Robert Musil, Người đàn ông không phẩm chất (trích)

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 20 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 11: Về văn học Đức, ngày 31-7-2022)

Robert Musil (1880-1942), nhà văn người Áo là tác giả cuốn tiểu thuyết Người đàn ông không phẩm chất, được coi là một trong những tiểu thuyết của chủ nghĩa hiện đại quan trọng và gây ảnh hưởng lớn nhất. Chia làm 3 tập, dài khoảng 530 nghìn chữ, cuốn tiểu thuyết còn dang dở này của Musil luôn nằm trong top 10 cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Michael Hofmann, dịch giả và phê bình gia nổi tiếng viết, « Trong tất cả những tiểu thuyết gia châu Âu vĩ đại trong 30 năm đầu thế kỷ 20 – Marcel Proust, James Joyce, Franz Kafka, Thomas Mann, Virginia Woolf – Robert Musil là người được đọc ít nhất; nhưng ông quyến rũ như Gibbon, chua cay như Voltaire, dí dỏm như Oscar Wilde và suy đồi như Arthur Schnitzler. »

Tác phẩm sẽ được Phanbook cho ra mắt trong thời gian tới.

18
Moosbrugger

Trong thời gian này dư luận xã hội đang bận tâm với vụ án Moosbrugger.

Moosbrugger là một gã thợ mộc, một người cao lớn vai rộng không chút mỡ thừa, mái tóc nâu như lông cừu và tay chân thô tháp hiền lành. Cả gương mặt gã cũng toát lên sự hiền lành và mong muốn làm theo lẽ phải, và nếu như người ta không nhìn thấy điều đó, thì người ta cũng có thể ngửi thấy qua cái mùi lao động thô kệch, lương thiện, tẻ ngắt của người đàn ông ba mươi tư tuổi ấy, cái mùi sinh ra do thường xuyên tiếp xúc với gỗ và một công việc đòi hỏi cẩn thận cũng như cố gắng.

Người ta sững sờ đứng như mọc rễ dưới chân khi lần đầu tiên nhìn thấy gương mặt được Chúa ban cho tất cả mọi dấu hiệu tốt lành của gã, bởi Moosbrugger xuất hiện có hai lính canh tòa án đeo vũ khí đi kèm hai bên và đôi tay gã bị trói chặt trước bụng bằng một sợi xích sắt to đầu kia do một trong hai người áp giải giữ.

Khi gã nhận thấy người ta nhìn mình thì trên gương mặt to tướng hiền lành với mái tóc rối bù và hàng ria mép kèm thêm đốm râu nhỏ giữa môi dưới và cằm của gã liền nở một nụ cười; gã mặc một chiếc áo khoác đen ngắn với quần màu xám tro, chân xoạc ra như tác phong quân đội, nhưng nụ cười này mới là cái làm bận tâm các phóng viên đưa tin trong phòng xử án nhiều nhất. Đó có thể là một nụ cười bối rối hay ranh mãnh, một nụ cười mỉa mai, nham hiểm, đau đớn, điên loạn, khát máu, ghê rợn -: thấy rõ là họ mò mẫm giữa những từ ngữ biểu tả mâu thuẫn nhất và uổng công tìm kiếm trong nụ cười này một cái gì đó mà họ rõ ràng không thấy nơi toàn bộ diện mạo rất đỗi lương thiện kia.

