìn vị thống soái này. Tôi nhìn y, chỉ trong thoáng mắt, rồi tôi nhìn những người đã đưa y tới cũng với một cách hờ hững và thoáng qua như vậy, rồi tôi hướng mắt sang cốc rượu đầy trước mặt mình, và ba cử chỉ này có nghĩa là: “Đem hắn đi treo cổ đi!” Ngay lập tức mọi người tóm lấy y, và rồi kẻ đáng thương đó thét lên trong tuyệt vọng, tệ hại hơn, cứ như y đang bị phanh thây, bị xé tan xác bởi một nghìn cái chết thê thảm của các tử sĩ rồi. Tai tôi đã nghe thấy đủ mọi âm thanh trong bao trận đánh và cuộc chiến đã tràn ngập cuộc đời mình, và mắt đã quá quen chứng kiến những cảnh tượng khủng khiếp và đau đớn, nhưng lạ thay, đây lại là điều mà tôi không thể chịu đựng nổi. Một lần nữa tôi quay sang kẻ bị kết án, tôi cũng ra hiệu cho quân sĩ. “Thả hắn ra,” tôi nói, cốc rượu đưa lên môi, nói vắn tắt cho nhanh. Rồi một điều vừa xúc động vừa đáng kinh tởm xảy ra. Kẻ mà tôi đã tha mạng, cái mạng sống của kẻ phản bội và tội đồ ấy, y cứ như điên dại lao nhào dưới chân tôi và hôn vào lớp cát bụi trên đôi giày của tôi. Tôi xô y ra. Tôi thấy ghê tởm và kinh hãi. Tôi thấy xao xuyến bởi chính mệnh lệnh của mình, cái uy quyền mà tôi có thể tự do thể hiện, như giông gió đùa cợt với những chiếc lá, lại khiến tôi băn khoăn đến đau đớn, thế là tôi cười to và ra lệnh cho kẻ đó ra đi. Y gần như mất trí. Một nỗi vui mừng cục súc trào ra mắt ra miệng, y cứ lảm nhảm cảm ơn, cảm ơn, rồi lồm cồm bò đi. Cho đến tận khuya, đám chúng tôi còn ngồi lại buông thả theo những cuộc chè chén say sưa, và lúc sáng sớm, khi chúng tôi vẫn còn ngồi ở bàn tiệc, tôi làm ra vẻ trịnh trọng, một điệu bộ trang nghiêm khiến chính tôi cũng buồn cười, để đón tiếp các sứ thần của Giáo hoàng. Tôi là anh hùng, là bá chủ thời đại. Nền hòa bình của một nửa châu Âu phụ thuộc vào ý thích ngông cuồng của tôi, sự thoả mãn của tôi. Thế mà trước mặt các ngài sứ thần này, tôi lại giả vờ ngu đần, ra vẻ khờ khạo hiền lành, kiểu đó hợp với tôi, tôi đã thấy mệt mỏi, tôi muốn về nhà. Tôi đã bằng lòng để cho người ta tước đoạt những lợi thế tôi đã giành được trong chiến tranh. Đương nhiên, sau đó tôi được phong Bá tước, rồi lập gia đình, và bây giờ tôi đã sa cơ thất thế đến mức tôi không thấy phiền muộn gì khi mình trở thành một cậu học sinh tầm thường bé mọn ở Trường Benjamenta, và có những đứa bạn như Kraus, Schacht và Schilinski. Có quẳng tôi trần truồng ra đường phố lạnh lẽo thì có lẽ tôi cũng sẽ tưởng tượng rằng mình là Đức Chúa toàn năng. Đến lúc tôi dừng bút rồi.

Với những người hèn mọn và khiêm nhường như đám học sinh chúng tôi, không hề có gì là hài hước. Không có phẩm giá, ta chấp nhận mọi thứ một cách nghiêm túc, nhưng cũng nhẹ nhàng, gần như bông lơn. Đối với tôi, các giờ học khiêu vũ, phép lịch sự, thể dục, dường như là chính đời sống công cộng, rộng lớn, quan trọng, và rồi trước mắt tôi, phòng học biến thành một phòng khách lộng lẫy, thành một con phố đầy người, thành một lâu đài với những hành lang dài xưa cũ, thành một văn phòng công sở, thành thư phòng của một học giả, thành một phòng tiếp tân của một mệnh phụ, tùy theo môn học mà nó có thể là bất cứ thứ gì. Chúng tôi phải bước vào, chào hỏi đúng nghi thức, cúi đầu, nói chuyện, giải quyết các vấn đề hoặc nhiệm vụ kinh doanh tưởng tượng, thực hiện các đơn đặt hàng, rồi đột nhiên chúng tôi có mặt ở bàn ăn và ăn uống theo kiểu cách đô thị và những người hầu đang phục vụ chúng tôi. Schacht, hoặc thậm chí có thể là Kraus, giả làm một cô nương thuộc tầng lớp quý tộc cao sang, và tôi đảm nhiệm việc tiếp đãi cô ta. Rồi tất cả chúng tôi đều là những người hào hoa, kể cả cậu Peter Lêu Nghêu, kẻ luôn cảm thấy rằng đằng nào thì cậu ta cũng là người hào hoa rồi. Rồi chúng tôi khiêu vũ. Chúng tôi nhảy xung quanh, ánh mắt biết cười của cô giáo theo dõi chúng tôi, và thình lình chúng tôi lao đến giúp đỡ một nạn nhân. Người này bị xe chẹt ngoài đường. Chúng tôi bố thí ít tiền cho một kẻ ăn mày, viết thư, quát gọi người hầu, đi hội họp, ghé những nơi nói tiếng Pháp, tập giở nón ra chào, nói chuyện săn bắn, tài chính và nghệ thuật, ngoan ngoãn hôn năm ngón tay xinh đang xoè ra của những người phụ nữ mà chúng tôi muốn cảm thấy họ yêu mến mình, tha thẩn như những kẻ nhàn rỗi, nốc cà phê, ăn dăm-bông nấu rượu vang Burgundy, ngủ trên những chiếc giường tưởng tượng, thức dậy rõ ràng là vào sáng sớm, nói: “Xin chào ngài Thẩm phán,” đánh nhau, vì điều đó cũng xảy ra trong cuộc đời, và chỉ đơn giản là làm tất cả những gì có xuất hiện trong cuộc đời. Nếu chúng tôi cảm thấy mệt mỏi với tất cả những trỏ ngớ ngẩn này, cô giáo sẽ gõ cây gậy của cô vào cạnh bàn và nói: “Nào, nhanh lên, các cậu! Làm việc!” Rồi chúng tôi lại làm những việc đó một lần nữa. Chúng tôi đi vòng quanh phòng như những con ong. Chuyện này rất khó mô tả, và nếu chúng tôi cảm thấy mệt mỏi trở lại, cô giáo sẽ gọi: “Sao? Các cậu đã chán ngán đời sống công cộng rồi ư? Tiếp tục đi! Hãy cho thấy cuộc đời là thế nào. Chuyện dễ mà, nhưng các cậu phải nhanh lên, nếu không cuộc đời sẽ chà đạp các cậu.” Và chúng tôi lại nhanh nhẩu đi tiếp. Chúng tôi ngao du, và gia nhân của chúng tôi làm những trò ngớ ngẩn. Chúng tôi ngồi trong các thư viện và văn phòng. Chúng tôi là những người lính, những tân binh đích thực, và chúng tôi phải nằm xuống và bắn. Chúng tôi bước vào các cửa tiệm để mua sắm, đến những chỗ bơi lội để bơi lội, tới nhà thờ để cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ.” Và một phút sau, chúng tôi lọt thỏm ngay vào đúng những sai lầm thô bỉ nhất, và phạm tội. “Ngừng lại. Hôm nay vậy là đủ rồi,” lúc đó cô giáo lên tiếng, khi đã đến giờ. Thế là cuộc đời bị dập tắt và giấc mơ mang tên kiếp người lại đi theo hướng khác. Thường thì sau đó tôi đi dạo chừng nửa giờ. Một cô gái luôn gặp tôi trong công viên, nơi băng ghế dài tôi thường ngồi. Cô ta hình như là một nhân viên bán hàng. Cô ta luôn rướn cổ nhìn tôi thật lâu. Cô ta luôn có vẻ uể oải. Ngẫu nhiên sao cô ta tưởng tôi là một quý ông đang làm công ăn lương tháng. Tôi trông rất bảnh bao, giống y loại người đó. Cô ta đã lầm, và đó là lý do tôi phớt lờ cô ta.

Thỉnh thoảng chúng tôi cũng diễn kịch, nói chính xác là những vở hài kịch, được chúng tôi phá hỏng thành trò hề, cho đến khi cô giáo ra hiệu dừng lại. Người Mẹ: “Tôi không thể gả con gái tôi cho cậu, cậu quá nghèo.” Nhân Vật Nam: “Nghèo đâu phải là điều đáng hổ thẹn.” Người Mẹ: “Láo toét! Nói bá láp. Cậu thì có tương lai gì chứ?” Cô Gái Đang Yêu: “Mẹ ơi, với tất cả sự tôn trọng, con phải xin mẹ nói chuyện lịch sự hơn với người mà con yêu.” Người Mẹ: “Câm họng! Rồi có ngày cô sẽ biết ơn tôi vì đã đối xử khắt khe tàn nhẫn với hắn. Này, thưa ông, hãy cho tôi biết, ông học hành ở đâu?” Nhân Vật Nam (là người Ba Lan, và do Schilinski thủ vai): “Cháu đã tốt nghiệp Trường Benjamenta, thưa bác. Xin tha lỗi cho cháu vì đã tự hào khi nói ra điều này.” Cô Gái: “Kìa, Mẹ, hãy xem anh ấy cư xử mới hay làm sao. Thật là lịch sự phong nhã.” Người Mẹ (nghiêm khắc): “Đừng nói tới chuyện lịch sự với tôi. Kiểu cách quý tộc thời buổi này chẳng có ý nghĩa gì ráo. Này, thưa ông, làm ơn cho tôi biết điều này: Ông đã học được gì ở Trường Bagnamenta?” Nhân Vật Nam: “Xin thứ lỗi cho cháu, nhưng trường này tên là Benjamenta, không phải Bagnamenta ạ. Cháu học được gì ở đấy ư? Chà, tất nhiên cháu phải thú nhận là cháu học được rất ít ở đó. Nhưng thời buổi này học cho nhiều cũng chẳng có ý nghĩa gì ráo. Chính bà cũng phải thừa nhận điều đó.” Cô Gái: “Mẹ đã nghe anh ấy nói chưa, thưa Mẹ?” Người Mẹ: “Con khốn kia, đừng nói với tao về chuyện nghe những điều tào lao như vậy, hoặc có nói nghiêm túc cũng thây kệ. Này, thưa cậu quý tộc đẹp trai, tôi sẽ mang ơn lắm nếu cậu hạ cố mà đi cho khuất mắt tôi, vĩnh viễn.” Nhân Vật Nam: “Đó là điều bà dám đề nghị với tôi sao? Ồ, được, cứ vậy đi. Adieu, tôi đi đây.” Đi ra, vân vân. Nội dung của các vở kịch nhỏ của chúng tôi luôn liên quan đến ngôi trường này và các học sinh. Một học sinh trải qua đủ mọi kiểu số phận lẫn lộn, cả xấu lẫn tốt. Y thành đạt trong đời, hoặc thất bại hoàn toàn. Đoạn kết vở kịch luôn là sự ca ngợi và cảnh thể hiện việc hầu hạ khúm núm. Hạnh phúc tức là phục vụ: đó là bài học trong các kịch phẩm. Trong lúc trình diễn, cô giáo của chúng tôi luôn thể hiện vai trò của giới khán giả. Cô ấy ngồi trong lô dành riêng của mình, có thể nói như thế, và qua cặp ống nhòm cô nhìn xuống sân khấu, nói cách khác là nhìn xuống đám diễn viên chúng tôi. Kraus là diễn viên tệ nhất. Việc diễn xuất không hợp với hắn chút nào. Diễn hay nhất chắc chắn là cậu Peter Lêu Nghêu. Heinrich cũng vậy, rất có duyên trên sân khấu.

Tôi có cảm giác hơi khó chịu rằng mình sẽ luôn có thứ gì đó để ăn trên đời. Tôi khỏe mạnh và sẽ vẫn như vậy, và mọi người sẽ luôn có thể sử dụng tôi bằng cách nào đó. Tôi sẽ không bao giờ là gánh nặng cho quốc gia, hay cộng đồng của mình. Suy nghĩ như thế, nói cách khác, nghĩ rằng phàm là phận thấp hèn ta sẽ luôn có bánh mì ăn hằng ngày, điều đó sẽ khiến tôi đau lòng khôn siết nếu tôi là Jakob von Gunten ngày trước, nếu tôi vẫn là hậu duệ, là con cháu của dòng họ này, nhưng tôi đã trở thành một người hoàn toàn khác, tôi đã trở thành một người tầm thường, và tôi phải cảm ơn anh em Benjamenta vì tôi đã trở nên tầm thường, và điều này khiến tôi có một sự tự tin không thể tả, long lanh như những giọt sương mãn nguyện. Tôi đã thay đổi niềm kiêu hãnh của mình, các kiểu danh giá của mình. Còn quá trẻ mà sao tôi lại đâm ra suy đồi như vậy? Nhưng đây có phải là sự suy đồi không? Ở một mức độ nào đó thì đúng thế, nhưng mặt khác, đó chính là sự gìn giữ cái kiểu người như tôi. Có lẽ tôi, lạc lõng và bị lãng quên ở một nơi nào khác trong cuộc đời, lại trở thành một von Gunten đích thực hơn và kiêu hãnh hơn là nếu tôi ở nhà, nhấm nháp cái gia thế mấy đời, mục nát, nhẫn tâm, chai đá. Chà, rồi ra sao thì ra. Tôi đã lựa chọn và thế là xong. Có một nguồn sinh lực kỳ lạ trong tôi, một nỗi thôi thúc muốn hiểu biết cuộc đời từ gốc rễ, và một niềm khao khát không thể đè nén là khiêu khích mọi người và mọi thứ bộc lộ hết với mình. Điều này khiến tôi nghĩ đến Herr Benjamenta. Nhưng tôi muốn nghĩ đến chuyện khác, tức là tôi không muốn nghĩ đến bất cứ điều gì.

Tôi đã gặp gỡ khá nhiều người, nhờ thân tình của Johann. Trong số này có các hoạ sĩ, và họ có vẻ là những người dễ thương. Chà, ta có thể nói gì sau những cuộc tiếp xúc chớp nhoáng như vậy? Thực ra thì những người nỗ lực để thành đạt lại giống nhau kinh khủng. Tất cả đều có khuôn mặt giống nhau. Không hẳn, nhưng mà giống. Tất cả đều giống nhau ở cái kiểu tử tế chóng vánh, thoắt đến thoắt đi, và tôi nghĩ điều này là do những người này cảm thấy sợ hãi. Họ đối xử với những con người và những đồ vật, hết chuyện này đến chuyện khác, chỉ để họ có thể đối phó một lần nữa với một sự mới mẻ nào đó dường như cũng đang đòi hỏi sự chú ý. Họ, những người tốt đẹp này, không khinh thường một ai, mà có lẽ họ khinh thường mọi sự, nhưng họ không được phép bộc lộ ra, bởi vì họ sợ bất ngờ sơ ý. Họ tử tế là do chán chường và dễ thương là do sợ hãi. Và rồi ai cũng đều muốn được tôn trọng. Những người này là những người hào hiệp. Và họ dường như không bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoải mái. Ai mà thấy thoải mái cho được nếu y coi trọng các dấu hiệu của sự tôn trọng và danh tiếng mà đời đã ban cho? Và rồi tôi nghĩ rằng những người này, những người rốt cuộc cũng là dân thượng lưu và đâu có sống trong trạng thái tự nhiên, họ luôn cảm thấy có một người kế tục nào đó đang đuổi theo sau. Ai cũng đều cảm nhận được cuộc phục kích đáng sợ này, tên trộm bí mật này, kẻ rón rén đi tới với một tài năng mới mẻ nào đó hay cái gì khác, gieo rắc tai hoạ và bao điều nhục nhã khắp nơi, và do đó, trong các giới giao du này, một gương mặt hoàn toàn mới chính là kẻ được săn đón nhiều nhất và ưa thích nhất, và khốn khổ thay cho những gương mặt cũ hơn nếu như kẻ mới đến này lại có phần nổi bật nhờ trí thông minh, tài năng hoặc thiên khiếu bẩm sinh. Tôi đang diễn đạt đúng là khá đơn giản. Có điều gì đó hoàn toàn khác hẳn trong chuyện này. Trong các giới học thức cấp tiến này, rõ ràng là có một sự mệt mỏi không thể nhầm lẫn được. Không phải là vẻ chán chường kiểu cách, chẳng hạn thế, của giới quý tộc nhà nòi, không, mà là một sự mệt mỏi thành thật, hoàn toàn đích thực nằm trong những cảm xúc cao cả hơn và sống động hơn, sự mệt mỏi của một người khỏe-mạnh-mà-không-khỏe-mạnh. Họ toàn là người có học thức, nhưng họ có tôn trọng nhau không? Nếu họ suy nghĩ thành thật, họ đều hài lòng với địa vị trí của mình trong cuộc sống, nhưng họ có thực sự thoả mãn không? Tất nhiên, họ cũng có những người giàu. Ở đây tôi không nói về những người đó, bởi vì sự giàu có của một người buộc ta phải giả định những điều hoàn toàn khác khi đánh giá người đó. Tuy nhiên, họ đều là những người lịch sự và toàn là những người có quyền thế, mỗi người mỗi kiểu, và tôi phải vô cùng biết ơn anh tôi đã cho tôi làm quen với giới này. Ngay trong các giới giao du đó, mọi người thích gọi tôi là “von Gunten nhỏ,” để phân biệt với anh Johann mà họ gọi là “von Gunten lớn.” Gọi bông đùa thế thôi, cuộc đời này thích những trò đùa mà. Tôi thì không, nhưng mấy chuyện nảy chẳng quan trọng gì. Tôi cảm thấy mọi thứ được gọi là “cuộc đời” không liên quan gì mấy đến tôi, và những gì mà tôi thầm gọi là cuộc đời lại lớn lao và hấp dẫn biết bao đối với tôi. Anh tôi đã cố gắng giới thiệu tôi với mọi người và tôi có bổn phận phải coi trọng việc này. Và thế cũng thật là quá mức. Ngay cả những điều nhỏ nhặt nhất cũng quá mức đối với tôi. Phải mất cả đời mới biết rõ hoàn toàn một vài người. Đó là một điều dạy khác của Trường Benjamenta, và cuộc đời của anh em Benjamenta mới khác làm sao. Tôi đi ngủ đây.