Bởi Moosbrugger đã giết một người đàn bà, một ả gái điếm mạt hạng, bằng một lối hết sức khủng khiếp. Các phóng viên đã mô tả chính xác một vết thương ở cổ cắt từ yết hầu tới gáy, cũng như hai vết đâm ở ngực thấu tim, hai vết đâm sau vai trái và cặp vú bị xẻo gần đứt rời ra; họ không tiếc lời bày tỏ sự ghê tởm của mình, nhưng không dừng lại ở đó mà tiếp tục liệt kê ba mươi lăm nhát đâm ở bụng và cả vết chém từ rốn tới tận xương cùng xương cụt, tiếp theo là vô số vết nhỏ hơn dọc lưng lên phía trên, và cổ còn mang vết bóp. Từ những chi tiết rùng rợn ấy họ không tìm được đường trở về gương mặt hiền lành của Moosbrugger, dẫu bản thân họ cũng là những người hiền lành và bất kể sự việc xảy ra ghê gớm thế nào họ vẫn tường thuật một cách khách quan, chuyên nghiệp và giật gân đến độ người đọc phải nín thở. Ngay cả lời giải thích dễ thấy nhất rằng trước mặt họ là một kẻ mắc bệnh tâm thần – bởi Moosbrugger đã đôi lần bị nhốt vào nhà thương điên vì những tội tương tự như thế rồi – cũng chỉ được họ sử dụng một cách dè xẻn, mặc dù một phóng viên giỏi thời nay rất rành những vấn đề ấy; có vẻ như tạm thời họ còn chưa muốn từ bỏ việc khai thác hình ảnh tên sát nhân hung ác và thả cho sự kiện này xổng từ thế giới của họ sang thế giới những người mất trí, về mặt này họ rất đồng tình với các bác sĩ tâm thần, những người đã tuyên bố gã hoàn toàn khỏe mạnh cũng thường xuyên như kết luận gã không đủ năng lực chịu trách nhiệm cho hành vi của mình. Và rồi sau đó còn xảy ra chuyện lạ nữa, vụ án bệnh hoạn của Moosbrugger, ngay từ khi chưa mấy phổ biến, đã được hàng ngàn người quan tâm theo dõi và tự nhủ “cuối cùng cũng có một tin hấp dẫn”, mà đấy lại toàn là những người chuyên lên án thói háo tin giật gân của báo chí, họ là những công chức mẫn cán cũng như các cậu công tử mười bốn tuổi và các bà nội trợ bù đầu với nỗi lo gia chánh. Đành rằng người ta thở dài khi nói đến một quái thai như thế, nhưng trong thâm tâm người ta dành cho nó nhiều suy nghĩ hơn cả nghề nghiệp của chính mình. Phải, trong những ngày này rất có thể xảy ra chuyện một ông cục trưởng liêm khiết hay một ông quyền giám đốc ngân hàng buổi tối khi lên giường bỗng bảo bà vợ ngái ngủ: “Mình sẽ làm gì nếu bây giờ tôi là một Moosbrugger…”

Ulrich, khi ánh mắt chàng bắt gặp gương mặt lành như con chiên của Chúa như thế trên cái còng tay, đã trở gót quay lại tặng mấy điếu thuốc lá cho một người lính gác Tòa án tiểu bang ngay gần đấy để dò hỏi về đoàn xe tù vừa mới rời khỏi cổng chưa bao lâu; và được biết…: có lẽ ngày xưa chuyện đã xảy ra như thế, vì người ta thường lấy thông tin bằng cách này, và bản thân Ulrich cũng gần tin như vậy, nhưng sự thật thời hiện đại là chàng chỉ đọc được tất cả những điều đó trên báo mà thôi. Rất lâu sau này chàng mới làm quen trực tiếp với Moosbrugger, trước đó chàng chỉ có một lần nhìn thấy gã bằng da bằng thịt trong phiên xử. Xác suất để biết được một điều khác thường qua báo chí cao hơn nhiều khả năng tự trải nghiệm trong cuộc sống; hay nói cách khác, ngày nay những điều quan trọng xảy ra trong thế giới trừu tượng, và những cái không quan trọng thì xảy ra trong thực tế.

Những gì Ulrich bằng con đường thông tin thời hiện đại biết được về câu chuyện của Moosbrugger đại loại như sau:

Moosbrugger từ thuở thiếu thời đã sống trong cảnh khốn cùng, một thằng bé con nhà nghèo ở lều tranh trong một cái làng nhỏ đến nỗi không có lấy một con đường, và gã nghèo đến nỗi không bao giờ nói chuyện với một cô con gái. Gã chỉ có thể nhìn đám con gái; cả sau này trong thời gian học nghề và thậm chí sau đó trên đường hành nghề dạo[1] cũng vậy. Cứ thử tưởng tượng xem như thế là thế nào. Điều mà người ta ham muốn một cách bình thường nhất trần đời, như bánh mì và nước, thì lại chỉ được nhìn. Sau một thời gian người ta chuyển sang ham muốn nó một cách bất bình thường. Nó đi ngang qua, vạt váy phấp phới quanh bắp chân. Nó trèo qua hàng rào để hở cả đầu gối. Người ta nhìn vào mắt nó và đôi mắt ấy trở nên không đáy. Người ta nghe tiếng nó cười, quay phắt lại và dòm vào một cái mặt bất động tròn như cái lỗ dưới đất con chuột vừa chui xuống.

Vậy là người ta cũng có thể hiểu được tại sao Moosbrugger sau vụ sát hại đàn bà con gái đầu tiên đã tự bào chữa rằng gã luôn bị ma quỷ ám ảnh, chúng ngày đêm réo gọi gã. Chúng ném gã ra khỏi giường khi gã ngủ, và quấy rối gã trong khi làm việc; rồi chúng chuyện trò và cãi cọ với nhau cả ngày lẫn đêm điếc tai gã. Đấy không phải là bệnh tâm thần, Moosbrugger không thích người ta nói về mình kiểu ấy; đương nhiên thỉnh thoảng gã cũng tô vẽ thêm dựa theo những gì nhớ được trong bài giảng đạo ở nhà thờ hoặc cố ý giả vờ theo lời khuyên của các bạn tù, nhưng nguyên liệu cho những cái ấy lúc nào cũng sẵn; nó chỉ hơi phai nhạt nếu người ta xao lãng một chút.

Cả khi gã đi hành nghề dạo cũng vậy. Mùa đông thợ mộc rất khó tìm việc làm, và Moosbrugger thường nằm vạ vật hàng tuần trên đường. Người ta đi cả ngày trời, đến một nơi nào đó và không tìm được chỗ ngủ trọ. Phải lội bộ tiếp đến đêm khuya. Không có tiền để ăn bữa tối, thế là người ta uống rượu cho tới lúc sau mắt thắp lên hai ngọn nến và thân thể thì tự di động không cần điều khiển. Người ta không muốn xin một chỗ ngủ trong “trại”, mặc dù ở đó có súp nóng, phần vì rận rệp và phần vì những phiền hà đáng ghét ở đấy; người ta thà ăn xin vài xu lẻ rồi chui vào nằm trong đống cỏ khô của một nhà nông dân nào đó. Không xin phép chủ nhân, tất nhiên rồi, dại gì mà hỏi để phải xin xỏ rất lâu và rồi cũng chỉ nhận được những lời sỉ mắng mà thôi. Sáng hôm sau dĩ nhiên thường xảy ra cãi cọ và thưa kiện về tội sử dụng bạo lực, tội du đãng và ăn xin, và cuối cùng cuốn sổ đen ghi những tiền án tiền sự loại này của gã ngày càng dày, mỗi vụ mới quan tòa lại làm bộ quan trọng mở ra xem, cứ như thể Moosbrugger được vẽ chân dung trong đó vậy.

Và thử nghĩ mà xem, nhiều ngày, thậm chí cả tuần không được tắm giặt là như thế nào. Da dẻ trở nên cứng ngắc đến nỗi người ta chỉ có thể làm những cử động mạnh ngay cả khi muốn nhẹ nhàng, và dưới một lớp vỏ dầy cộp như thế linh hồn sống cũng đông cứng lại. Trí khôn thì ít bị ảnh hưởng hơn, vẫn đủ để điều khiển người ta làm những điều tối cần thiết; nó giống như ánh sáng le lói trong một ngọn hải đăng di động khổng lồ lèn đầy giun dế hay châu chấu cào cào bẹp dí, tất cả những gì thuộc về nhân cách đã bị nghiền nát, chỉ còn các chất hữu cơ trương sình lang thang vật vờ. Rồi Moosbrugger khi lang thang vật vờ qua các làng mạc hay trên một con phố vắng bỗng gặp cả lũ đàn bà con gái. Lúc này một mụ, và nửa tiếng đồng hồ sau lại một mụ nữa, nếu như họ có đi cách nhau một quãng xa như thế và chẳng liên quan gì với nhau thì nhìn chung vẫn là cả một lũ. Họ đi từ làng này sang làng khác hoặc chỉ ra đứng trước nhà, họ quấn khăn dầy hoặc mặc áo khoác bó sát người phình ra nơi hông, họ từ ngoài vào những căn phòng ấm áp hay lùa đám con đi đâu đó hay bước lẻ loi một mình trên đường, và người ta có thể lấy đá ném họ như ném quạ. Moosbrugger quả quyết rằng gã không thể là một tên sát nhân vì dục vọng, bởi trong thâm tâm gã luôn luôn chan chứa một mối ác cảm với đám đàn bà con gái này, và điều đó không có gì là khó tin, bởi người ta vẫn cho rằng họ hiểu tâm trạng một con mèo ngồi trước cái lồng có con chim hoàng yến mập ú nhảy lên nhảy xuống, hoặc vờn một con chuột nhắt, vồ lấy, thả ra, lại vồ lấy, chỉ để nhìn nó cuống cuồng chạy trốn; và một con chó có khác gì khi nó đuổi theo một cái bánh xe chỉ để đùa giỡn cắn chơi, nó, bạn trung thành của con người? Trong mối liên quan với các vật thể sống động, không yên, câm lặng quay hay lướt kia có một mối ác cảm bí mật thúc đẩy người ta chống lại kẻ đồng loại sung sướng nọ. Và rốt cục người ta biết làm gì, nếu mụ ta hô hoán rầm rĩ lên? Người ta chỉ có thể tỉnh trí lại, hoặc nếu không thể thì dúi mặt mụ ta xuống đường và nhét đất vào mồm mụ.