Tôi không bao giờ quên rằng mình là một hậu duệ đang khởi đầu từ dưới đáy, không có những phẩm chất cần thiết nếu ta sẽ phải vươn lên đỉnh cao. Có lẽ tôi có. Chuyện gì cũng đều có thể xảy ra, nhưng tôi không hề trông cậy vào những giây phút ăn không ngồi rồi khi tôi tưởng tượng ra cho mình hạnh phúc kèm với huy hoàng. Tôi không có đức tính nào của một kẻ mới phất. Tôi đôi khi xấc láo, nhưng đó chỉ là một tâm trạng nhất thời. Sự xấc láo của kẻ mới phất chính là sự luôn luôn giả vờ khiêm tốn, hoặc làm ra vẻ như mình tầm thường một cách xấc láo, xấc láo kinh niên. Và đám mới phất thì nhiều lắm, và họ bám cứng một cách ngu ngốc vào những gì họ đã có được, và thế mới thật xuất sắc. Họ cũng có thể lo lắng, phẫn nộ, bực bội và chán ngán với “mọi sự đời,” nhưng cái kiểu chán ngán của kẻ mới phất chính cống thì chẳng có gì sâu sắc cả. Những kẻ mới phất là những ông chủ, và có lẽ với tư cách hậu duệ của dòng họ, hoặc là cái gì đi nữa, tôi sẽ hầu hạ một ông chủ nào đó, có lẽ là một ông chủ có phần vênh váo, và sẽ hầu hạ ông ta một cách tôn kính, trung thành, tin cậy, chung thuỷ, không hề suy nghĩ, không chút bận tâm đến tư lợi, bởi vì chỉ bằng cách này, tức là, hết sức đàng hoàng, thì tôi mới có thể hầu hạ bất cứ ai, và bây giờ tôi để ý rằng mình có điểm nào đó giống với Kraus, và tôi thấy hơi xấu hổ. Những cảm giác giống như cảm giác mà tôi đương đầu với đời sẽ không bao giờ dẫn đến kết quả nào lớn lao, trừ khi ta bất cần những thứ cao sang lấp lánh và gọi những thứ hết sức u ám, thầm lặng, khổ cực và thấp hèn là lớn lao. Phải, tôi sẽ hầu hạ và tôi sẽ luôn chấp nhận những bổn phận mà việc hoàn thành chúng chẳng có gì huy hoàng, chuyện này lặp đi lặp lại, và tôi sẽ đỏ bừng mặt mũi với niềm sung sướng hoàn toàn xuẩn ngốc nếu có ai đó bộp chộp nói một lời cảm ơn. Thật ngu ngốc nhưng hoàn toàn là sự thật và tôi không được buồn lòng vì điều đó. Tôi phải thú nhận: Tôi không bao giờ buồn, và tôi không bao giờ thấy cô đơn, không bao giờ, và điều đó cũng thật ngu ngốc, bởi vì công việc ngon lành nhất và có vẻ mới phất nhất lại đạt được bằng tình cảm uỷ mị, bằng cái mà mọi người gọi là tiếng khóc từ trái tim. Nhưng xin cảm ơn rất nhiều vì những khó nhọc, vì những nỗ lực thô lỗ phải bỏ ra để đạt được một địa vị cao quý theo cách đó. Ở nhà, có cha có mẹ, cả ngôi nhà đều có sặc mùi tế nhị. À, tôi không nói theo nghĩa đen. Có chúng tôi ở nhà, mọi việc đều tao nhã. Và thật tươi sáng. Toàn bộ gia đình giống như một nụ cười hiền hoà, duyên dáng. Mẹ rất sang trọng. Được rồi. Tôi xuất thân từ gia đình đó và buộc phải làm một người hầu và đóng một vai trò hạng bét trên đời này. Theo tôi nghĩ, thế là phù hợp, bởi vì — ồ, anh Johann đã nói gì nhỉ? — “Những người có quyền thế, họ là những kẻ thực sự đang chết đói.” Tôi không thích nghĩ như thế. Và tôi có cần phải tự an ủi mình chút nào không? Ai mà an ủi được Jakob von Gunten này chứ? Chừng nào tôi còn một cơ thể khỏe mạnh, không thể nào có chuyện đó.

Nếu tôi muốn, nếu tôi tự bắt buộc, tôi có thể tôn kính mọi thứ, kể cả những tư cách đạo đức xấu, nhưng nó phải có màu của đồng tiền. Những kẻ mất tư cách cứ đánh rơi những đồng tiền vàng hai mươi mark sau lưng đi, rồi tôi sẽ cúi chào họ, và chào ở sau lưng họ nữa kìa. Herr Benjamenta có cùng quan điểm ấy. Ông ta bảo thật sai lầm khi khinh thường tiền bạc và những lợi thế có được từ những bàn tay xấu xa. Học sinh ở Trường Benjamenta phải tôn trọng hết thảy mọi thứ, chứ không được khinh thường chúng. — Ta hãy đổi đề tài khác. Nói về thể dục đi, tôi thích chuyện đó. Tôi yêu say mê và tất nhiên là tôi giỏi cái môn này. Kết bạn với một người cao quý và tập thể dục, đây có lẽ là những điều tuyệt vời nhất trên đời. Đối với tôi, khiêu vũ và tìm một người để mình tôn trọng cũng là một điều tương tự mà thôi. Tôi rất thích vận động trí óc và chân tay. Chỉ cần đá một chân lên, cảm giác mới thật tuyệt sao! Thể dục cũng là trò ngớ ngẩn và không đi đến đâu. Mà chẳng phải tất cả những gì tôi yêu thích đều không đi đến đâu sao? Nhưng nghe kìa! Cái gì thế? Có ai đang gọi tôi. Tôi phải ngừng bút.

“Cậu vẫn đang thật sự cố gắng đấy chứ, Jakob?” cô giáo hỏi tôi. Lúc ấy đã xế chiều. Ở đâu đó bừng lên một ánh sáng đo đỏ, như ánh hoàng hôn bao la và đẹp đẽ. Chúng tôi đang đứng bên cửa phòng tôi. Một lúc trước, tôi đã về phòng để suy ngẫm một chút về những ước mơ và linh cảm của mình. “Fräulein Benjamenta,” tôi nói, “cô nghi ngờ về sự nghiêm túc và trung thực trong những nỗ lực của tôi sao? Trong mắt cô, tôi có phải là kẻ lừa gạt và bịp bợm không?” Tôi nghĩ rằng tôi trông hết sức bi thảm khi nói câu này. Cô ấy quay khuôn mặt xinh đẹp về phía tôi và nói: “Trời đất. Cậu là một học sinh ngoan. Tính cậu bốc đồng, nhưng cậu đàng hoàng và dễ thương, tôi thích cậu, đúng như bản chất của cậu vậy. Cậu có hài lòng không? Có không? Tốt? Mỗi sáng cậu có dọn giường đàng hoàng không? Có? Và cậu đã thôi không tuân thủ các quy định từ lâu rồi? Không đúng sao? Hay là đúng? Ồ, cậu là học sinh rất ngoan, tôi tin cậu. Và có khen cậu bao nhiêu cũng không đủ. Không bao giờ. Hãy nghĩ xem, những lời khen ngợi chất đầy ắp bao nhiêu xô chậu; đầy ắp bao nhiêu bình với hũ. Ta sẽ phải dùng chổi mà quét thành đống. Bao nhiêu lời hay đẹp để công nhận hạnh kiểm của cậu. Không, Jakob, giờ thì nói nghiêm túc thật đấy, nghe này. Tôi phải nói thầm với cậu một chuyện. Cậu có muốn nghe không hay cậu muốn lủi vào phòng của cậu đây?” “Cho tôi biết đi, thưa cô, tôi đang nghe đây,” tôi nói, trong sự chờ đợi đầy lo lắng. Bỗng nhiên cô giáo rùng mình một cái thật mạnh. Nhưng cô ấy nhanh chóng kiềm chế rồi nói: “Tôi phải đi, Jakob, tôi phải đi. Và điều này sẽ đi cùng tôi. Tôi không thể nói với cậu được. Có thể lúc khác. Được chứ? Phải, có lẽ là ngày mai, hoặc trong tuần tới. Lúc đó nói cho cậu biết vẫn chưa muộn. Nói đi, Jakob, cậu có yêu tôi chút nào không? Tôi có ý nghĩa gì với cậu, với trái tim non trẻ của cậu không?” Cô ấy đứng đó trước mặt tôi, môi mím chặt một cách giận dữ. Tôi nhanh chóng cúi xuống bàn tay cô ấy đang buông thõng buồn khôn tả bên tà váy, và hôn vào đó. Tôi thật sung sướng khi bây giờ đã được phép nói cho cô ấy biết những cảm xúc tôi luôn dành cho cô. “Cậu có quý trọng tôi không?” cô hỏi, giọng nói tăng cao độ cho đến khi nó gần như bị bóp nghẹt và tắt lịm. Tôi nói: “Làm sao cô có thể hoài nghi điều ấy chứ? Thật đau khổ cho tôi.” Nhưng tôi cảm thấy tổn thương đến mức có thể oà khóc được. Tôi đột ngột buông tay cô ấy ra và kính cẩn đứng yên. Rồi cô ấy bỏ đi, với ánh mắt gần như van nài. Mọi chuyện đã thay đổi biết bao ở Trường Benjamenta, nơi một thời đã từng rất độc đoán! Tất cả đang sụp đổ, các buổi học, nỗ lực, các quy định. Đây là cái nhà xác, hay là thiên đường hạnh phúc? Có chuyện gì đó đang xảy ra mà tôi chưa hiểu.

Tôi đánh liều đưa ra nhận xét với Kraus về anh em Benjamenta. Tôi nói là theo tôi, vẻ huy hoàng ngày trước của trường này đang bị lu mờ. Tôi hỏi điều đó có ý nghĩa gì, và Kraus có biết gì về chuyện này không. Hắn tức giận lên và nói: “Mày, cái đầu mày cứ chất chứa toàn những ý tưởng ngớ ngẩn. Nghĩ gì mà hay thế. Tìm gì mà làm đi! Làm việc đi, rồi mày sẽ không để ý tới bất cứ điều gì. Đồ rình mò. Toàn rình mò khắp nơi dò la ý kiến ​​và suy nghĩ. Cút ngay. Tao bắt đầu chán nhìn thấy bản mặt của mày rồi.” “Anh không thấy mình hơi thô lỗ sao?” Tôi nói, nhưng tôi nghĩ mặc kệ hắn thì tốt hơn. Trong ngày hôm đó, tôi có dịp nói chuyện với Fräulein Benjamenta về Kraus. Cô ấy bảo tôi: “Phải, Kraus không giống những người khác. Cậu ấy ngồi đó cho đến khi có ai cần đến, nếu có ai gọi thì cậu ấy mới động đậy và chạy ào tới. Ta không cần quan trọng hoá về những người như cậu ấy. Thực tế thì người ta không bao giờ khen ngợi, và người ta hầu như không biết ơn Kraus. Người ta chỉ yêu cầu cậu ấy, Làm cái này hoặc Làm cái kia. Và người ta hầu như không thấy rằng mình đã được hầu hạ, và hầu hạ mới chu đáo làm sao, sự hầu hạ của cậu ấy thật hoàn hảo. Là một con người thì Kraus chẳng là gì cả, Kraus là một cái gì đó giống như một kẻ thực hiện, như một người của một công việc nào đó, nhưng cậu ấy không được gây chú ý một chút nào. Còn như cậu, chẳng hạn, Jakob, người ta khen cậu, đó là một niềm vui khiến cậu cảm thấy phấn chấn. Còn người ta không nói một lời nào với Kraus, người ta không cảm thấy yêu mến cậu ấy. Cậu rất khó chịu với Kraus, Jakob à. Tuy nhiên, cậu dễ thương hơn cậu ấy. Tôi buộc phải nói như thế, vì nếu không cậu sẽ không hiểu. Còn Kraus sẽ sớm rời xa chúng ta. Đó sẽ là một mất mát, Jakob. Ồ, đó là một sự mất mát. Nếu ở đây không có Kraus nữa, thì còn lại ai? Cậu, phải. Đó là sự thật, và bây giờ cậu đang tức giận với tôi, phải không? Đúng, cậu giận tôi, vì tôi buồn về chuyện Kraus ra đi. Cậu ghen à?” “Làm gì có. Tôi cũng lấy làm tiếc mà, về chuyện Kraus sắp rời xa chúng ta,” tôi nói. Tôi đã cố tình nói theo một kiểu trịnh trọng. Tôi cũng bắt đầu cảm thấy buồn, nhưng tôi thấy tỏ ra lạnh lùng một chút thì thích hợp hơn. Sau đó, tôi đã cố bắt chuyện với Kraus, nhưng hắn vẫn tỏ ra xa cách đến lạ. Hắn ủ rũ ngồi ở bàn học và không nói năng gì với ai. Hắn cũng cảm thấy có điều gì đó không ổn ở đây, chỉ có điều là hắn không nói một điều gì cả, ngoại trừ nói với chính hắn.

Cảm giác thất bại nặng nề trong nội tâm thường xâm chiếm tôi. Những lúc như thế, tôi cứ đứng lì ngay giữa lớp học và làm những trò ngớ ngẩn, những trò ngớ ngẩn rất là trẻ con. Tôi đội cái mũ của Kraus lên đầu, hoặc đội một cốc nước, vân vân. Hoặc có Hans càng hay. Với Hans, ta có thể ném mũ, cố làm cho những cái mũ rơi đúng vào đầu người kia và dính chặt vào. Trò này khiến Kraus khinh thường chúng tôi ghê gớm. Schacht đã có được việc làm từ ba ngày trước, nhưng anh ta đã quay về, rất chán nản với đủ loại lý do bào chữa tức tối và đau khổ. Chẳng phải trước đây tôi đã nói rằng Schacht ra đời sẽ gặp toàn những chuyện tồi tệ sao? Anh ta sẽ luôn oằn oại với các vai trò, nhiệm vụ và công việc và anh ta sẽ không thích điều này ở bất kỳ đâu. Giờ thì anh ta nói là anh ta đã phải làm việc quá cực nhọc, và anh ta nói về những bậc cấp trên trung gian xảo quyệt, hiểm độc và lười biếng, những kẻ mà ngay khi anh ta đến đã bắt đầu ranh ma dồn hết nhiệm vụ cho anh ta một cách bất công, và để hành hạ và lừa gạt anh ta. À, tôi tin Schacht. Tin hết lòng nữa kia; nói cách khác, tôi nghĩ những gì anh ta nói là hoàn toàn đúng, bởi cuộc đời này thô bỉ, độc tài, bất nhất và ác nghiệt không thể hiểu nổi đối với những ai ốm yếu và nhạy cảm. Ồ, tạm thời Schacht sẽ ở lại đây. Chúng tôi có chế nhạo anh ta một chút, khi anh ta mới đến trường này, điều không thể tránh khỏi, Schacht còn trẻ và nói cho cùng, anh ta không được phép nghĩ rằng có những đẳng cấp, lợi thế, cách thức và sự chiếu cố đặc biệt dành cho mình. Bây giờ anh ta đã gặp thất vọng đầu tiên và tôi tin rằng anh ta sẽ có hai mươi lần thất vọng nữa, hết lần này đến lần khác. Đối với một số người nhất định, đằng nào thì cuộc đời với những quy luật man rợ của nó chính là một chuỗi dài liên tiếp của những điều thất vọng và những ấn tượng tệ hại đáng sợ. Những người như Schacht được sinh ra là để cảm nhận và chịu đựng cái cảm giác bị ghét bỏ triền miên. Anh ta muốn thừa nhận và hoan nghênh mọi thứ, nhưng đúng là không thể được. Sự khắc nghiệt và thiếu lòng trắc ẩn tấn công anh ta với sức mạnh gấp mười lần, anh ta chỉ càng cảm nhận những điều đó thêm nhức nhối hơn. Tội nghiệp Schacht. Anh ta là một đứa trẻ và lẽ ra phải được say sưa với những điệu nhạc và vùi mình trong những điều gì tử tế, nhẹ nhàng, vô tư. Phải có tiếng sóng vỗ và tiếng chim hót thầm kín dành cho anh ta. Những áng mây chiều nhàn nhạt và mong manh sẽ đưa anh ta đến xứ sở Ôi,-Tôi-Bị-Làm-Sao-Thế-Này? Đôi tay của anh ta là dành cho những động tác nhẹ nhàng, chứ không phải cho việc lao động. Trước mặt anh ta phải là những làn gió hiu hiu, và sau lưng phải là những giọng nói thân thiện, ngọt ngào thì thầm. Đôi mắt anh ta phải được phép nhắm lại trong sung sướng, và Schacht phải được phép lặng lẽ chìm vào giấc ngủ trở lại, sau khi được đánh thức vào buổi sáng trên lớp nệm ấm áp và đầy khoái cảm. Đối với anh ta, về cơ bản, thì không có hoạt động nào thích hợp cả, vì mọi hoạt động đều không đúng, không tự nhiên và không phù hợp với anh ta, với cái cá tính ấy. So với Schacht, tôi mới là người lao động gân guốc đích thực. À, anh ta sẽ bị đời chà đạp, và có ngày sẽ chết trong bệnh viện, hoặc anh ta sẽ tiêu tùng, bị hủy hoại cả thể xác lẫn linh hồn, bên trong một trong những nhà tù hiện đại của chúng ta. Bây giờ thì anh ta cứ thu mình trong các góc lớp học, xấu hổ về bản thân và run sợ trước tương lai vô định gớm ghê. Cô giáo lo âu nhìn anh ta, nhưng hiện tại cô ấy quá bận tâm đến những chuyện riêng của chính mình nên không bận tâm mấy đến Schacht. Dù sao thì cô ấy cũng không thể giúp được gì. Phải có một thần thánh nào đó phải ra tay, và có lẽ phải thần thánh mới làm được chuyện đó, chỉ có điều là chẳng hề có ai cả, trừ một vị duy nhất, và ngài lại siêu phàm nên không giúp đỡ được. Giúp đỡ và xoa dịu khổ đau, chuyện đó sẽ không phù hợp với Đấng Toàn Năng, ít ra thì tôi có cảm giác như thế đó.

Fräulein Benjamenta bây giờ mỗi ngày đều nói với tôi vài câu, trong nhà bếp hoặc trong lớp học đôi khi rất vắng lặng. Kraus đang giả vờ như thể hắn tin mình sẽ còn ở lại ngôi trường này cả chục năm nữa. Hắn học bài một cách cộc cằn và bực bội, phải, hắn thực sự bực bội về chuyện này, nhưng hắn trông lúc nào cũng như vậy cả, điều đó không có ý nghĩa gì đặc biệt. Con người này không có khả năng hấp tấp hoặc thiếu kiên nhẫn. Ba chữ “Cứ đợi đấy” chẳng khác gì được viết uy nghi trên vầng trán lặng lẽ của hắn. Đúng vậy, cô giáo có lần đã thế, cô ấy bảo Kraus có phong thái uy nghi, và đúng thật, tính cách khiêm tốn của hắn toát ra vẻ gì đó như một vị hoàng đế vô hình. Hôm qua tôi đã đánh bạo nói với cô giáo: “Nếu thái độ của tôi đối với cô dù có một lần nào thôi, một khoảnh khắc nhỏ nhoi, ít ỏi, duy nhất thôi, mà đã tỏ ra bình tĩnh hơn là bị lung lạc bởi những cảm xúc và ràng buộc của lòng tôn trọng trọn vẹn nhất, thì tôi sẽ căm ghét chính mình, sẽ hành hạ chính mình, sẽ tự treo cổ bằng dây thừng, sẽ tự đầu độc bằng những loại độc dược chết người nhất, sẽ lấy dao, bất kể loại nào, mà tự cắt cổ mình. Không, điều đó hoàn toàn không thể xảy ra, thưa cô. Tôi không bao giờ có thể làm cho cô tổn thương! Chính đôi mắt của cô đây. Đối với tôi, ôi đôi mắt ấy luôn luôn là mệnh lệnh phải tuân theo, là điều răn dạy đẹp đẽ và bất khả xâm phạm. Không, không, tôi không nói dối. Sự xuất hiện của cô ở ngưỡng cửa! Tôi không bao giờ cần có thiên đường ở đây, không bao giờ cần đến mặt trăng, mặt trời và các vì sao. Cô, phải, chính cô, đối với tôi đã là sự hiện diện còn cao cả hơn. Tôi đang nói sự thật, thưa cô, và tôi phải cho rằng cô có thể cảm thấy những lời này khác xa với bất kỳ kiểu tâng bốc nào. Tôi căm ghét mọi thành công trong tương lai, tôi thấy cuộc đời đáng ghê tởm. Phải, phải. Thế nhưng tôi rồi cũng phải ra đi, giống như Kraus, và bước vào cuộc đời đáng ghét. Cô lâu nay đã là sức sống của tôi. Mỗi lần tôi đọc một cuốn sách thì đó là chính là tôi đang đọc cô, chứ không phải sách, cô mới là cuốn sách. Đúng thế, đúng thế. Tôi thường hay cư xử ngông cuồng. Nhiều lần cô đã phải cảnh cáo tôi về thói tự phụ đang gặm nhấm tôi và toan chôn vùi tôi dưới đống tan hoang của những tưởng tượng sai trái. Thói xấu đã giảm bớt đi mới nhanh biết bao, nhanh như chớp vậy. Tôi đã chăm chú biết bao lắng nghe những gì Fräulein Benjamenta nói. Cô cười sao? Phải, nụ cười của cô luôn thúc đẩy lòng tốt, lòng dũng cảm và sự thật. Cô lúc nào cũng quá tốt với tôi! Tốt quá mức, quá sức đối với một đứa cứng đầu lì lợm như thế. Và nhìn thấy cô là bao nhiêu tật xấu của tôi đều phủ phục dưới chân cô, cầu xin tha thứ. Không, tôi không muốn bước ra cuộc đời, bước ra thế giới. Tôi khinh thường mọi thứ mà tương lai có thể dành sẵn cho tôi. Khi cô bước vào lớp, tôi rất vui sướng, và sau đó tôi luôn tự mắng mình là đồ ngốc. Thường thì — chỉ nghĩ thầm thôi, vâng, tôi phải thú nhận điều đó — thường thì, tôi nghĩ thầm là mình sẽ cướp đoạt phẩm giá và sự cao quý của cô, nhưng tôi không tìm thấy trong tinh thần cuồng nộ của mình một lời nào, không có một lấy một từ nào có thể dùng để lăng mạ và hạ nhục cái điều mà tôi muốn gây tổn thương đôi chút. Và hình phạt của tôi, lần nào cũng vậy, chính là sự hối hận và áy náy trong tôi. Phải, lúc nào, lúc nào tôi cũng tôn kính cô, thưa cô. Tôi nói với cô như thế thì cô có tức giận không? Còn tôi, tôi rất vui sướng khi được nói ra như vậy.” Cô ấy nhìn tôi với đôi mắt lấp lánh rồi mỉm cười. Cô ấy có vẻ hơi nhạo báng, nhưng rõ ràng là hài lòng. Hơn nữa, tôi để ý thấy cô ấy đang bận tâm với những suy nghĩ xa xăm nào đó. Trong tinh thần, cô ấy đang ở một nơi khác, và do đó, chỉ vì lý do đó, tôi mới dám nói với cô ấy theo kiểu này. Tôi sẽ cẩn thận không làm thế nữa.

Không liên quan đến tôi, tôi biết, nhưng có một điều đáng chú ý là không có học sinh mới nào đến trường này nữa. Có phải cái uy tín là nhà đào tạo mà Herr Benjamenta được đời ban cho đang sa sút hoặc thậm chí gần như biến mất rồi không? Như thế thì sẽ rất buồn. Nhưng có lẽ đó chỉ là do tôi quá nhạy cảm thôi. Tôi hơi lo lắng ở điểm này, nếu như ta có thể gọi cái tính chất vừa kích thích vừa mệt mỏi của khả năng quan sát là quá nhạy cảm. Ở đây mọi thứ đều trở nên hết sức mong manh, và cứ như ta đang đứng giữa không trung chứ không phải trên mặt đất vững chắc. Rồi đến cái tâm trạng phải thường xuyên sẵn sàng và tỉnh táo này, điều đó cũng có tác động phần nào. Có thể lắm chứ. Ta luôn chờ đợi, chà, một điều gì đó mà nó thường là sẽ làm ta yếu đuối đi. Và rồi ta lại cấm bản thân mình không được nghe ngóng và chờ đợi gì nữa, bởi vì điều đó không được phép. Chà, như thế cũng hao tốn sức lực chứ. Cô giáo thường đứng ở cửa sổ và nhìn ra ngoài một hồi lâu, như thể cô ấy đang để hồn ở đâu đâu. Phải, đúng vậy, mọi hoạt động ở đây đều có phần bệnh hoạn và trái với tự nhiên như thế: tất cả chúng tôi, những người bề trên và đám học sinh, tất cả cứ như đang sống ở một nơi nào khác. Thật chẳng khác gì chúng tôi chỉ còn một chút thời gian để hít thở, ngủ, thức giấc, dạy và học tại trường này. Có một cái gì đó giống như một nguồn sinh lực ào ạt, tàn bạo đang vỗ cánh bay quanh chỗ này. Có phải tất cả chúng tôi đang nghe ngóng những gì sắp đến? Một điều nào đó xảy ra trong tương lai? Cũng có thể. Và điều gì sẽ xảy ra nếu đám học sinh chúng tôi hiện thời đều ra đi và không có học sinh mới nào đến? Thế thì sao? Anh em Benjamenta sẽ trở nên nghèo túng và bị từ bỏ? Khi tưởng tượng điều này, tôi thấy muốn phát bệnh, bệnh thật đó. Không, không bao giờ, không bao giờ! Điều đó sẽ không bao giờ được phép xảy ra. Thế nhưng nó nhất định phải đến. Phải đến?

Mạnh mẽ có nghĩa là không mất thời giờ suy nghĩ mà nhanh chóng và lặng lẽ bắt tay ngay vào việc phải làm. Là ướt đẫm những cơn mưa nỗ lực, là cứng rắn và bền bỉ qua những lần va chạm và cọ xát với những gì nhu cầu đòi hỏi. Tôi ghét những kiểu nói văn vẻ như thế. Tôi đã có ý định nghĩ ra một cái gì đó hoàn toàn khác. A ha, đúng rồi, chính là chuyện này, chuyện về Herr Benjamenta. Tôi lại gặp ông ta ở văn phòng. Tôi cứ luôn trêu ghẹo ông ta về việc làm mà tôi sẽ được nhận, và sẽ sớm thôi. Cho nên lần này tôi lại hỏi xem tình hình hiện giờ thế nào, liệu tôi có thể trông mong. . . vân vân. Ông ta bắt đầu nổi khùng lên. Ồ, giờ thì ông ta nổi khùng thật rồi, và tôi luôn tỏ ra rất liều lĩnh khi chọc giận ông ta. Tôi hỏi với một giọng rất lớn, cộc lốc và xấc xược. Ông Hiệu trưởng đâm ra lúng túng quá đỗi, thậm chí còn bắt đầu xoa xoa phía sau đôi tai to của mình. Tất nhiên tai ông ta đâu có to như kiểu mọi người thường gọi, tai của ông chẳng to gì mấy, chỉ có điều là mọi thứ ở con người này đều lớn lao, do đó tai ông ta cũng phải to lớn. Cuối cùng, ông ta lại gần tôi, cười lên một tiếng rất hiền lành và rồi nói: “Cậu muốn ra ngoài làm việc hả, Jakob? Nhưng tôi nói cậu nghe, cậu ở lại đây thì sẽ tốt hơn. Nơi này rất tốt cho cậu và những người như cậu. Không phải sao? Nán lại thêm chút nữa. Tôi thậm chí còn muốn khuyên cậu là nên tỏ ra đầu óc u mê, đờ đẫn, biếng nhác một chút. Bởi vì cậu thấy đấy, những gì mà thiên hạ gọi là thói hư tật xấu đều có một vai trò rất lớn trong đời người, chúng rất quan trọng, thậm chí tôi có thể nói là chúng rất cần thiết. Nếu không có thói hư tật xấu thì cuộc đời này sẽ thiếu đi nhiệt tình, sự quyến rũ và của cải giàu sang. Phân nửa thế giới, và có lẽ đó là gốc rễ của phân nửa tốt đẹp kia, sẽ bị tiêu vong cùng với sự lười biếng và yếu đuối. Không được, hãy lười biếng đi. Chà, chà, đấy, đừng có hiểu lầm tôi, hãy cứ là cậu, đúng như cậu lâu nay, nhưng hãy cẩu thả một chút. Cậu sẽ làm thế chứ? Đồng ý phải không? Tôi sẽ hài lòng nếu thấy cậu buông thả theo mơ mộng một chút. Hãy cúi đầu, hãy trầm tư, hãy ra vẻ u sầu, cậu nhé? Bởi vì so với ý thích của tôi, cậu hơi quá tràn trề ý chí, quá cá tính. Và cậu kiêu hãnh lắm, Jakob! Quan điểm của cậu thực sự là thế nào? Cậu có nghĩ rằng mình sẽ đạt được những điều lớn lao ngoài cuộc đời kia không? Cậu phải làm được những chuyện đó à? Cậu có ý định nghiêm túc làm cái gì đó quan trọng à? Cậu gần như khiến cho cho tôi, rất tiếc phải nói là khiến cho tôi có ấn tượng khá dữ dội đó. Hay là cậu có lẽ, có lẽ vì muốn thách thức mà cậu cứ muốn mãi tầm thường sao? Tôi cũng có thể tin là cậu sẽ làm thế. Cậu đang ở trong trạng thái quá hoan hỉ, quá dữ dội, quá đắc thắng. Nhưng chẳng hề gì cả, cậu cứ nán lại đây một thời gian nhé, Jakob. Tôi sẽ không tìm việc làm cho cậu, tôi sẽ không làm những chuyện như thế cho cậu đâu, còn lâu mới làm. Cậu có biết không, điều tôi muốn là giữ được cậu. Tôi đâu có giữ cậu lại cho bản thân tôi mà cậu muốn chạy trốn sao? Không được đâu. Cậu cứ tha hồ chán chường ở trong trường này đi. Ôi, anh chàng muốn chinh phục cuộc đời kia, bước ra cuộc đời, ra ngoài kia, làm một nghề, nỗ lực, thành đạt này nọ, cả một đại dương nhàm chán, hoang vắng, cô đơn sẽ nuốt chửng cậu đó. Hãy ở đây. Cứ tiếp tục mong ngóng thêm một chút. Cậu không hề biết có hạnh phúc nào, huy hoàng nào trong sự mong chờ, trong sự ngóng đợi. Nên cứ chờ đi. Hãy để nó dồn nén bên trong cậu, đằng nào cũng thế. Nhưng đừng quá mức. Nghe đây, nếu cậu bỏ đi thì tôi sẽ tổn thương đấy, sẽ đau đớn đấy, những thương tích triền miên, có thể sẽ giết chết tôi. Giết chết tôi? Bây giờ cậu tha hồ cười nhạo báng tôi đi, cứ việc. Cười khinh bỉ tôi đi, Jakob. Tôi cho phép cậu đấy. Nhưng cậu nói đi, còn điều gì mà tôi có thể ra lệnh hoặc cho phép cậu làm trong tương lai? Tôi, người vừa thuyết phục cậu rằng tôi gần như, gần như phụ thuộc vào cậu? Tôi đã làm một điều khiến tôi rùng mình, một điều khiến tôi giận điên lên nhưng đồng thời cũng khiến tôi hạnh phúc, Jakob. Nhưng, đầy là lần đầu tiên tôi yêu thương ai đó. Nhưng cậu không hiểu đâu. Giờ thì đi đi! Cút ngay. Đồ xấc láo, đừng quên là tôi vẫn có thể trừng trị cậu. Liệu hồn!” Chà, lại nữa rồi, bất thình lình ông ta lại nổi khùng lên. Tôi nhanh chóng biến khỏi ánh mắt hắc ám, sắc bén của ông ta. Đôi mắt nhìn thấy ghê! Đôi mắt của ông Hiệu trưởng. Ở đây tôi phải nói rằng tôi có tài năng đáng kinh ngạc trong việc thoát thân. Quả thực là tôi đã bay ra khỏi văn phòng đó, không, tôi đã vù ra khỏi chỗ đó như một cơn gió vèo, khi con người quý phái đó bảo tôi: “Liệu hồn!” Ồ, phải, đôi khi ta không khỏi cảm thấy sợ hãi trước ông ta. Tôi thấy không ổn nếu tôi không sợ hãi, vì như thế tôi sẽ không có lòng can đảm, mà lòng can đảm chính là thứ được sinh ra từ việc chế ngự nỗi sợ hãi. Một lần nữa, ra ngoài hành lang, tôi lại nghe ngóng qua lỗ khóa, và một lần nữa, bên trong lại hoàn toàn im ắng. Tôi thậm chí còn lè lưỡi ra, một cách khá trẻ con và theo kiểu học trò, và rồi tôi không nhịn được cười. Tôi nghĩ rằng trong đời mình chưa bao giờ cười nhiều đến thế. Tất nhiên là cười rất lặng lẽ. Đó là tiếng cười bị kìm nén đích thực nhất có thể tưởng tượng được. Khi tôi cười như vậy, à, thì không còn cái gì đứng trên tôi nữa. Như vậy tôi chính là kẻ áp đảo và thống trị bất khả chiến bại của mọi sự. Những lúc như thế, tôi mới lớn lao làm sao.