Moosbrugger chỉ là một gã thợ mộc tầm thường, một người rất cô độc, và mặc dù ở mọi nơi gã từng làm việc các thợ bạn trong phường đều chấp nhận gã, nhưng gã không có bạn. Bản năng mạnh nhất của gã thỉnh thoảng lại bộc lộ ra ngoài một cách hung hãn; nhưng có lẽ đúng như gã nói, gã chỉ thiếu học vấn và cơ hội thuận lợi để trở thành một cái gì khác, một thiên thần chết chóc hay một kẻ đốt nhà hát, một tên vô chính phủ cỡ bự; bởi những tên vô chính phủ tụ tập với nhau thành hội kín bị gã khinh bỉ gọi là đồ giả dối. Thấy rõ là gã mắc bệnh tâm thần; nhưng cho dù bản chất bệnh hoạn rõ ràng là nguyên nhân dẫn đến cách hành xử của gã khiến gã tách biệt hẳn với mọi người, thì bản thân gã vẫn coi đó là một cảm xúc cao hơn và mạnh hơn của cái tôi trong con người gã. Cả cuộc đời gã là một cuộc chiến đấu vụng về vừa nực cười vừa kinh khủng, hòng buộc người khác phải tôn trọng gã. Từ khi còn là thằng ở cho người ta sai vặt gã đã bẻ gãy ngón tay một ông chủ khi ông này muốn đánh đòn gã. Một ông chủ khác bị gã cuỗm tiền trốn đi, để đảm bảo sự công bằng cần thiết, theo lời gã. Gã không ở lại nơi nào được lâu; chừng nào cung cách làm việc lầm lì ít nói, lành như đất với đôi vai khổng lồ của gã còn làm người ta nể sợ, như mới đầu bao giờ cũng thế, thì gã ở; nhưng ngay khi họ lờn mặt và bắt đầu đối xử sàm sỡ với gã, như thể giờ đây họ đã đọc được vị của gã, là gã cuốn gói ra đi, bởi một cảm giác bí ẩn đáng sợ bỗng xâm chiếm gã, khiến gã đứng ngồi không yên. Một lần gã nấn ná hơi lâu; bấy giờ bốn thằng thợ hồ ở một công trường vào hùa với nhau định cho gã biết thế nào là lễ độ và âm mưu đẩy cho gã rơi từ tầng cao nhất của giàn dáo xuống; gã nghe thấy tiếng chúng cười khúc khích và rón rén đi đến sau lưng mình, thế là gã dốc hết sức bình sinh lao vào bọn chúng, đẩy một thằng ngã lăn lông lốc qua hai tầng lầu và cắt đứt tất cả gân tay của hai thằng khác. Việc gã bị trừng phạt vì vụ này là một sự kiện làm chấn động tâm hồn gã, theo lời gã kể lại. Gã bỏ xứ ra đi. Sang Thổ Nhĩ Kỳ, và quay trở lại, bởi thiên hạ khắp nơi đồng lòng chống lại gã; không một câu thần chú nào phá được mưu đồ của họ và lòng tốt cũng không.

Những lời lẽ ấy gã đã học thuộc lòng trong nhà thương điên và nhà tù; cả những mẩu vụn tiếng Pháp và tiếng Latinh mà gã gài vào những chỗ không thích hợp nhất trong khi nói, từ khi gã phát hiện ra rằng tài ăn nói chính là điều tặng cho kẻ thống trị cái quyền “phủ quyết” số phận gã. Cũng vì lý do đó trong các phiên xử gã cố uốn lưỡi nói một thứ ngôn ngữ cao siêu chọn lọc, gã phun ra những lời phát biểu đại loại như “cái đó hẳn phải làm cơ sở cho sự tàn bạo của tôi” hoặc “tôi hình dung ra mụ ta còn hung dữ hơn đánh giá thông thường của tôi về hạng đàn bà ấy”; nhưng nếu gã thấy cả những câu đó cũng không gây được ấn tượng mong muốn, thì không hiếm khi gã lại cương lên rất kịch và tuyên bố một cách hống hách rằng mình là một “người vô chính phủ trên lý thuyết”, hoàn toàn có thể được đám dân chủ xã hội cứu vớt, chỉ cần gã chịu nhận cái gì đó của những tên Do Thái bóc lột tận xương tủy quần chúng lao động kém hiểu biết: Ở đây gã cũng có một môn “khoa học”, một lĩnh vực trong đó các quan tòa thông thái vênh vang không thể theo kịp gã.