Vâng, chuyện là vậy đấy: Tôi vẫn đang ở Trường Benjamenta, tôi vẫn phải sống trong nỗi sợ những nghiêm luật hiện hành, những bài học đang được dạy, những câu hỏi nêu ra và trả lời, chúng tôi vẫn chạy cuống cuồng theo các mệnh lệnh, Kraus vẫn gõ cửa phòng tôi mỗi sáng, với tiếng gọi cáu kỉnh “Dậy đi, Jakob” và ngón trỏ giận dữ giơ cao, đám học sinh chúng tôi vẫn nói “Xin chào cô” khi Fräulein Benjamenta xuất hiện và “Chúc ngủ ngon” khi cô ấy lui về phòng vào buổi tối. Chúng tôi vẫn bị mắc kẹt trong những móng vuốt sắt đá của vô số quy định và buông thả theo những hoạt động lặp lại đơn điệu, nhàm chán. Ngoài ra, tôi cuối cùng cũng đã vào được những căn phòng nội bộ đích thực, và tôi phải nói rằng, chúng không tồn tại. Có hai phòng, nhưng trông chúng chẳng giống phòng ở chút nào. Đồ đạc trang bị sơ sài và hết sức tầm thường, và chúng chẳng có gì bí mật cả. Lạ thật. Làm sao mà tôi lại có ý nghĩ điên rồ rằng anh em Benjamenta sống trong các phòng này? Hay là tôi đang mơ, và bây giờ giấc mơ đã kết thúc? Thực tế là, ở đó có mấy con cá vàng và Kraus với tôi thường xuyên phải súc rửa cái hồ mà những con vật này bơi lội và sinh sống, sau đó đổ đầy nước sạch vào. Nhưng chuyện đó thì một chút gì thần kỳ đâu? Ta thường thấy cá vàng trong bất kỳ gia đình công chức tầm trung nào của nước Phổ, và chẳng có gì khó hiểu và bất thường về các gia đình công chức này. Hay thật! Vậy mà tôi cứ tin chắc như đinh đóng cột về những căn phòng nội bộ đó. Tôi tưởng đâu bên kia cánh cửa mà cô giáo luôn ra vào sẽ có hàng trăm căn phòng và căn hộ như một lâu đài. Trong tâm trí, tôi mường tượng ra những cầu thang xoắn ốc uốn lượn thanh nhã và những cầu thang rộng bằng đá khác có trải thảm, ở đằng sau cánh cửa đơn giản ấy. Trong đó cũng có một thư viện cổ xưa, và những hành lang, những hành lang dài và tĩnh lặng với thảm trải sàn, chạy dài từ đầu này sang đầu kia toà nhà trong tưởng tượng của tôi. Với tất cả những ý nghĩ và trò điên rồ của mình, một ngày nào đó tôi có thể thành lập một công ty để truyền bá những tưởng tượng đẹp đẽ nhưng không đáng tin cậy. Sẽ không thiếu vốn đầu tư, tôi thấy có lẽ thế, sẽ không thiếu nguồn tiền, và có thể tìm được người mua những cổ phiếu như vậy ở bất cứ nơi nào mà ý tưởng về cái đẹp và niềm tin vào điều ấy chưa hoàn toàn bị tiêu vong. Tôi tưởng tượng toàn chuyện gì đâu! Một hoa viên, hẳn rồi. Tôi không thể sống mà không có hoa viên. Cũng có một nhà thờ nhỏ nữa, chỉ có điều lạ lùng là nó không phải là một nơi đổ nát một cách lãng mạn, mà là một nhà thờ được tái thiết khéo léo, một ngôi nhà Chúa của đạo Tin lành. Ông mục sư đang ăn sáng. Và đủ thứ chuyện kiểu đó. Người ta dùng bữa, và tổ chức các cuộc đi săn. Buổi tối họ khiêu vũ trong sảnh đường nguy nga, trên những bức vách cao bằng gỗ sẫm màu ở đó có treo những bức chân dung của tổ tiên dòng họ. Dòng họ nào? Tôi ấp úng với cái từ đó, vì thực tế là tôi không thể nói được. Không, tôi vô cùng hối hận vì đã nghĩ ra những hoang tưởng này. Tôi cũng thấy tuyết nữa, tuyết bay vào sân lâu đài. Có những bông tuyết lớn ướt át, và trời mới sáng sớm, thời gian luôn là vào một sáng sớm mùa đông u ám. A, và có một thứ khác rất đẹp, một đại sảnh, vâng, tôi đã thấy một đại sảnh. Thật mê ly! Ba bà lão quý phái đang ngồi bên một lò sưởi lửa reo tí tách. Họ ngồi đan móc. Tưởng tượng kiểu gì thế không biết, chỉ thấy chỗ người ta đan móc mà thôi! Nhưng chính điều này lại khiến tôi mê mẩn. Nếu tôi có kẻ thù thì họ sẽ bảo như thế là bệnh hoạn, và họ sẽ nghĩ rằng họ có lý do để xa lánh tôi cùng với công việc đan móc ấm cúng đáng yêu kia. Rồi có một dạ tiệc tuyệt vời, với nến tỏa sáng trên những chân đèn bằng bạc. Bàn ăn vui vẻ lấp lánh vào chói lọi và rôm rả chuyện trò. Tôi thấy điều đó thực là tuyệt. Và những người phụ nữ, ôi sao mà đẹp. Một người trông như một công chúa thực sự, và cô đúng là thế. Có một ông người Anh ở đó. Ôi những bộ váy áo phụ nữ sột soạt, ôi những bộ ngực, phơi trần, nhấp nhô! Nước hoa toả khắp phòng ăn những đường ngang dọc ngoằn ngoèo. Sự lộng lẫy kết hợp với sự khiêm tốn, sự tế nhị với niềm hoan lạc, sự vui thú với sự sang trọng, và sự tao nhã được điểm tô bằng dòng máu quý tộc. Rồi mọi hình ảnh trôi đi, những hình ảnh khác xuất hiện, những điều mới mẻ. Phải, những căn phòng nội bộ, chúng sống động, và bây giờ cứ như thể chúng đã bị đánh cắp khỏi tay tôi. Thực tế trần trụi: đôi khi nó là một kẻ lừa đảo. Nó đánh cắp mọi thứ, và sau đó nó không biết phải làm gì với chúng. Dường như chỉ để gieo rắc nỗi buồn cho vui. Tất nhiên, tôi cũng rất thích nỗi buồn, nó rất quý giá, quý giá lắm. Nó nhào nặn ta.

Heinrich và Schilinski đã rời trường. Bắt tay và chào adieu. Rồi đi. Có lẽ là mãi mãi. Những cuộc giã từ này thật ngắn ngủi làm sao! Ta có ý muốn nói điều gì, nhưng lại quên mất đúng ngay điều cần nói, và thế là ta không nói gì cả, hoặc nói một câu ngớ ngẩn. Việc chào tạm biệt, và nghe ai nói điều đó với mình, đúng là kinh khủng. Vào những lúc như vậy, một cái gì đó làm cho đời người rúng động, và ta cảm nhận sâu sắc rằng ta vô nghĩa như thế nào. Những cuộc chia tay chóng vánh là không tình yêu, còn kéo dài thì lại không thể chịu đựng được. Ta biết làm sao? Chà, ta chỉ nói điều gì đó ngu ngốc. — Fräulein Benjamenta đã nói với tôi một điều rất kỳ cục. “Jakob,” cô ấy nói, “tôi sắp chết. Đừng sợ. Hãy để tôi nói chuyện với cậu thật bình tĩnh. Hãy cho tôi biết, tại sao cậu lại trở thành người bạn tâm tình của tôi như thế này chứ? Ngay từ đầu, khi cậu đến đây, tôi đã nghĩ cậu là người tốt và tinh tế. Xin đừng đưa ra một lời phản đối giả vờ thành thật nào. Cậu tự phụ lắm. Có đúng không? Này, Đời tôi sắp kết thúc rồi. Cậu có thể giữ bí mật không? Cậu không được nói gì về những điều tôi sẽ nói với cậu. Quan trọng nhất là ông Hiệu trưởng của cậu, anh trai tôi, không được biết gì cả, hãy nhớ điều đó. Nhưng tôi hoàn toàn bình tĩnh, và cậu cũng vậy, cậu sẽ giữ lời hứa và giữ mồm giữ miệng, tôi biết. Có điều gì đó đang giày vò tôi, và tôi cứ như đang chìm đắm làm sao ấy, và tôi biết điều đó có nghĩa gì. Buồn lắm, anh bạn trẻ yêu quý, buồn lắm. Tôi nghĩ rằng cậu mạnh mẽ, phải không, Jakob? Nhưng tôi biết mà, tôi biết cậu rất mạnh mẽ. Cậu có một trái tim. Kraus sẽ không lắng nghe tất cả những gì tôi phải nói. Tôi thấy rất hay khi cậu không khóc. Ồ, sẽ thật kinh khủng nếu ngay lúc này mắt cậu hoen ướt. Đừng khóc vội. Và cậu đang lắng nghe thật dễ thương. Cậu lắng nghe câu chuyện đau khổ của tôi cứ như đó là một chuyện nhỏ nhặt, hay hay, và bình thường, một điều chỉ thu hút chú ý, nhưng chỉ có thế, đó là cách cậu đang lắng nghe. Cậu có thể cư xử khéo vô cùng, nếu cậu chịu mất công. Tất nhiên là cậu kiêu ngạo, chúng tôi biết thừa, phải không? Giờ thì im lặng, không một tiếng động. Phải, Jakob, cái chết (ôi, một từ ghê gớm) đang đứng sau lưng tôi. Nhìn đi, đấy, cái cách tôi thở vào cậu cũng giống như cách cái chết đang phà hơi thở lạnh lẽo và kinh khủng của nó vào tôi từ phía sau và tôi đang chìm dần, chìm dần vì hơi thở này. Lồng ngực tôi đang cố ép nó ra ngoài. Tôi có làm cậu cảm thấy buồn không? Hãy nói đi. Chuyện này có buồn đối với cậu không? Một chút, phải không? Nhưng bây giờ cậu phải quên hết đi, cậu nghe không? Quên đi! Tôi sẽ lại gặp cậu, như hôm nay, và lúc đó tôi sẽ cho cậu biết tình trạng của tôi. Cậu sẽ cố quên đi, phải không? Nhưng hãy lại gần đây. Hãy để tôi chạm vào trán cậu. Cậu là người tốt.’’— Cô ấy nhẹ nhàng kéo tôi sát lại và ấn lên trán tôi một cái gì đó giống như hơi thở. Nó không giống như sự đụng chạm mà cô nói đến. Rồi cô ấy lặng lẽ bỏ đi còn tôi thì thả hồn theo tưởng tượng. Tưởng tượng ư? Không hẳn vậy. Một lần nữa tôi lại nghĩ đến việc mình không có tiền. Đó là suy nghĩ của tôi. Tôi là thế đấy, thô lỗ và hết sức vô tâm. Và sự thật là thế này: những cảm xúc chân thành khiến tâm hồn tôi trĩu nặng một cảm giác giống như buốt giá. Nếu nỗi buồn này có nguyên nhân trực tiếp thì cảm giác đau buồn sẽ hoàn toàn biến mất trong tôi. Tôi không thích nói dối. Càng không thích lừa dối bản thân: làm thế thì có ý nghĩa gì đâu? Tôi sẽ nói dối chỗ nào khác, chứ không phải ở đây, với chính mình. Thật không hiểu nổi, nhưng tôi đang đứng đây, còn sống, và Fräulein Benjamenta đã nói ra một điều đáng sợ đến thế, và tôi, người tôn sùng cô ấy, tôi lại không thể nhỏ một giọt nước mắt nào? Tôi muốn nói đó là sự thật đấy. Nhưng khoan đã. Tôi không có ý khinh rẻ bản thân mình quá mức. Tôi hoang mang, và do đó —. Nói láo, toàn những lời dối trá. Thực ra tôi đã biết hết. Biết? Đó là một lời nói dối khác. Tôi không thể nói sự thật với chính mình. Dù sao tôi cũng sẽ vâng lời cô giáo và không hé răng về chuyện này. Được vâng lời cô ấy! Chừng nào tôi còn vâng lời cô ấy thì cô ấy còn sống.

Giả sử tôi là một người lính (và trong bản chất tôi là một người lính ưu tú), một lính bộ binh bình thường và phục vụ dưới trướng Napoléon, rồi có một ngày tôi sẽ hành quân sang nước Nga. Tôi sẽ hòa thuận với các đồng đội của mình, bởi vì sự khổ cực, thiếu thốn và những kỳ công gian khó sẽ trui rèn chúng tôi thành thứ giống như một khối sắt. Chúng tôi sẽ hung tợn nhìn trừng trừng trước mặt. Phải, sự hung tợn, nỗi tức giận âm ỉ, vô thức, sẽ gắn kết chúng tôi. Và chúng tôi sẽ hành quân, súng trường luôn đeo trên vai. Trong những thành phố chúng tôi đi qua, đám đông dân chúng ngồi lê la, ủ rủ sẽ há hốc nhìn chúng tôi, mất tinh thần vì bước chân rầm rập của chúng tôi. Và rồi sẽ không còn thành phố nào nữa, hoặc hiếm hoi mới gặp, chỉ có những dải đất dài vô tận sẽ kéo lê tận chân trời trước những đôi mắt và dưới những đôi chân chúng tôi. Cái xứ sở ấy đúng là trườn bò và lê lết. Và bây giờ tuyết sẽ rơi và bao trùm chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn cứ tiếp tục hành quân. Đôi chân, có lẽ mọi sự bây giờ chỉ là thế. Trong nhiều giờ liền, ánh mắt tôi sẽ dán chặt vào mặt đất ướt át. Tôi sẽ có thừa thời gian để hối hận, để tự trách mình không ngớt. Nhưng tôi sẽ luôn đi đều bước, vung chân ra phía trước, và tiếp tục hành quân. Phải nói là cuộc hành quân của chúng tôi bây giờ giống như một cuộc lội bộ. Thỉnh thoảng, tít đằng xa, một sống núi giễu cợt nào đó sẽ hiện ra, mỏng như lưỡi dao nhíp, một loại rừng nào đó. Và rồi chúng tôi biết rằng bên kia khu rừng này, nơi mà nhiều giờ nữa chúng tôi mới đến được bìa rừng, lại là những bình nguyên vô tận khác trải dài. Đôi lúc vang lên tiếng súng. Những phát đạn này sẽ nhắc nhở chúng tôi về những gì sắp tới, những trận chiến có ngày sẽ phải diễn ra. Và chúng tôi cứ hành quân. Các chỉ huy cưỡi ngựa đi vòng quanh với vẻ mặt buồn rầu, các sĩ quan phụ tá sẽ quất ngựa của họ phi qua đoàn quân, như thể họ đang buồn phiền vì những điềm báo đáng sợ. Ta sẽ nghĩ đến Hoàng đế, vị Tổng tư lệnh, hết sức xa vời, nhưng dù sao ta cũng sẽ tưởng tượng ra ông ta, và đó là điều an ủi. Và chúng tôi vẫn cứ đi. Cuộc hành quân gặp không biết bao lần gián đoạn tạm thời, những trở ngại nhỏ nhặt nhưng kinh khủng. Thế nhưng chúng tôi hầu như không hề hay biết, mà vẫn tiếp tục hành quân. Rồi những ký ức sẽ hiện ra trong tôi, loáng thoáng, nhưng rõ mồn một. Chúng sẽ ngấu nghiến trái tim tôi như đám kền kền được ăn một con mồi miễn phí, chúng sẽ đưa tôi đến một nơi ấm áp và thân thuộc, đến những đồi nho tròn trĩnh, vàng ươm, với những làn sương mỏng. Tôi sẽ nghe thấy tiếng chuông bò vang lên náo động trong tim mình. Một bầu trời âu yếm cong cong trên cao với sắc màu nhàn nhạt và tràn ngập âm thanh. Nỗi đau đớn sẽ làm tôi muốn phát điên, nhưng tôi vẫn tiếp tục hành quân. Đồng đội của tôi bên trái và bên phải, đằng trước và đằng sau, đó mới là những gì quan trọng nhất. Đôi chân sẽ hoạt động như một cỗ máy cũ kỹ nhưng ngoan ngoãn. Những ngôi làng bị đốt cháy sẽ là cảnh tượng nhìn thấy hằng ngày, thậm chí không còn đáng chú ý nữa, và ta sẽ không ngạc nhiên trước những hành động tàn ác của một loài vô nhân đạo. Rồi một buổi tối, trong cái lạnh càng lúc càng buốt giá, đồng đội của tôi, tên anh ta có thể là Tscharner, sẽ gục ngã. Tôi cố gắng đỡ anh ta dậy, nhưng chỉ huy sẽ ra lệnh: “Cứ để anh ta nằm đó!” Và chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Sau đó, vào một buổi trưa, chúng tôi sẽ nhìn thấy vị Hoàng đế của mình, thấy mặt ông. Nhưng ông ta sẽ mỉm cười, ông ta sẽ mê hoặc chúng tôi. Phải, con người này đâu có thể làm nản lòng thất chí binh sĩ của mình bằng một vẻ mặt u sầu được. Vững tin vào thắng lợi là đã giành trước phần thắng cho những trận chiến tương lai, chúng tôi sẽ tiếp tục hành quân trong tuyết. Và rồi, sau những cuộc hành quân bất tận, cuối cùng cũng được giao chiến, và có thể tôi vẫn sống sót và lại tiếp tục hành quân. “Bây giờ chúng ta sẽ đến Moscow, anh bạn!” ai đó trong hàng ngũ của chúng tôi sẽ nói. Tôi không muốn trả lời anh ta, mặc dù tôi không biết tại sao. Tôi sẽ chỉ là một bánh răng nhỏ trong cỗ máy của một đại mưu đồ, không còn là một con người nữa. Tôi sẽ chẳng còn biết gì đến cha mẹ, họ hàng, những bài hát, những muộn phiền hay hy vọng riêng tư nữa, chẳng còn biết gì đến ý nghĩa và sự kỳ diệu của mái ấm gia đình nữa. Kỷ luật và sự kiên nhẫn của người lính sẽ khiến tôi trở thành một khối thịt rắn chắc và không thể xuyên thủng, gần như vô nghĩa. Và vì thế cuộc tuần hành cứ tiếp tục, về phía Moscow. Tôi sẽ không nguyền rủa cuộc đời, việc nguyền rủa từ lâu đã trở thành quá ghê tởm. Tôi sẽ không còn cảm thấy đau đớn gì nữa, tôi đã hết cảm nhận được sự đau đớn và những chấn động đột ngột của nó từ lâu rồi. Đại khái là như thế, tôi nghĩ, đó là một người lính dưới trướng Napoléon.

“Tao thấy mày cũng hay,” Kraus nói với tôi, thực ra hoàn toàn vô cớ, “mày là một trong những kẻ vô giá trị tự cho rằng mình đứng trên các quy tắc. Tao biết. Mày không cần phải nói gì hết. Mày tưởng tao là một tay mô phạm cục cằn và giáo điều. À, đâu phải. Còn mày và cái loại như mày, lũ khoác lác, theo tụi bay thì cái việc tỏ ra nghiêm túc và chăm chú thực ra có ý nghĩa gì? Mày tưởng mình là vua, chỉ vì mày có thể nhảy nhót và múa may lung tung, chắc chắn là như thế, không nghi ngờ gì nữa, phải không? À, tao có thể nhìn thấu mày, anh vũ công à. Luôn luôn cười nhạo những gì đúng đắn và thích đáng, mày giỏi cái trò đó lắm, phải, phải, mày đúng là bậc thầy trong chuyện đó, mày và cái lũ tụi mày. Nhưng hãy coi chừng, coi chừng đấy. Giông bão với sấm chớp với những tai hoạ của số phận chắc chắn vẫn chưa hết đâu mà vội mừng. Chắc chắn là bao gian khó trong đời chẳng hề sút giảm chút nào đối với bất kỳ ai thực sự làm công việc gì đó, những người thực sự đang sống, chỉ vì sự phong nhã của mày, lũ nghệ sĩ tụi mày, vì tụi mày đúng là thế. Hãy học thuộc lòng bài học trước mặt mày, chứ đừng cố chứng tỏ là mày có thể khinh thường và cười nhạo tao. Ông nhỏ quý phái gớm! Ông nhỏ muốn cho tao thấy rằng hắn có thể làm chuyện lớn lao nếu thấy phù hợp à. Để tao nói cho mày biết, thằng Kraus này hoàn toàn khinh thường những trò diễn kịch thảm hại đó! Làm việc gì đi! Đó là lời nhắn nhủ cho mày, anh bạn à, và có nói với mày hàng chục lần cũng chẳng ngăn được mày vênh cái bản mặt quý phái lên. Mày có biết gì không, Jakob, ông bá chủ thiên hạ kia: hãy mặc xác tao. Mày cứ đi chinh phục đi! Tao chắc chắn là sẽ có vài thứ gì đó rơi dưới chân mày và nằm đó cho mày nhặt lấy. Mọi sự đều nhẹ nhàng đối với mày, mọi sự đều dành sẵn cho mày, đồ giẻ rách. Sao? Mày vẫn thọc tay vào túi à? Tao hiểu rồi, phải. Nếu món bồ câu quay tự động bay vào miệng ai thì việc gì người đó phải mất công tỏ ra cho giống một kẻ sẵn sàng làm gì đó, làm một công việc, sử dụng tới đôi tay chứ? Hãy há mồm to thêm chút nữa đi? Vậy sẽ dễ dàng hơn. Như hiện thời, trông mày quá bình tĩnh, tự chủ, và khiêm tốn. Hay mày muốn đọc tao nghe mấy quy định? Cứ việc. Như thế sẽ rất hay ho. Ồ, cút đi. Thấy cái bản mặt ngu ngốc của mày là tao xấu hổ, cái đồ . . . — suýt nữa là tao đã chửi gì đó rồi. Khiến tao nói những điều tội lỗi, khiến tao sôi gan, đúng là cái thứ ấy. Mày biến đi, hoặc bận rộn làm việc gì đi. Và mày mất hết tư cách, phải, mày mất hết, khi mày đứng trước mặt Hiệu trưởng và Fräulein Benjamenta. Tao đã thấy rồi. Nhưng nói chuyện với một đứa ngu như mày thì có ích gì? Thừa nhận đi, mày sẽ rất dễ thương nếu mày không phải là kẻ ngu ngốc. Nếu mày thừa nhận điều đó, tao sẽ ôm mày thật chặt.” “Ôi Kraus, người bạn thân nhất,” tôi nói, “ai chứ anh mà lại nhạo báng và chế giễu tôi sao? Kraus mà làm được chuyện đó sao? Làm được không?” Tôi cười to và thả bước về phòng mình. Chẳng bao lâu nữa ở Trường Benjamenta sẽ chẳng có gì để làm ngoài việc đi tha thẩn. Có vẻ như ở đây “sắp tận số” rồi. Nhưng mọi người đã lầm. Có lẽ Fräulein Benjamenta cũng lầm. Có lẽ cả ông Hiệu trưởng nữa. Có lẽ tất cả chúng tôi đều lầm.

Tôi giàu như vua chúa. Tiền bạc, chà, về chuyện này thì — im lặng, không nói lời nào về tiền bạc. Tôi đang sống một cuộc đời hai mặt kỳ lạ, một cuộc sống quy củ và không quy củ, có kiểm soát và không kiểm soát, đơn giản và hết sức phức tạp. Herr Benjamenta có ý gì khi nói rằng ông ta chưa từng yêu thương ai? Điều đó có ý nghĩa gì khi ông ta nói với tôi, đứa học trò và nô lệ của ông ta? Phải, hẳn thế rồi, học trò chính là nô lệ, những chiếc lá non, bị rứt khỏi cành cây và thân cây, cuốn theo trận cuồng phong tàn nhẫn, và cũng đã hơi héo úa. Herr Benjamenta có phải là trận cuồng phong không? Hoàn toàn có thể tưởng tượng được, vì không ít lần tôi đã cảm nhận được tiếng gầm rú, cuồng nộ và những lần bùng nổ ghê gớm của loại cuồng phong này. Và ông ta thì quyền năng vô hạn, còn tôi, một đứa học trò, tôi thật nhỏ nhoi. Im nào, không được nói gì về quyền năng vô hạn. Ta luôn sai lầm khi dùng những từ ngữ lớn lao. Herr Benjamenta yếu đuối và rất dễ bị kích động, dễ tới mức khiến tôi muốn bật cười, thậm chí có thể cười toe toét. Tôi nghĩ rằng mọi thứ, mọi thứ đều yếu ớt, mọi thứ đều phải run rẩy như những con giun. Phải, tất nhiên rồi, và sự khai sáng này, sự chắc chắn này, khiến tôi trở nên giàu có như vua chúa, nói cách khác, nó khiến tôi trở thành một thằng Kraus. Kraus không hề yêu và ghét một cái gì, cho nên hắn giàu có, ở hắn có điều gì đó gần như bất khả xâm phạm. Hắn giống như một tảng đá, và cuộc đời, đại dương giông tố, nện vào những đức tính tốt của hắn. Bản chất của hắn, tính cách của hắn, đúng là được tôi điểm bằng các đức tính tốt. Ta khó mà yêu hắn, ghét hắn lại là điều không thể nghĩ tới. Ta thích bất cứ thứ gì đẹp đẽ và quyến rũ, và đó là lý do cái đẹp và sự xinh xắn lại dễ bị tiêu hao hoặc lạm dụng. Không có sự yêu mến mạnh mẽ, ham hố nào dám bén mảng đến gần Kraus. Hắn đứng đó thật lẻ loi biết bao, nhưng lại kiên quyết biết bao, không sao gần gũi được! Giống như một á thần. Nhưng không ai hiểu điều đó, tôi cũng vậy — đôi khi tôi nói và nghĩ những điều vượt quá sự hiểu biết của chính mình. Cho nên, tôi có lẽ phải làm mục sư mới đúng, người sáng lập ra một giáo phái hoặc xu hướng nào đó. Chà, chuyện đó vẫn có thể xảy ra. Tôi có thể biến mình thành bất cứ thứ gì. Nhưng Benjamenta? —Tôi chắc chắn rằng ông ta sẽ sớm kể cho tôi nghe chuyện đời ông. Ông ta sẽ cảm thấy thôi thúc muốn tiết lộ nhiều điều, kể nhiều chuyện. Rất có thể. Và cũng kỳ cục thật: đôi khi tôi cảm thấy là mình không bao giờ nên rời xa con người này, gã khổng lồ này, không bao giờ, cứ như chúng tôi đã nhập thành một. Nhưng người ta luôn sai lầm. Tôi muốn giữ sự tự chủ của mình, ở mức độ nào đó. Không quá mức, không. Tự chủ quá mức khiến ta trở nên xấc láo. Tại sao lại phải trông cậy vào bất cứ điều gì quan trọng trong cuộc đời? Nhất định phải thế sao? Tôi thật hèn mọn. Đó là điều mà nói chung tôi sẽ bám vào, sự hèn mọn, tầm thường và vô giá trị của mình. Còn Fräulein Benjamenta? Có thật sự cô ấy sẽ chết không? Tôi không dám nghĩ đến điều đó và tôi cũng không được phép. Một thứ tình cảm nào đó cao cả đã ngăn cấm tôi. Không, tôi không giàu có như vua chúa. Còn về cuộc đời hai mặt thì thực ra ai cũng sống như thế cả. Việc gì phải khoe khoang chứ? A, bao nhiêu suy nghĩ này, bao nhiêu khao khát kỳ cục này, sự tìm kiếm này, việc hướng tới một ý nghĩa. Cứ mơ màng đi, cứ ngủ yên đi. Tôi cứ mặc kệ thôi. Chuyện gì đến thì sẽ đến.

Tôi đang viết đoạn này trong vội vã. Tôi đang run rẩy toàn thân. Ánh sáng lập loè nhảy múa trước mắt tôi. Có chuyện gì đó khủng khiếp đã xảy ra, hình như đã xảy ra, tôi không biết là chuyện gì. Herr Benjamenta đã lên cơn và định — siết cổ tôi. Có thật không? Tôi không suy nghĩ rõ ràng được, tôi không thể nói những gì đã xảy ra là có thật hay không. Nhưng tôi hết sức lo sợ, nên chuyện này nhất định phải có thật. Ông Hiệu trưởng đã điên tiết lên, điên không thể tả nổi. Ông ta giống như Samson, nhân vật trong lịch sử Palestine đó, kẻ đã lay chuyển các chiếc cột của một ngôi nhà cao đầy người cho đến khi cái lâu đài tiệc tùng, truỵ lạc đó, cho đến khi đá chiến thắng, cho đến khi chính sự xấu xa phải sụp đổ. Ở đây, phải nói là chưa đầy một giờ trước, không có gì là xấu xa, không có gì là đồi bại, bị lật đổ, và cũng không có cột kèo nào, nhưng trông cũng giống hệt như thế, giống hệt, và tôi đã kinh hoảng chưa từng thấy, như một con thỏ, kinh hoảng tột độ. Phải, tôi là một con thỏ, và đúng là tôi có lý do để chạy trốn như một con thỏ, nếu không tôi thực sự sẽ gặp nguy khốn. Tôi đã thoát khỏi — tôi buộc phải nói — hai nắm tay siết chặt nhanh nhẹn kỳ lạ của ông ta, và tôi nghĩ rằng tôi thậm chí đã cắn một ngón tay của Herr Benjamenta, của gã khổng lồ này. Có lẽ cái cắn hết sức lực, đột ngột đó đã cứu mạng tôi, vì rất có thể sự đau đớn mà vết thương gây ra khiến ông ta chợt nhớ đến cách cư xử, lý trí và nhân tính, cho nên có thể hiểu rằng tôi thoát chết được là nhờ vì vi phạm trắng trợn các quy định về hạnh kiểm học sinh. Chắc chắn là tôi có nguy cơ bị chết ngạt, nhưng làm sao lại xảy ra chuyện này chứ, làm sao được chứ? Ông ta tấn công tôi như một người điên. Ông ta lao mình vào tôi, thân hình đầy sức mạnh của ông ta, giống như một tảng thịnh nộ điên rồ và hắc ám; nó xô vào tôi như một cơn sóng, nện tôi vào những bờ đê chắn sóng cứng rắn. Tôi lại bịa ra chuyện sóng nước rồi. Chuyện đó vớ vẩn, phải nói là vậy, nhưng tôi vẫn đang hết sức choáng váng, hết sức hoang mang và run lập cập. “Ông làm gì thế, thưa Hiệu trưởng tôn kính, hả?” Tôi đã thét lên, và chạy qua khỏi cánh cửa văn phòng như bị ma ám. Và ra ngoài, tôi lại nghe ngóng. Khi tôi đã đứng trong hành lang, an toàn và lành lặn, tôi run rẩy toàn thân, tất nhiên, tai tôi áp vào lỗ khóa, và lắng nghe. Và tôi nghe thấy tiếng ông ta cười khẽ ở bên trong. Tôi chạy một mạch về bàn mình trong lớp học và tôi đang ở đây, và tôi không biết mình đã nằm mơ hay chuyện này thực sự xảy ra với tôi. Không, không, chuyện này là thật, đó là sự thật. Giá mà có Kraus đến! Tôi vẫn còn hơi sợ hãi. Thật hay biết bao nếu có Kraus thân yêu đến đây và chửi rủa tôi, như hắn thường làm, với những điều răn đe thiêng liêng của hắn. Tôi muốn bị la mắng một chút, bị khiển trách, bị lên án và bị kết tội, điều đó sẽ tốt cho tôi vô cùng. Tôi thật trẻ con phải không?

Tôi chưa bao giờ thực sự là một đứa trẻ, và vì thế, có cái gì đó trong bản chất của tuổi thơ sẽ luôn bám lấy tôi, tôi chắc chắn. Lâu nay tôi chỉ lớn lên, già đi, nhưng bản chất của tôi không bao giờ thay đổi. Tôi thích nghịch ngợm giống như nhiều năm trước, nhưng chỉ thích vậy thôi, tôi thực ra không hề chơi những trò nghịch ngợm. Có một lần, rất lâu rồi, tôi đã đánh vào đầu anh tôi. Đó là một việc ngẫu nhiên, không phải là trò nghịch ngợm. Chắc chắn là có rất nhiều trò nghịch ngợm và tính chất của con trai, nhưng tôi luôn thấy hứng thú với ý tưởng đó hơn là bản thân hành động. Từ xưa, tôi đã bắt đầu tìm kiếm những điều sâu sắc ở khắp mọi nơi, ngay cả trong sự nghịch ngợm. Giờ vẫn thế, tôi không phát triển. Ít nhất, đó là điều tôi khẳng định. Có lẽ tôi sẽ không bao giờ mọc ra cành nhánh nào. Rồi có ngày, hương thơm hay cái gì đó sẽ tỏa ra từ bản chất và nguồn gốc của tôi, tôi sẽ nở hoa, và hương thơm sẽ lan ra xung quanh một chút, rồi tôi sẽ cúi đầu chào, cái đầu mà Kraus gọi là cái đầu lợn kiêu ngạo ngu ngốc của tôi. Tay chân của tôi sẽ võng xuống một cách kỳ lạ, tâm trí, niềm kiêu hãnh và tính cách của tôi, mọi thứ sẽ rạn nứt và tàn héo, và tôi sẽ chết, không thực sự chết, chỉ chết theo một cách nào đó, và rồi tôi sẽ sống một đời vô vị và có lẽ thêm sáu mươi năm nữa rồi chết. Tôi sẽ già đi. Nhưng tôi không sợ bản thân mình. Tôi không thể nào khiến tôi sợ hãi chính tôi. Bởi tôi không hề tôn trọng cái tôi của mình chút nào, tôi chỉ nhìn nó, và nó khiến tôi dửng dưng. Ồ, thoát khỏi sự lạnh lùng này! Thật tuyệt sao! Tôi sẽ được bước vào sức nóng, bao nhiêu lần cũng được, vì không có điều gì riêng tư hay ích kỷ có thể ngăn cản tôi trở nên ấm áp và bốc cháy và góp phần. Tôi thật may mắn biết bao, khi không thấy được trong bản thân mình một điều gì đáng tôn trọng và nhìn ngắm! Phải là hèn mọn và cứ hèn mọn. Và nếu mà có một bàn tay, một cảnh ngộ, một làn sóng nào đó nâng tôi lên và đưa tôi đến nơi tôi được cho sẵn quyền uy và thế lực, thì tôi sẽ phá hủy cái hoàn cảnh đã ưu ái mình, và tôi sẽ lao xuống cái cõi tăm tối vô nghĩa, câm nín, tầm thường kia. Tôi chỉ có thể hít thở ở những chỗ thấp hèn.