Thông thường cung cách ấy trước tòa mang lại cho gã đánh giá “có trí thông minh khác thường”, sự chú ý đầy nể trọng trong phiên xử và một bản án nặng hơn, song lòng tự ái được ve vuốt của gã vẫn coi những phiên xử này là giai đoạn vinh quang của đời mình. Vì vậy gã không thù ai thậm tệ hơn cái đám bác sĩ tâm thần, họ cho rằng có thể xử lý bản chất cực kỳ phức tạp của gã bằng vài từ ngữ ngoại lai, cứ như thể đối với họ đó chỉ là chuyện thường ngày không bằng. Như thường thấy trong những trường hợp thế này, dưới sức ép của hệ thống pháp luật vô hình từ trên tác động xuống, các giám định y khoa về tình trạng tâm thần của gã khác xa nhau, và Moosbrugger không bỏ lỡ cơ hội trong quá trình xử án để chứng tỏ trước công chúng sự trên tài của mình đối với các bác sĩ tâm thần và để vạch mặt họ là những cái thùng rỗng kêu to, những tên lừa đảo dốt nát, và chỉ cần gã giả đò chút xíu thôi thì họ sẽ phải nhận gã vào nhà thương điên thay vì tống vào nhà đá, là nơi đúng ra gã phải vào. Bởi gã không chối cãi tội lỗi của mình, gã chỉ muốn hiểu đó là những rủi ro của một triết lý sống lớn lao. Điều cốt yếu là những mụ đàn bà cười khúc khích kia vào hùa với nhau chống lại gã; tất cả bọn họ đều có tình nhân trẻ bám váy, và bỏ ngoài tai lời nói thẳng thắn của một người đàn ông đứng đắn, thậm chí còn coi đó là điều sỉ nhục. Gã đã tìm hết cách tránh mặt họ để khỏi bị khiêu khích; nhưng không phải lúc nào cũng tránh được. Có những ngày người đàn ông thấy đầu đặc như bí và không thể làm được việc gì, vì hai bàn tay nhớp nháp mồ hôi, tâm trạng bồn chồn bất ổn. Vậy là người ta phải đầu hàng số phận, và người ta có thể biết chắc ngay từ bước đầu tiên rằng người ta sẽ gặp phải, xa tít trên đường như lính tuần tiễu tiên phong được những mụ khác cử đi, cái thứ thuốc độc di động ấy, một mụ đàn bà lừa lọc, lén cười vào mũi người đàn ông trong khi õng ẹo làm người ta mềm lòng và giở trò đóng kịch để che mắt người ta, nếu không phải còn làm hại người ta một cách tệ hại hơn nhiều bằng sự vô liêm sỉ của mụ!

Và cái kết cục của đêm hôm ấy cũng đến như vậy, một đêm rượu chè vô tích sự, ồn ào để làm dịu đi cảm giác bất ổn bên trong. Cả thế gian dường như bất ổn, ngay cả khi người ta không say. Những bức tường hai bên đường chao đảo như những tấm phông, nấp đằng sau là cái gì đó chỉ chờ một hiệu lệnh để bước ra sân khấu. Ở ngoài bìa thành phố thì yên tĩnh hơn, người ta bước ra ngoài cánh đồng được ánh trăng chiếu sáng. Ra tới đó Moosbrugger phải quay lại đi theo một đường vòng để trở về nhà, và kìa, bên cạnh cây cầu sắt, ả gái nọ bắt chuyện với gã. Đó là một đứa con gái như những đứa vẫn hay bán thân ngoài ruộng cho đám đàn ông, một con hầu gái trốn chủ bỏ chỗ làm, thân hình còi cọc chỉ thấy có hai con mắt chuột mời chào láo liên dưới tấm khăn đội đầu. Moosbrugger xua ả đi và tăng nhịp bước nhanh hơn; nhưng ả bám theo năn nỉ xin gã đưa ả về cùng. Moosbrugger rảo bước, đi thẳng, rẽ vào góc phố, cuối cùng chẳng biết làm sao cứ lộn đi lộn lại một chỗ; gã sải những bước dài, và ả chạy bên cạnh gã; gã đứng im tại chỗ, và ả cũng đứng lại như một cái bóng. Gã kéo ả theo mình, như thế đấy. Thế rồi gã còn thử tìm cách đuổi ả đi một lần nữa; gã quay lại và nhổ hai bãi nước bọt vào mặt ả. Nhưng chẳng được tích sự gì; ả dai như đỉa.