Tôi hoàn toàn tán thành các quy định vốn đang — vẫn — có hiệu lực ở đây, khi chúng nói rằng đôi mắt của học sinh và của người tập sự phải tỏa sáng sự vui vẻ và thiện chí với cuộc đời. Đúng, đôi mắt phải rọi chiếu sự kiên định của tâm hồn. Tôi khinh thường nước mắt, thế nhưng tôi đã khóc lâu nay. Thầm trong lòng hơn là bộc lộ ra ngoài, tất nhiên, nhưng đó có lẽ là điều đáng sợ nhất về chuyện này. Fräulein Benjamenta bảo tôi: “Jakob, tôi sắp chết, vì tôi không tìm thấy tình yêu nào. Trái tim mà không một người xứng đáng nào muốn chiếm hữu và làm cho nó đau đớn thì trái tim ấy sắp chết rồi. Adieu, Jakob, đã đến lúc phải nói adieu. Các cậu, Kraus, cậu và những người khác, các cậu sẽ hát một bài bên chiếc giường mà tôi nằm chết. Các cậu sẽ thương tiếc cho tôi, nhẹ nhàng thôi. Và các cậu mỗi người sẽ đặt một bông hoa, có lẽ vẫn còn ẩm hơi sương trời đất, trên tấm vải liệm của tôi. Bây giờ tôi muốn đón nhận tâm hồn trẻ trung của cậu vào lòng tin cậy hân hoan và đầy tình chị em của tôi. Phải, Jakob ạ, tâm sự với cậu là điều rất tự nhiên, bởi khi trông cậu như đang lúc này, thì cứ như cậu hẳn phải có đôi tai, một trái tim biết nghe, và đôi mắt, một tâm hồn, một sự hiểu biết đầy trắc ẩn và sự thông cảm với mọi thứ và với từng điều cụ thể, kể cả đối với những gì không thể nói ra và không thể nghe được. Tôi sắp chết vì sự không thấu hiểu của những người lẽ ra đã có thể gặp tôi và ôm lấy tôi, chết vì sự trống rỗng của những người thận trọng và khôn khéo, và chết vì sự tàn nhẫn của những do dự và thiếu thiện cảm. Có người một ngày nọ nghĩ rằng họ sẽ yêu tôi, nghĩ rằng họ muốn có tôi nhưng họ lại lưỡng lự, bỏ mặc tôi chờ đợi, và tôi cũng lưỡng lự, nhưng là vì tôi là phái nữ nên phải thế, tôi có quyền và buộc phải lưỡng lự. Ôi chao, tôi đã bị lừa dối bởi sự bội bạc, bị hành hạ bởi sự trống rỗng và vô cảm của một trái tim mà tôi tin tưởng, bởi vì tôi tin rằng nó tràn đầy tình cảm chân thật và thiết tha. Tình cảm không phải là điều mà ta có thể suy xét và lựa chọn. Tôi đang nói với cậu về một người mà những giấc mơ ngọt ngào và đẹp đẽ đã khiến tôi tin tưởng vào người ấy, tin tưởng mà không chút do dự. Tôi không thể nói với cậu hết mọi điều. Tôi thà im lặng thì hơn. Ồ, điều hủy diệt đó đang giết tôi dần mòn đó, Jakob! Bao nhiêu muộn phiền đang xô đẩy tôi! — Nhưng thế đủ rồi. Hãy nói đi, cậu có yêu thương tôi, như người em trai yêu thương người chị của mình không? Tốt. Mọi sự đều tốt cả, cứ như thế này, cậu có nghĩ vậy không, Jakob? Chúng ta sẽ không kêu ca, không tuyệt vọng, hai chúng ta nhé? Và không muốn gì nữa cà, điều đó thật tuyệt, đúng không? Hay không phải vậy? Phải, đúng là thật tuyệt. Hãy cho tôi hôn cậu, một lần thôi, một cái hôn vô tư. Hãy yếu mềm đi. Tôi biết là cậu không thích khóc, nhưng ta hãy cùng khóc với nhau một chút. Và khóc thầm lặng thôi, thầm lặng.” Cô ấy không nói gì nữa. Thật cứ như cô ấy muốn nói thêm nhiều điều khác, nhưng không thể tìm ra lời nào nữa để diễn đạt những cảm xúc trong lòng. Ngoài sân, những bông tuyết lớn ướt át đang rơi. Những căn phòng nội bộ! Và tôi vẫn luôn nghĩ Fräulein Benjamenta là nữ chủ nhân của những căn phòng nội bộ này. Tôi vẫn luôn coi cô ấy như một công chúa dịu dàng. Còn bây giờ? Fräulein Benjamenta là một phụ nữ dễ thương đang đau khổ. Không phải công chúa. Vậy là một ngày nào đó cô ấy sẽ nằm chết trên chiếc giường đó. Miệng cô ấy sẽ cứng đờ, và những lọn tóc sẽ xảo trá buông xoả quanh vầng trán vô hồn của cô ấy. Nhưng tại sao hình dung ra cảnh tượng này chứ? Bây giờ tôi sẽ đi gặp ông Hiệu trưởng. Ông ta đã cho gọi tôi. Một đằng là tiếng than khóc và xác chết của một cô gái, một đằng là anh trai cô, người dường như chưa từng sống bao giờ. Phải, Benjamenta đối với tôi có lẽ giống một con hổ bị giam cầm và bỏ đói. Còn bây giờ? Bây giờ tôi sẽ bước vào cái miệng căng rộng của ông ta? Tiến lên! Tôi mong là sự hăng hái của ông ta sẽ nguôi đi khi nhìn thấy một đứa học trò không có khả năng tự vệ. Ông ta muốn làm gì tôi cũng được. Tôi sợ ông ta, nhưng đồng thời có cái gì đó trong tôi cười khinh ông ta. Hơn nữa, ông ta vẫn còn nợ tôi câu chuyện cuộc đời ông. Ông ta đã hứa chắc sẽ kể tôi nghe và tôi nhất định sẽ nhắc cho ông ta nhớ. Phải, đúng là ông ta có vẻ như thế: chưa từng sống bao giờ. Ông ta bây giờ muốn sống thông qua tôi sao? Ông ta nghĩ rằng nếu phạm tội ác thì cuộc sống sẽ trọn vẹn hơn sao? Điều đó thật ngu ngốc, hết sức ngu ngốc, và nguy hiểm. Nhưng tôi phải đi! Tôi phải đi gặp con người này. Một sức mạnh tinh thần nào đó mà tôi không hiểu đang ép buộc tôi phải gặp và nghe ông ta nói, không biết bao nhiêu lần, và tìm hiểu mọi chuyện về ông ta. Hãy để ông Hiệu trưởng ăn thịt tôi nếu ông ta muốn, hay nói cách khác, hãy để ông ta hãm hại tôi bằng bất kỳ cách nào ông ta muốn. Đằng nào thì tôi cũng sẽ chết một cách rộng lượng. Bây giờ đến văn phòng. Tội nghiệp Fräulein Benjamenta!

Có chút khinh bỉ, tôi phải thú thật, nhưng mặt khác cũng rất là tin cậy (đúng, vì khinh bỉ nên mới tin cậy), ông Hiệu trưởng phát vào vai tôi và há cái miệng rộng mà thanh tú ra cười to. Cười khoe cả hàm răng. “Thưa Hiệu trưởng,” tôi nói, “tôi phải yêu cầu ông đối xử với tôi bằng một sự thân thiện ít xúc phạm hơn. Tôi vẫn là học sinh của ông. Hơn nữa, tôi khước từ những ưu ái của ông, và nói khước từ cũng chưa đủ mạnh mẽ. Xin ông hãy tỏ ra hạ cố và rộng lượng với một kẻ tôi tớ như thế này. Tôi là Jakob von Gunten, và y còn trẻ tuổi nhưng vẫn có ý thức về phẩm giá của mình. Không thể tha thứ cho tôi, tôi hiểu điều đó, nhưng cũng không thể hạ nhục tôi, điều đó tôi nghiêm cấm.” — Và với những lời lẽ đúng là ngạo mạn đến nực cười này, với những lời lẽ chẳng mấy phù hợp với tuổi tác hiện thời, tôi hất tay ông Hiệu trưởng ra. Rồi Herr Benjamenta lại bật cười, thậm chí còn vui vẻ hơn, và nói: “Tôi phải cố nín, tôi không thể nhịn được cười với cậu, Jakob ạ, và nếu không cẩn thận tôi sẽ hôn cậu đó, chàng trai tuyệt vời.” Tôi kêu lên: “Hôn tôi? Ông có điên không, thưa Hiệu trưởng? Tôi mong là không.” Chính tôi cũng kinh ngạc về việc mình nói ra điều đó dễ dàng đến như thế, và bất giác tôi lùi lại một bước, như thể tránh một cú đấm. Nhưng Herr Benjamenta, hoàn toàn thân thiện và thận trọng, đôi môi run run với vẻ hài lòng khác thường, lại nói: “À, chàng trai, cậu đúng là ngon lành. Tôi muốn sống với cậu trên sa mạc hay trên những ngọn núi băng giá vùng biển bắc, đúng là không gì bằng. Lại đây! Ồ, này, đừng có sợ, xin đừng sợ tôi. Tôi sẽ không làm gì cậu đâu. Tôi làm gì được chứ, có muốn tôi cũng có làm gì được với cậu đâu? Nhưng tôi không thể không thấy cậu là người đáng quý và hiếm có, tôi thấy điều đó, nhưng cậu không cần phải sợ hãi đâu. Ngoài ra, Jakob ạ, và bây giờ tôi hết sức nghiêm túc, cậu hãy nghe tôi nói. Cậu sẽ ở lại với tôi mãi mãi nhé? Cậu thực sự không hiểu tôi muốn nói gì, vậy thì để tôi giải thích thật đơn giản. Cái trường này kết thúc rồi, hiểu chưa?” Tôi đột nhiên buột miệng: “À, thưa Hiệu trưởng, đúng như tôi đã nghi ngờ.” Ông ta cười to và nói: “Chà, ra thế, cậu đã nghi ngờ rằng Trường Benjamenta hôm nay còn ở đây nhưng ngày mai sẽ biến mất. Phải, đó là điều chắc chắn. Cậu là học sinh cuối cùng ở đây. Tôi không nhận thêm ai nữa. Nhìn tôi đi! Tôi hết sức hài lòng, cậu hiểu mà, vì vẫn còn thời gian để làm quen với cậu, cậu Jakob trẻ tuổi, một mẫu người hết sức phù hợp, trước khi tôi đóng cửa cái trường này vĩnh viễn. Và bây giờ tôi hỏi cậu, đồ ranh con, kẻ đã trói buộc tôi bằng niềm hạnh phúc hết sức kỳ lạ, cậu có chịu đi cùng tôi, chúng ta sẽ ở bên nhau, cùng nhau khởi đầu cái gì đó, cùng làm và dám làm và đạt được cái gì đó, cả hai chúng ta, cậu hèn mọn và tôi lớn lao, chúng ta có cùng nhau cố gắng đương đầu với cuộc đời được không? Xin hãy trả lời tôi ngay lập tức.” Tôi đáp: “Theo tôi nghĩ, để trả lời câu hỏi này, tôi cần có thời gian, thưa Hiệu trưởng. Nhưng những gì ông nói khiến tôi quan tâm, và tôi sẽ suy nghĩ về vấn đề này từ bây giờ cho đến ngày mai. Nhưng tôi nghĩ rằng câu trả lời của tôi sẽ là có.” Herr Benjamenta gần như không kiềm chế được, có lẽ thế, và ông ta nói: “Tôi thích cậu quá.” Sau một lúc ngừng lời, ông ta lại bắt đầu nói: “Đấy, bởi vì đi cùng với cậu thì người ta có thể sống sót sau một chuyện gì đó nguy hiểm, như một hành trình khám phá đầy táo bạo và mạo hiểm. Nhưng chúng ta cũng có thể dễ dàng làm chuyện gì đó tao nhã và lịch lãm. Cậu có cả hai tính khí: vừa hiền lành vừa dạn dĩ. Đi cùng với cậu, người ta có thể dám liều lĩnh, hoặc là với một cái gì đó gan dạ hoặc là với một cái gì đó rất tế nhị.” “Thưa Hiệu trưởng,” tôi nói, “xin đừng tâng bốc tôi, điều đó thật khó chịu và đáng ngờ. Mà khoan đã! Câu chuyện cuộc đời ông đâu rồi, chuyện mà ông đã hứa sẽ kể tôi nghe, chắc là ông còn nhớ? “ Đúng lúc đó có ai mở bật cánh cửa ra. Kraus, chính là hắn, hụt hơi và tái nhợt chạy ào vào phòng, và không thể thông báo cái tin rõ ràng đang nằm trên môi hắn. Hắn chỉ khoác tay lia lịa, ra dấu cho chúng tôi đi theo. Cả ba chúng tôi đi vào lớp học tối tăm. Những gì nhìn thấy ở đây khiến chúng tôi dừng sững lại.

Nằm trên sàn là Fräulein Benjamenta vô hồn. Ông Hiệu trưởng nắm lấy bàn tay cô ấy, nhưng lại buông ra ngay, như thể một con rắn đã cắn ông, và lùi xa, rùng mình kinh hãi. Rồi ông ta quay lại với cô gái đã chết, nhìn cô, lại bước đi, chỉ để quay trở lại một lần nữa. Kraus đang quỳ ở phía chân cô gái. Tôi đang nâng đầu cô giáo lên bằng cả hai tay, để cho nó không phải chạm xuống sàn nhà cứng rắn. Đôi mắt cô ấy vẫn mở, không mở to lắm, nhưng cứ như cô ấy đang tươi cười. Herr Benjamenta vuốt mắt cô. Ông ta cũng đang quỳ trên sàn. Chúng tôi không ai nói một lời nào và chúng tôi không “đắm chìm trong suy nghĩ.” Ít ra thì tôi cũng không thể nghĩ được một điều gì rõ ràng cả. Nhưng tôi đã rất bình tĩnh. Nghe thì có vẻ tự phụ chứ tôi thậm chí còn cảm thấy đẹp và hay. Từ đâu đó tôi nghe thấy một giai điệu văng vẳng mơ hồ. Những đường nét và tia sáng đang chuyển động và đan chéo nhau trước mắt tôi. “Đỡ cô ấy lên,” ông Hiệu trưởng nói khẽ, “nào! Đưa cô ấy vào phòng khách. Khiêng nhẹ nhàng, ôi, nhẹ nhàng cho. Cẩn thận, Kraus. Hãy vì Chúa, đừng thô bạo như vậy. Jakob, giờ hãy cẩn thận nhé? Đừng để cô ấy va chạm vào bất cứ thứ gì. Tôi sẽ phụ với các cậu. Giờ đi tới đi, thật chậm. Đúng đó. Và ai với tay ra mở cửa đi. Thế đấy, thế đấy. Được rồi đó. Giờ chỉ cẩn thận nhé.” Lời nói của ông ta là không cần thiết, tôi nghĩ thế. Chúng tôi đặt Fräulein Benjamenta xuống giường, ông Hiệu trưởng hấp tấp kéo tấm chăn ra, và bây giờ cô ấy nằm đó, giống y như cô ấy đã nói trước với tôi, có thể nói như vậy. Và rồi đám học sinh đi vào và tất cả đều nhìn thấy, và rồi tất cả chúng tôi đứng đó, bên chiếc giường ấy. Ông Hiệu trưởng đưa tay ra dấu, chúng tôi hiểu ý ngay, và đám nam sinh chúng tôi bắt đầu khe khẽ hát đồng ca. Đó là bài ca thương tiếc mà cô gái ấy muốn nghe khi nằm chết. Và bây giờ cô ấy đã nghe thấy tiếng hát khe khẽ này, tôi tưởng tượng như thế. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng tôi đều có cảm tưởng như đây là một giờ học nhạc và chúng tôi đang hát theo lệnh cô giáo, người mà chúng tôi luôn răm rắp vâng lời. Khi chúng tôi kết thúc bài hát, Kraus bước ra khỏi nửa vòng tròn mà chúng tôi đã hợp thành và nói như sau, hơi chậm rãi, nhưng càng khiến lời hắn thêm thống thiết: “Hãy ngủ đi, an nghỉ nhé, cô giáo yêu quý và đáng kính. Người đã thoát khỏi những khó khăn, khỏi những sợ hãi, khỏi những ưu phiền và biến cố của cuộc đời. (Hắn gọi cô ấy là “người”. Tôi thích như thế.) Chúng tôi đã hát bên giường người, như người đã hạ lệnh. Lũ chúng tôi, học trò của người, bây giờ đều bị bỏ rơi cả sao? Trông có vẻ như vậy, và đúng như vậy. Thế nhưng người, người đã sớm qua đời, sẽ không bao giờ, không bao giờ, phai nhoà trong ký ức của chúng tôi. Người vẫn sống trong trái tim chúng tôi. Chúng tôi, những cậu học sinh của người, những kẻ mà người đã điều khiển và chỉ bảo, chúng tôi sẽ tản mác ra ngoài cuộc đời bất an và mệt mỏi, tìm kiếm lợi lộc và một mái nhà, và có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ tìm thấy và gặp lại nhau nữa. Nhưng tất cả chúng tôi đều sẽ nghĩ đến người, cô giáo của chúng tôi, bởi vì những ý tưởng mà người đã gieo cấy vào tâm trí chúng tôi, những điều dạy dỗ và kiến ​​thức mà người đã khắc ghi trong lòng chúng tôi, sẽ luôn nhắc chúng tôi nhớ đến người, người tạo ra sự tốt đẹp. Hoàn toàn tự động. Khi chúng tôi ăn, cái nĩa sẽ cho chúng tôi biết người đã muốn chúng tôi cầm nắm và điều khiển nó như thế nào, và chúng tôi sẽ ngồi vào bàn ăn một cách lịch sự, và nhận ​​thức của chúng tôi về việc làm đó sẽ khiến chúng tôi nhớ đến người. Ở trong lòng chúng tôi, sự hướng dẫn của người, những mệnh lệnh của người, cuộc đời của người, sự dạy dỗ của người, những câu hỏi của người và giọng nói của người vẫn sẽ tiếp tục vang vọng. Nếu những học sinh chúng tôi có một ai tiến xa hơn những người khác trong cuộc đời, anh ta có lẽ sẽ không còn muốn biết đến những kẻ mà anh ta đã bỏ lại phía sau, nếu có bao giờ được gặp lại nhau. Chắc chắn là thế. Nhưng lúc đó anh ta nhất định sẽ nhớ đến Trường Benjamenta và cô giáo của nó, và anh ta sẽ xấu hổ vì đã chối bỏ và quên lãng quá nhanh chóng và ngạo mạn những điều đã được bảo ban. Lúc đó, không chút do dự, anh ta sẽ vươn tay chào đón bạn mình, anh em mình, người bạn đồng môn này. Người đã dạy dỗ chúng tôi những gì, hỡi người đáng quý đã ra đi? Người luôn bảo chúng tôi rằng chúng tôi phải khiêm nhường và sẵn lòng giúp ích. Ôi, chúng tôi sẽ không bao giờ quên điều ấy, cũng như chúng tôi sẽ khó lòng vượt qua buồn đau và quên đi người đáng quý đã nói với chúng tôi điều đó. Xin hãy an giấc! Hãy mơ đi! Những tưởng tượng đẹp đẽ có lẽ đang bay lượn và thì thầm quanh người. Cầu cho Lòng Trung Thành, kẻ ở cận kề người, sẽ quỳ gối cúi chào người, và Lòng Tận Tuỵ cùng Ký Ức Thanh Thoát, nghịch ngợm với những kỷ niệm dịu dàng bất tận, sẽ rắc hoa, rải lá, và những lời yêu thương quanh vầng trán và đôi bàn tay người. Chúng tôi, những học sinh của người, bây giờ muốn hát thêm một bài nữa, và sau đó chúng tôi sẽ chắc chắn rằng mình đã cầu nguyện bên chiếc giường lâm chung của người, với chúng tôi đó sẽ là chiếc giường của niềm vui, của hạnh phúc và sự tưởng nhớ hết lòng. Bởi người đã dạy cho chúng tôi biết cầu nguyện. Người đã nói: Ca hát là cầu nguyện. Và người sẽ nghe thấy chúng tôi, và chúng tôi sẽ hình dung rằng người đang mỉm cười. Chúng tôi đau lòng biết bao khi thấy người đang nằm đây, bởi những hoạt động của người đối với chúng tôi chẳng khác gì suối nguồn tươi mát đổi vẻ kẻ đang khát khô. Phải, đó là một nỗi buồn đầy đau khổ. Nhưng chúng tôi phải kiềm chế bản thân, và chắc chắn người cũng sẽ mong muốn điều đó. Cho nên chúng tôi vẫn bình tĩnh. Cho nên chúng tôi vâng lời người và ca hát.” Kraus lùi xa chiếc giường trở lại, và chúng tôi hát một bài nữa, với những âm thanh đến và đi khẽ khàng như những âm thanh ban đầu. Rồi chúng tôi lần lượt đến bên chiếc giường ấy, và mỗi người gửi một cái hôn lên bàn tay cô gái đã chết. Và mỗi học sinh chúng tôi đều nói điều gì đó. Hans nói: “Tôi sẽ báo với Schilinski. Và cũng phải báo tin cho cả Heinrich nữa.” Schacht nói: “Vĩnh biệt, cô luôn luôn hết sức hiền từ.” Peter nói: “Tôi sẽ làm theo những lời người răn dạy.” Sau đó chúng tôi quay trở lại lớp học, để người anh ở lại một mình với cô em gái, Hiệu trưởng với Nữ hiệu trưởng, người sống với cô gái đã chết, người đàn ông cô đơn với cô gái cô đơn, người đàn ông gục đầu buồn đau, Herr Benjamenta, một mình với Fräulein Benjamenta, phúc thay, đã vĩnh viễn lìa đời.

Tôi đã phải nói lời chia tay với Kraus. Kraus đã ra đi. Một ánh sáng, một mặt trời, đã biến mất. Tôi cảm thấy rằng từ giờ trở đi cuộc đời này và tất cả quanh tôi chỉ có thể là bóng đêm. Trước khi lặn, mặt trời hắt những tia sáng đo đỏ lên thực tại đang tối dần, Kraus cũng vậy. Trước khi đi, hắn còn mau miệng nhiếc móc tôi một lần nữa, và lúc đó, toàn bộ con người đích thực của Kraus đã bộc lộ rực rỡ một lần cuối. “Adieu, Jakob, hãy cải thiện bản thân, hãy thay đổi chính mình,” hắn nói với tôi trong lúc đưa tay ra bắt, gần như khó chịu khi phải làm điều đó. “Tao đi đây, ra ngoài đời, đi làm việc. Tao hy vọng mày cũng sẽ sớm phải làm chuyện này. Chắc chắn là không có hại gì cho mày đâu. Tao hy vọng là cái đầu chậm hiểu của mày sẽ được ăn vài cú đấm đích đáng. Phải có người xách hai cái lỗ tai hư đốn của mày lên. Đừng vội cười vì mày với tao đang chia tay. Mà cũng đáng cho mày cười lắm. Và có lẽ mọi thứ trên đời này đều ngu ngốc đến mức chúng sẽ lôi mày lên cao, ai biết được. Lúc đó mày có thể lặng lẽ và xấc xược tiếp tục cái kiểu trơ tráo của mày, cái kiểu bất chấp, ngông ngạo và biếng nhác vui vẻ của mày, với cái kiểu nhạo báng và đủ trò ranh ma của mày, và cứ vô tư như mày vẫn thế. Lúc đó mày sẽ có thể tha hồ khoác lác về tất cả những thói xấu của mày mà cái Trường Benjamenta này đây không thể loại bỏ được. Nhưng tao hy vọng rằng sự lo lắng và cực khổ đó sẽ dạy cho mày những bài học khắt khe, đập tan mọi thói hư tật xấu. Đấy, thằng Kraus này đang nói những lời khó nghe. Nhưng có lẽ tao còn có ý tốt cho mày hơn là những người sẽ tuôn những lời chúc may mắn vào cái bản mặt há hốc của mày đó, anh bạn vui nhộn à. Hãy làm việc nhiều hơn, ham muốn ít hơn, và một điều nữa: làm ơn quên hết mọi chuyện về tao đi. Tao sẽ chỉ khó chịu nếu cảm thấy là có thể mày còn nghĩ gì về tao theo cái kiểu nay-còn-mai-mất, vênh váo, cũ mèm, phế thải đó. Đừng nhé, anh bạn, phải biết điều này, Kraus đây không cần bất kỳ trò đùa kiểu von Gunten nào của mày cả.” “Ôi anh bạn khó ưa,” tôi thốt lên, tràn ngập những suy nghĩ và cảm xúc chia ly đầy lo sợ. Và tôi muốn ôm chặt lấy hắn. Nhưng hắn đã ngăn chặn điều đó bằng cách đơn giản nhất trên đời, chỉ bằng cách hấp tấp ra đi, và đi mãi mãi. “Trường Benjamenta này cũng nay còn mai mất,” tôi nói với chính mình. Tôi đi gặp ông Hiệu trưởng. Tôi có cảm tưởng như thế giới này bị xé toạc bởi một vực sâu rực lửa, chắn giữa một chiều không gian nào đó và một chiều hoàn toàn đối nghịch. Một nửa cuộc đời đã đi theo Kraus. “Từ bây giờ, một cuộc đời khác!” Tôi thì thầm. Mà phải nói là việc này rất đơn giản: tôi buồn và hơi sửng sốt. Việc gì phải mất quá nhiều chứ? Tôi cúi chào ông Hiệu trưởng trịnh trọng hơn bao giờ hết, và lúc này có lẽ thích hợp để nói: “Kính chào ông, thưa Hiệu trưởng.” “Cậu có điên không, anh bạn?” ông ta kêu lên. Ông ta đến gần tôi và có lẽ đã ôm lấy tôi, nhưng tôi đã ngăn lại bằng một cú đánh mạnh vào cánh tay dang rộng của ông ta. “Kraus đi rồi,” tôi nói, rất nghiêm nghị. Chúng tôi im lặng và tự bằng lòng với việc nhìn nhau một lúc khá lâu.

Sau đó Herr Benjamenta nói với giọng mạnh mẽ trầm tĩnh: “Hôm nay tôi đã tìm được việc làm cho tất cả những người khác, các bạn học của cậu. Giờ chỉ còn lại ba chúng ta ở đây, cậu, tôi và cô ấy đang nằm trên giường kia. Cô ấy (sao lại không nói về người chết chứ? Họ vẫn sống, phải không nào?) cô ấy ngày mai sẽ được đưa đi. Đó là một suy nghĩ đáng sợ, nhưng lại cần thiết. Và chúng ta sẽ thức suốt đêm nay. Hai chúng ta sẽ có một cuộc nói chuyện ở bên giường cô ấy. Và khi tôi nghĩ đến cái ngày cậu đến đây với những yêu cầu, đòi hỏi và thắc mắc như thế nào, muốn được nhận vào trường như thế nào, tôi thấy ham sống kinh khủng và muốn cười ầm lên. Tôi hơn bốn mươi tuổi rồi. Già rồi phải không? Phải, nhưng bây giờ cậu đang ở đây, Jakob, điều đó có nghĩa là cái tuổi bốn mươi này vẫn còn trẻ, còn rất non nớt và mới chớm nở. Với cậu, người tâm hồn thơ trẻ, lần đầu tiên đời tôi mới được tràn ngập cuộc sống tươi mới, cuộc sống đích thực. Trong văn phòng này đây, cậu thấy đấy, tôi đã tuyệt vọng, tôi đã mỏi mòn, tôi đúng là đã tự chôn vùi mình. Tôi căm ghét cuộc đời này, ghét nó, ghét nó. Tất cả những thứ đang tồn tại, đang chuyển động và đang sinh sôi này, tôi đều ghét không thể tả và tránh xa. Rồi cậu bước vào, tươi tắn, ngốc nghếch, xấc xược, táo tợn, và bừng nở, thơm ngát những cảm giác nguyên sơ, và đương nhiên thôi, tôi đã hết sức chú ý đến cậu, nhưng ngay lúc tôi nhìn thấy cậu, tôi biết rằng cậu là một người tuyệt vời, tôi có cảm tưởng như cậu từ trên trời bay xuống, món quà của Chúa Toàn Năng gửi đến và ban cho tôi. Đúng, cậu chính là điều mà tôi cần, và tôi luôn cười thầm khi thỉnh thoảng cậu vào, quấy rầy tôi với bộ dạng hỗn xược và vụng về rất hay của cậu, điều mà tôi coi như những tác phẩm nghệ thuật thành công. Ồ, không, không phải quấy rầy, mà là làm cho tôi mê muội. Im nào, Benjamenta, im nào. — Nói tôi biết đi, cậu có bao giờ thấy rằng chúng ta là hai người bạn không? Khoan, đừng nói gì. Và trong khi tôi còn gìn giữ tư cách của mình, tôi cứ muốn xé tan nát nó đi. Và ngay cả hôm nay, cái cúi chào của cậu cũng trịnh trọng một cách điên rồ hết sức! Nhưng nghe này, cơn tức giận của tôi vừa rồi thì sao? Lúc đó tôi có muốn làm hại cậu không? Tôi có chơi khăm một trò ác ôn với chính mình không? Chắc là cậu biết, Jakob? Đúng chứ? Vậy thì xin hãy nói ngay đi. Ngay lập tức, cậu hiểu không? Chuyện gì đang xảy ra với tôi? Tôi bị làm sao? Cậu nói gì đi chứ?” Tôi nói: “Tôi không biết, tôi nghĩ là ông điên rồi, thưa Hiệu trưởng.” Những cơn rùng mình lạnh lẽo chạy khắp người khi tôi nhìn thấy sự mềm yếu và niềm khát khao cuộc sống bộc lộ trên khuôn mặt ông ta. Chúng tôi không nói gì suốt một hồi lâu. Tôi chợt nhớ đến việc phải nhắc Herr Benjamenta kể chuyện đời ông. Như vậy rất tốt. Điều đó có thể làm ông ta phân tâm, kiềm chế những cơn điên chết người khác của ông ta. Lúc này tôi tin chắc rằng số phận mình đang nằm trong tay một kẻ gần như mất trí, thế là tôi nhanh nhảu nói, mồ hôi chảy ròng ròng trên trán: “Ờ, còn câu chuyện đời ông thì sao, thưa Hiệu trưởng? Ông có biết là tôi không thích những lời ám chỉ không? Ông đã nói bóng gió mơ hồ với tôi rằng ông là một vị vua bị truất ngôi. Được rồi. Xin hãy kể hết đầu đuôi chuyện của ông đi. Tôi rất nóng lòng muốn nghe.” Ông ta đưa tay gãi sau gáy, rõ ràng là lúng túng. Rồi bất thình lình ông ta nổi giận lên, giận dữ một cách nhỏ mọn, và ông ta quát vào mặt tôi với giọng ra lệnh của một viên trung sĩ: “Đi ra ngoài! Để tôi yên!” Chà, không cần phải bảo hai lần, tôi biến ngay lập tức. Ông ta xấu hổ chăng, ông ta bị dày vò bởi một điều gì đó chăng, Đức Vua Benjamenta này, con sư tử trong chuồng này? Đằng nào thì tôi cũng rất mừng khi có thể đứng ngoài hành lang và nghe ngóng. Bên trong im lặng như nấm mồ. Tôi về phòng mình, thắp sáng gốc nến còn thừa và ngồi nhìn bức ảnh của Mẹ mà tôi luôn cẩn thận cất giữ. Lát sau có tiếng gõ cửa. Đó là ông Hiệu trưởng, ông ta mặc đồ toàn màu đen. “Đi nào,” ông ta ra lệnh, với vẻ nghiêm khắc sắt đá. Chúng tôi vào phòng khách, để thức canh xác Fräulein Benjamenta. Herr Benjamenta ra hiệu cho tôi biết chỗ của mình. Chúng tôi ngồi xuống. Tạ ơn trời, ít ra tôi cũng không thấy mệt mỏi chút nào. Tôi rất mừng vì điều đó. Gương mặt của cô gái đã chết vẫn đẹp, phải, thậm chí còn trở nên yêu kiều hơn, và một điều nữa: từng giây phút trôi qua thì vẻ đẹp, cảm xúc và nét duyên càng tăng thêm trên gương mặt. Một cái gì đó giống như một sự tha thứ hân hoan dành cho mọi lỗi lầm đủ loại dường như đang bồng bềnh và khẽ vang vọng khắp căn phòng này. Một âm thanh líu lo nào đó. Và căn phòng sáng rực, một sự nghiêm túc chói lọi. Chẳng có gì buồn thảm, không hề. Tôi có cảm giác dễ chịu, bởi vì ngay cái việc thức canh này khiến tôi cảm nhận được sự bình an thanh thản của việc lặng lẽ làm những gì ta có bổn phận phải làm.