Chuyện ấy xảy ra trong cái công viên rộng hàng tiếng đồng hồ mà họ phải băng qua quãng hẹp nhất. Đầu tiên Moosbrugger đinh ninh là ả gái phải có một gã bảo kê quanh quẩn gần đó; nếu không thì ả lấy đâu ra can đảm để đeo theo gã mặc dù đã bị gã đuổi đi? Gã sờ vào con dao găm trong túi quần, vì người ta muốn chơi gã, có lẽ còn muốn đánh úp gã; đằng sau các mụ đàn bà luôn luôn có thằng đàn ông giấu mặt để chơi khăm người khác. Hơn nữa chẳng phải trông ả giống như một người đàn ông cải dạng đấy ư? Gã thấy những bóng đen chuyển động và nghe tiếng cành cây răng rắc, trong khi con mụ lén lút bám theo gã cứ như một chiếc đồng hồ quả lắc sau một khoảng thời gian nhất định lại nhắc lại lời xin xỏ của mình; nhưng chẳng có cái gì xuất hiện để gã trút ra sức mạnh kinh người của gã, và dần dần tình trạng không có gì xảy ra đầy bí hiểm bắt đầu làm gã thấy sợ.

Khi họ về tới dãy phố đầu tiên còn rất vắng trên trán gã mồ hôi đã đọng thành cục, và gã run cầm cập. Gã không nhìn ngang nhìn ngửa mà rẽ ngay vào một quán cà phê còn mở cửa. Gã nốc một ly cà phê đen và ba ly cognac và được phép ngồi yên thân một lúc, khoảng chừng mười lăm phút; nhưng khi gã trả tiền thì cái ý nghĩ kia lại trỗi dậy, gã biết làm gì đây, nếu ả kia vẫn đứng đợi ngoài đường? Có những ý nghĩ giống như dây chão, chúng cuốn thành những cái thòng lọng vô tận quanh chân tay người ta. Và vừa đặt vài bước chân ra ngoài đường phố tối tăm gã đã cảm thấy đứa con gái kia bên cạnh. Giờ thì nó hoàn toàn không còn nhẫn nhục mà hỗn xược và tự tin; nó cũng không xin xỏ nữa mà chỉ lặng thinh. Thế là gã nhận ra mình sẽ không bao giờ thoát được nó, vì chính gã kéo nó theo mình. Một nỗi tởm lợm đến phát khóc dâng đầy cổ gã. Gã đi, và cái bóng nhằng nhằng hơi tụt lại sau cũng lại là gã. Đúng y như gã vẫn luôn luôn gặp cả đoàn người. Có một lần gã đã tự khoét một cái dằm gỗ to ra khỏi chân, vì gã không đủ kiên nhẫn đợi bác sĩ; tương tự như vậy giờ đây gã lại cảm thấy con dao của gã, nó nằm dài dài cưng cứng trong túi gã.

Nhưng với một cố gắng tinh thần gần như siêu việt Moosbrugger còn nghĩ ra một lối thoát nữa. Phía sau bức ván ngăn chạy dọc lề đường có một bãi chơi thể thao; ở đó người ta không bị nhìn thấy, thế là gã rẽ ngay vào. Gã ngả lưng nằm xuống nền cái chòi bán vé tẻo teo và rúc đầu vào góc tối nhất; cái tôi thứ hai mềm mại đáng nguyền rủa nằm xuống bên cạnh gã. Gã làm bộ ngủ thiếp đi, định sau đó sẽ lẻn dậy bỏ trốn. Nhưng khi gã nhẹ nhàng mò mẫm bò giật lùi ra đến bên ngoài thì nó đã lại ở đó và choàng tay ôm lấy cổ gã. Gã cảm thấy vật gì răn rắn trong túi ả hay túi gã; gã lôi nó ra. Gã không biết đó là cái kéo hay con dao nữa; gã cứ thế đâm. Họ bảo rằng đó là một cái kéo, nhưng đó chính là con dao của gã. Ả ngã lộn đầu vào trong chòi; gã lôi ả ra ngoài một quãng trên mặt đất mềm, và đâm tiếp vào ả cho đến khi gã thoát hẳn ả. Rồi gã đứng có dễ mười lăm phút đồng hồ bên cạnh và ngắm nhìn ả, trong khi đêm lại bình yên và phẳng lặng một cách tuyệt vời. Giờ thì ả không thể sỉ nhục đàn ông và đeo theo gã nữa. Cuối cùng gã vác cái xác qua đường và đặt nằm trước một bụi cây, để ả sớm được người ta tìm thấy và chôn cất, như lời quả quyết của gã, vì giờ đây ả không làm gì nên tội nữa.

Trong phiên xử Moosbrugger đã bày ra cho luật sư bào chữa của gã vô số khó khăn không thể lường trước được. Gã ngồi chàng hảng trên ghế bị cáo như một khán giả và lớn tiếng hoan hô công tố viên, mỗi khi ông này viện dẫn điều gì đó chứng tỏ gã là mối hiểm họa cho cộng đồng, danh hiệu gã coi là xứng đáng với gã, và hào phóng cho điểm tốt các nhân chứng khai rằng họ không bao giờ nhận thấy ở gã biểu hiện gì là loạn trí. “Anh thật là một tay khôi hài”, thỉnh thoảng vị chánh án điều khiển phiên tòa lại phỉnh gã và cần mẫn kéo cái thòng lọng bản cáo trạng tròng vào cổ gã cho nó xiết chặt thêm. Rồi Moosbrugger đứng sững sờ một thoáng như con bò tót bị dồn đuổi trong đấu trường, mắt ngơ ngác nhìn những kẻ ngồi quanh và nhận ra trên nét mặt họ điều gì đó gã không hiểu nổi, đó là gã lại một lần nữa tự tay đào sâu hơn tội lỗi của chính mình.

Điều đặc biệt thu hút Ulrich ở đây là chiến thuật bào chữa của gã, có thể thấy ngay là đặt trên cơ sở một kế hoạch hết sức mù mờ. Gã không hề có ý định giết người, cũng không được phép bị coi là bệnh hoạn vì lý do nhân phẩm; dục vọng cũng hoàn toàn không thể nói đến ở đây, mà chỉ có sự ghê tởm và khinh bỉ; vậy thì hành vi này chỉ là tội ngộ sát, bị khiêu khích bởi thái độ đáng ngờ của ả đàn bà, “một biếm họa đàn bà” theo cách diễn đạt của gã. Nếu người ta hiểu đúng gã, thậm chí gã còn đòi hỏi, thì phải coi vụ án mạng gã gây ra là một vụ án chính trị, và thỉnh thoảng gã làm cho người ta có ấn tượng rằng không phải gã đấu tranh cho bản thân mình mà cho cả hệ thống pháp luật. Ngược lại chiến thuật mà quan tòa áp dụng là một chiến thuật thông thường, chỉ cốt vạch mặt những cố gắng gian trá một cách thô thiển của tên sát nhân muốn trốn tránh trách nhiệm. “Tại sao anh lau hai bàn tay dính máu? – Tại sao anh vứt con dao đi? – Tại sao sau khi gây án anh thay quần áo và cả đồ lót? – Vì hôm ấy là chủ nhật? Chứ không phải vì quần áo anh vấy máu? – Tại sao anh đi dự một cuộc vui? Vậy ra sự việc này không cản trở anh vui chơi? Anh có cảm thấy hối hận chút nào không?” Ulrich thấy thông cảm với thái độ tuyệt vọng sâu sắc của Moosbrugger trong những lúc như thế, khi gã ai oán buộc tội sự khiếm khuyết về học vấn của mình, nguyên nhân khiến gã không tháo gỡ nổi những nút rối bời của cái lưới dệt bằng những điều không thể hiểu này, nhưng lời lẽ của quan tòa chỉ nhấn mạnh ý nghĩa trừng phạt: “Anh lúc nào cũng tìm cách đổ lỗi cho người khác!” Ông tòa này tóm chung tất cả lại thành một mối, cả các báo cáo của cảnh sát và tội du đãng, để quy hết thành tội của Moosbrugger; song đối với gã tất cả những cái đó là những vụ việc riêng lẻ không dính dáng gì đến nhau và mỗi vụ có một lý do khác nằm ngoài Moosbrugger, rải rác ở đâu đó khắp thế giới. Trong mắt quan tòa các tội của gã sinh ra từ gã, trong mắt gã thì chúng bay tới gã như chim chóc đáp xuống cây. Đối với ông tòa Moosbrugger là một trường hợp đặc biệt; đối với riêng mình gã là cả một thế giới, và rất khó nói ra điều gì đó thuyết phục về một thế giới. Đó là hai chiến thuật đối chọi nhau, có hai thước đo và logic khác nhau; nhưng Moosbrugger ở vị thế bất lợi hơn, bởi những lý do mơ hồ kỳ quặc của gã một người thông minh hơn cũng không thể nghĩ ra được. Chúng nảy ra trực tiếp từ sự cô đơn rối loạn của cuộc đời gã, và trong khi tất cả những cuộc đời khác tồn tại hàng trăm lần – được nhìn nhận như nhau bởi chủ nhân cũng như tất cả những người chứng kiến – thì cuộc đời thật của gã chỉ tồn tại cho một mình gã. Nó là một làn hơi mỏng manh không ngừng biến dạng và thay đổi hình dáng. Đương nhiên gã có thể hỏi các vị quan tòa rằng, cuộc đời của họ trong bản chất có khác gì không? Nhưng gã chẳng hề nghĩ tới chuyện đó. Trước pháp luật phơi bày tất cả mọi điều, có trình tự rất tự nhiên, nhưng trong gã chúng nằm hỗn loạn một cách vô nghĩa, và gã cố gắng với nỗ lực tối đa để nhét vào cho chúng một ý nghĩa không thua kém phẩm giá của đối thủ kiêu kỳ của gã. Quan tòa tỏ ra gần như nhân từ, sẵn lòng giúp đỡ gã và cung cấp cho gã các khái niệm pháp lý, ngay cả khi đó là những từ ngữ mang lại cho Moosbrugger hậu quả kinh khủng nhất.

Đó là một cuộc vật lộn của cái bóng với bức tường, và cuối cùng cái bóng Moosbrugger chỉ còn chập chờn méo mó một cách gớm ghiếc. Ulrich tới dự phiên xử cuối cùng này. Khi chánh án đọc bản giám định với lời kết luận gã phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình thì Moosbrugger đứng lên trịnh trọng tuyên bố trước tòa: “Tôi hài lòng với điều đó và đã đạt được mục tiêu của mình.” Đáp lại lời gã chỉ là những ánh mắt mỉa mai không tin khắp bốn xung quanh, và gã tức giận thêm vào: “Qua đó, vì tôi đã chế ngự bản cáo trạng, tôi rất hài lòng với thủ tục luận chứng!” Chánh án, giờ đây bỗng trở nên rất nghiêm khắc và hình sự, gạt đi với nhận xét rằng, việc gã có hài lòng hay không đối với tòa án hoàn toàn không quan trọng. Rồi ông ta đọc cho gã nghe bản án tử hình, y như thể trò hề Moosbrugger bày ra mua vui cho tất cả những người có mặt trong suốt quá trình xử án bỗng cần phải đáp lại một cách nghiêm túc. Moosbrugger không nói gì, để khỏi có vẻ sợ hãi. Rồi phiên xử kết thúc, và thế là hết. Lúc bấy giờ tinh thần gã mới hoang mang; gã chùn bước, bất lực trước sự cao ngạo không muốn hiểu; gã ngoái cổ lại, vì những người lính áp giải đã đẩy gã đi ra, cố tìm lời, giơ hai tay lên trời và kêu to bằng một giọng thống thiết trong lúc cố ngăn những cú thúc của mấy người lính gác: “Tôi hài lòng, mặc dù tôi phải thú nhận rằng các vị đã kết án một người mất trí!”

Như thế là không nhất quán; nhưng Ulrich ngồi lặng người nín thở. Rõ ràng gã mất trí, và cũng rõ ràng như thế là mối tương quan lệch lạc giữa các cơ sở của sự tồn tại của chính chúng ta. Nó bị chặt ra từng khúc và tối như hũ nút; nhưng trong đầu Ulrich chẳng biết từ đâu chợt lóe lên ý nghĩ: nếu toàn thể nhân loại có chung một cơn mộng mị, thì phải nảy nòi ra một Moosbrugger. Chàng chỉ trở về với hiện tại khi “tên thầy cãi dở người mạt hạng”, như Moosbrugger vô ơn trong quá trình xử án có lần gọi luật sư bào chữa của mình như thế, vin vào một vài chi tiết nào đó đòi nộp đơn kháng án vô hiệu lực[2], trong khi thân chủ to xác của hai người bị giải đi.

Nguyễn Hồng Vân dịch

(Dịch từ nguyên bản tiếng Đức Der Mann ohne Eigenschaften. Cảm ơn Phanbook đã đồng ý cho Zzz Review đăng đoạn trích này)

[1] Ở châu Âu thời trước có tục lệ người thợ thủ công sau khi học nghề xong phải đi hành nghề dạo nhiều nơi một thời gian để thu thập kinh nghiệm nghề nghiệp và kinh nghiệm sống, sau đó họ mới có quyền học tiếp lên thợ cả.

[2] Một công cụ pháp lý trong luật hình Áo, tương đương giám đốc thẩm.

Chấm sao chút:

Đã có 2 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*