“Lát nữa, Jakob,” ông Hiệu trưởng bắt đầu nói khi chúng tôi đã ngồi yên chỗ, “lát nữa tôi sẽ kể cho cậu nghe mọi chuyện. Vì chúng ta sẽ ở bên nhau. Tôi chắc chắn, hoàn toàn chắc chắn là cậu sẽ đồng ý làm điều này. Ngày mai, khi tôi hỏi về quyết định của cậu, cậu sẽ không nói không, tôi chắc chắn như thế. Còn hôm nay, tôi phải nói với cậu rằng tôi thực sự không phải là một vị vua bị truất ngôi, tôi chỉ dùng hình tượng ví von với cậu vậy thôi. Tất nhiên, đã có lúc Benjamenta này, người đang ngồi bên cạnh cậu, đã cảm thấy mình là chúa tể, kẻ chinh phục, một vị vua, khi cuộc đời nằm chờ sẵn trước mặt cho tôi chộp lấy, khi tôi tin tưởng bằng tất cả tri giác của mình vào tương lai và sự vĩ đại, khi bước chân nhún nhảy đưa tôi đi tới cứ như băng qua một thảm cỏ và những điều ưu ái, khi tôi nhìn cái gì thì cái đó thuộc về mình, tận hưởng mọi ý nghĩ thoáng qua trong đầu, khi mọi thứ sẵn sàng ban thưởng cho tôi sự hài lòng, tôn vinh tôi bằng những thắng lợi và thành tựu, khi tôi là vua mà thực sự không hề hay biết, lớn lao mà không cần phải có ý thức quan tâm. Theo nghĩa này, Jakob ạ, tôi đã có được vinh quang, nói cách khác là hoàn toàn trẻ trung và đầy triển vọng, và theo nghĩa này, việc hạ bệ và truất ngôi cũng đã xảy ra. Tôi đã suy sụp. Và tôi nghi ngờ bản thân và mọi thứ. Khi người ta tuyệt vọng và buồn rầu, Jakob ơi, thì người ta thật tầm thường đến thảm hại, và ngày càng nhiều thứ tầm thường đổ ập lên ta, giống những thứ sâu mọt tham lam, lanh lẹ, ăn thịt chúng ta, rất chậm rãi chúng tìm cách làm cho chúng ta nghẹt thở, làm chúng ta không còn là người, rất chậm rãi. Nhưng mẩu chuyện về vị vua đó chỉ là một cách nói bóng bẩy. Tôi xin lỗi cậu, người đang lắng nghe tôi, nếu như tôi đã khiến cậu tin vào chuyện quyền trượng với hoàng bào. Nhưng tôi nghĩ rằng cậu thực sự biết ý nghĩa của những vương quốc này trong những lời nghẹn ngào và tiếng thở dài. Ngồi với cậu bây giờ trông tôi có vẻ thoải mái hơn, phải không? Giờ thì tôi có còn là vua đâu? Vì ngay cả cậu cũng sẽ thừa nhận rằng những vua chúa nào buộc phải giảng bài này nọ, và buộc phải mở trường dạy học, thì chắc chắn đó phải là những kẻ rất buồn thảm. Không, không, tôi lúc đó chỉ tự hào và mừng cho tương lai: đó là tài sản đất đai và lợi tức vua chúa của tôi. Để rồi suốt nhiều năm dài tôi phải chán chường và nhục nhã. Còn bây giờ tôi đã trở lại, tức là tôi đang bắt đầu lại, là chính mình, và tôi có cảm tưởng như mình đã được thừa hưởng một gia tài, ôi trời, không phải, không phải thế, không phải, tôi có cảm tưởng như mình — đã được tôn lên làm vua. Tất nhiên là có những lúc u ám, những lúc u ám tàn nhẫn vẫn xảy ra, khi xung quanh tôi và xung quanh trái tim cháy nám này như bao trùm trong tăm tối, có thể nói như thế, đừng hiểu lầm tôi, mọi thứ đều đáng ghê tởm, và vào những lúc đó tôi bị thôi thúc phải phá hủy, phải giết hại. Ôi cậu, linh hồn của tôi, giờ cậu đã biết điều này thì cậu sẽ ở lại với tôi chứ? Có thể nào chỉ vì yêu mến tôi, hoặc vì bất kỳ cảm xúc nào khác lôi cuốn, mà cậu quyết định bất chấp sự nguy hiểm khi sống cùng với một con quái vật như tôi không? Cậu có thể bất chấp với một tấm lòng cao cả không? Cậu có bất chấp được như vậy không? Và cậu có oán giận tôi vì những điều này hay là không? Oán giận tôi? A, thật ngớ ngẩn. Vả lại, tôi biết chúng ta sẽ sống cùng nhau, Jakob à. Việc này đã được quyết định. Thế sao còn phải hỏi chứ? Đấy, tôi còn lạ gì cậu học trò cũ của mình. Bây giờ cậu không còn là học trò của tôi nữa, Jakob. Tôi không muốn huấn luyện và dạy dỗ cậu nữa, tôi muốn sống, và khi đang sống tôi muốn gánh vác, muốn thực hiện, muốn hoàn thành một trách nhiệm nào đó. Ôi, phải khổ sở với tấm lòng dành cho một người bạn là điều thật tuyệt vời, tuyệt vời lắm. Tôi đã có những gì mình muốn có cho nên tôi cảm thấy như thể mình có thể làm bất cứ điều gì, có thể cam chịu và sung sướng được khổ sở vì bất cứ điều gì. Đừng suy nghĩ nhiều nữa, đừng nói nhiều nữa. Xin cứ im lặng. Ngày mai hãy nói cho tôi biết, sau khi sinh mạng đang nằm trên giường kia đã được đưa đi, sau khi tôi đã có thể trút bỏ cái nghi lễ hoàn toàn bề ngoài này và chôn nó trong lòng, lúc đó cậu hãy cho tôi biết suy nghĩ ​​của cậu. Cậu sẽ nói có hoặc cậu sẽ nói không. Phải hiểu là cậu bây giờ hoàn toàn tự do. Cậu có thể nói hoặc làm bất cứ điều gì cậu thích.” Rất khẽ, tôi vừa nói vừa run rẩy với mong muốn làm cho kẻ quá tự tin kia hoảng sợ một chút: “Nhưng tôi sẽ lấy cái gì mà ăn đây, thưa Hiệu trưởng? Ông lo tìm chỗ ăn ở cho những người khác, mà không tìm cho tôi? Tôi thấy thật kỳ cục. Làm vậy không được. Và tôi nhất định phải có chỗ ăn ở. Nhiệm vụ của ông là phải tìm cho tôi một chỗ làm đàng hoàng. Tôi chỉ muốn có một công việc mà thôi.” A, ông ta rùng mình. Ông ta giật thót người. Tôi cười khúc khích đã đời, thầm trong lòng. Tính ác độc là là điều hay ho nhất trong cuộc đời. Herr Benjamenta buồn bã nói: “Cậu nói đúng. Chuyện đáng làm là tìm cho cậu một công việc, căn cứ theo giấy chứng nhận ra trường của cậu. Phải, cậu nói hoàn toàn đúng. Chỉ có điều tôi nghĩ, chỉ là — tôi thấy — rằng có thể dành một ngoại lệ cho cậu.” Tôi thất kinh thốt lên: “Ngoại lệ? Tôi không muốn ngoại lệ nào. Điều đó không xứng đáng với con trai của một uỷ viên hội đồng. Tính khiêm tốn của tôi, gia thế của tôi, mọi cảm xúc của tôi đều nghiêm cấm tôi không được mong muốn nhiều hơn những gì mà các bạn đồng môn của mình đã nhận được.” Từ lúc đó trở đi, tôi không nói thêm lời nào nữa. Tôi thích làm cho Herr Benjamenta lo lắng ra mặt như thế, một trạng thái khiến tôi thấy hả hê trong lòng. Rồi cả hai chúng tôi đều im lìm suốt đêm.

Nhưng giấc ngủ đã chế ngự tôi trong lúc ngồi canh thức ở đó. Không lâu sau, chỉ nửa giờ, hoặc có lẽ hơn một chút, là tôi đã quên hết thực tại. Tôi đã mơ thấy mình đang ở trong một đồng cỏ trên sườn núi (giấc mơ từ trên cao ập xuống, dìm tôi trong những tia sáng dữ dội, tôi còn nhớ). Đồng cỏ xanh thẫm, mượt như nhung. Và ngập tràn hoa tô điểm, như những nụ hôn có hình dạng bông hoa. Cảnh tượng tự nhiên, nhưng lại không tự nhiên, ảo ảnh và thực thể đồng hiện cùng lúc. Một cô gái tuyệt đẹp nằm trên đồng cỏ, tôi tự nhủ nhất định đó là cô giáo, nhưng tôi liền lên tiếng: “Không, không thể nào được. Chúng ta đâu còn cô giáo nữa.” Chà, thế thì nhất định là một người khác, và tôi thấy đúng là tôi đang tự an ủi mình như vậy đấy, và tôi lắng nghe chính sự an ủi đó. Nó nói: “Thôi đi! Đừng có cố giải thích gì hết!” Cô gái trần truồng, như sóng nhấp nhô và ngời sáng. Trên một cẳng chân xinh đẹp của cô ta là một chiếc nịt bít tất, khẽ rung động trong làn gió đang mơn trớn mọi vật. Thật chẳng khác gì toàn bộ giấc mơ này đang rung động, toàn bộ giấc mơ ngọt ngào, trong sáng như gương. Tôi sung sướng biết bao! Trong một thoáng chốc, tôi đã nghĩ đến “Con Người Này.” Đương nhiên là tôi đang nghĩ tới ông Hiệu trưởng. Đột nhiên tôi nhìn thấy ông ta, ngất ngưởng trên lưng ngựa và mặc bộ giáp phục đen, lung linh, quý phái và nghiêm trọng. Thanh kiếm dài đeo thõng bên hông và con ngựa hung hăng cất tiếng hí. “Chà, nhìn đi nào. Ông Hiệu trưởng cưỡi ngựa kia kìa,” tôi nghĩ thầm, và tôi hét to hết sức, tới mức những tiếng vọng rền vang trong các hẻm núi và khe sâu: “Tôi đã quyết định.” Nhưng ông ta không nghe thấy tôi. Đau khổ, tôi thét lên: “Này! Hiệu trưởng! Nghe này!” Nhưng không, ông ta đã quay lưng lại với tôi. Ông ta đang nhìn ra xa, nhìn xuống cuộc đời ngoài kia. Và ông ta thậm chí không ngoái đầu lại. Có lẽ là để giúp tôi, giấc mơ bây giờ lăn tới, từng chút một, như một cỗ xe, và rồi ở giữa sa mạc chúng tôi đã tìm thấy nhau, tôi và “Con Người Này,” đương nhiên không ai khác hơn là Herr Benjamenta. Chúng tôi đã ngao du và làm ăn với những cư dân sa mạc, và chúng tôi đã hết sức phấn khởi vì đạt được một điều như ý rất thú vị, tôi có thể nói là tuyệt vời. Cả hai chúng tôi cứ như đã vĩnh viễn, hoặc ít ra là trong một thời gian rất dài, thoát khỏi cái mà người ta gọi là văn minh châu Âu. “A ha,” tôi bất giác nghĩ thầm, và tôi thấy có vẻ ngu ngốc, “đúng là thế rồi, đúng là thế!” Nhưng đó là cái gì, cái điều mà tôi nghĩ, thì tôi không thể giải đáp được. Chúng tôi lang thang đi tiếp. Rồi xuất hiện một đám đông những kẻ thù địch, nhưng chúng tôi đã đánh họ tan tác, mặc dù tôi thực sự không biết chuyện đó xảy ra như thế nào. Những vùng đất vút nhanh như chớp lướt qua chúng tôi trong những ngày lang thang. Tôi nhận biết được kinh nghiệm của cả hàng chục năm dài lao khổ, đang vẫy chào khi băng ngang qua chúng tôi. Điều đó thật kỳ lạ làm sao. Từng tuần lễ riêng biệt giương những con mắt lấp lánh như ngọc nhìn nhau. Thật buồn cười và cũng thật kỳ thú. Ông Hiệu trưởng, trông như một người Ả Rập, thỉnh thoảng lại nói: “Cậu biết đó, Jakob, được xa lánh văn minh thật là tuyệt.” Chúng tôi đang cưỡi lạc đà. Và phong tục của những dân tộc trên đường gặp gỡ đã khiến chúng tôi thích thú. Có cái gì đó bí ẩn, nhẹ nhàng và tinh tế trong hoạt động của các xứ xở này. Phải, cứ như thể chúng đang diễu hành, không, đang bay tới. Biển trải dài hùng vĩ như một thế giới ướt át màu xanh bao la của những ý nghĩ. Có lúc tôi nghe thấy tiếng chim vỗ cánh, tiếng thú kêu, rồi cây cối xào xạc trên đầu. Herr Benjamenta, đã được dân Ấn Độ phong vương, bảo tôi: “Rốt cuộc cậu cũng đi theo. Đương nhiên là tôi biết.” Đúng là điên! Chuyện này nghe cũng có vẻ hay ho kinh khủng: chúng tôi đang tổ chức một cuộc cách mạng ở Ấn Độ. Và rõ ràng là cái trò rắn mắt đó đã có tác dụng. Thật đã đời khi được sống, tôi cảm nhận được điều đó trong từng thớ thịt. Cuộc đời, như một thân cây vươn cành toả nhánh, đang phô trương trước ánh mắt dõi tìm của chúng tôi. Và chúng tôi không hề chùn bước! Và kinh qua bao nguy hiểm với trải nghiệm, chúng tôi lặn lội qua những vùng nước băng giá là thứ xoa dịu sức nóng trong chúng tôi. Tôi luôn là Hộ Vệ và ông Hiệu trưởng là Hiệp Sĩ. “Tốt thôi,” tôi chợt nghĩ. Và trong khi đang nghĩ điều này, tôi tỉnh giấc và nhìn quanh phòng khách. Herr Benjamenta cũng đã ngủ rồi. Tôi đánh thức ông ta bằng câu nói: “Làm sao ông có thể ngủ được, thưa Hiệu trưởng! Nhưng cho phép tôi thưa với ông rằng tôi đã quyết định đi cùng ông, đi bất cứ nơi nào ông muốn.” Chúng tôi bắt tay nhau, và điều đó có ý nghĩa lắm.

Tôi đang thu xếp hành trang. Phải, hai chúng tôi, ông Hiệu trưởng và tôi, chúng tôi đang bận rộn thu dọn, thực sự thu dọn tất cả, vứt bỏ, tống khứ, xé nát nhiều thứ, rồi lèn chặt và nhồi nhét. Chúng tôi sẽ ngao du. Tốt thôi. Con người này rất hợp với tôi và tôi sẽ không tự hỏi lý do nữa. Tôi cảm thấy rằng cuộc đời đòi hỏi sự bốc đồng chứ không phải sự suy xét. Hôm nay tôi sẽ từ giã anh tôi. Tôi sẽ không để lại gì ở đây. Không có gì giữ chân tôi được, không có gì buộc tôi phải nói: “Sẽ ra sao nếu như. . .” Không, chẳng còn gì để ra sao với nếu như cả. Fräulein Benjamenta đã nằm dưới lòng đất. Đám học sinh, đám bạn tôi, đã đi tứ tán theo đủ mọi công việc. Và nếu tôi bị nghiền nát thành muôn mảnh và sẽ tiêu tan, thì cái gì sẽ bị nghiền nát và tiêu tan? Một con số không. Cá nhân tôi chỉ là một con số không. Nhưng bây giờ tôi sẽ quẳng cây bút đi! Quẳng luôn một đời suy nghĩ! Tôi sẽ cùng Herr Benjamenta đi vào vùng sa mạc đó. Tôi cũng chỉ muốn xem liệu ta có thể sống và thở và tồn tại ở nơi hoang dã không, có sẵn lòng làm những việc tốt và thực hiện điều đó, rồi đêm đêm nằm ngủ và mơ. Lại thế nữa rồi. Bây giờ tôi không muốn nghĩ đến bất cứ chuyện gì. Ngay cả nghĩ đến Chúa? Không! Chúa sẽ ở cùng tôi. Tôi cần gì nghĩ đến Ngài nữa? Chúa đi cùng những người vô tư. Vậy bây giờ adieu, Trường Benjamenta.

(Nguyên tác tiếng Đức Jakob von Gunten: Ein Tagebuch.

Dịch theo bản tiếng Anh Jakob von Gunten của Christopher Middleton, NYRB 1999.)

[1] François Claudius Koenigstein, thường gọi Ravachol, (1859–1892) là một người Pháp vô chính phủ, bị xử tử bằng máy chém sau hai lần bị kết tội đồng lõa trong các vụ đánh bom.

Chấm sao chút:

Đã có 2 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Đăng Thư

Đăng Thư là một bút danh dịch thuật của Trần Đức Tài, sống ở Đà Lạt, có dịch phẩm đầu tay xuất bản từ 1988 và vẫn tiếp tục dịch lai rai.

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: