Jenny Erpenbeck, “Cô bé”

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Death March của Jan Hartman
Thời gian đọc: 16 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 11: Về văn học Đức, ngày 31-7-2022)

Jenny Erpenbeck (1967) sinh ra ở Đông Berlin, là một nhà văn Đức đương đại nổi tiếng. Năm 2015, bà được trao giải Independent Foreign Fiction, tiền thân của giải International Booker, cho cuốn tiểu thuyết The End of Days do Susan Bernofsky dịch ra tiếng Anh.

Cuốn tiểu thuyết Heimsuchung (bản dịch tiếng Anh Visitation do Susan Bernofsky thực hiện) viết về một căn nhà nằm cạnh hồ bên ngoài Berlin nơi diễn ra cuộc đời đầy xáo động của mười hai cá nhân. Phần trích dưới đây, “Cô bé” là một chương trong cuốn tiểu thuyết này, có thể đọc như một truyện ngắn đơn lẻ. Đen tối, ám ảnh, đây có thể coi là một trong những dòng văn xuất sắc nhất viết về Holocaust.

Giờ không còn ai biết em đang ở nơi đây. Xung quanh em là màu đen kịt, và lõi của cái hốc đen này chính là em. Không có lấy một vết nẻ để ánh sáng lọt vào, đặng cứu lấy em, và thế là cũng chẳng có thứ gì có thể phân định em với bóng tối. Em mong lắm một thứ bằng cứ nào đấy rằng mình đang ở đây, nhưng chẳng có gì. Em, Doris, con của bố Ernst và mẹ Elisabeth, mười hai tuổi, sinh ở Guben. Giờ những từ ngữ ấy thuộc về ai nữa trong màn tăm tối này? Em ngồi trên cái thùng gỗ nhỏ, đầu gối tựa vào bức tường đối diện, ngả chân sang trái, rồi lại sang phải, để đôi chân đỡ ngủ quên, thời gian đang trôi. Có lẽ là thời gian đang trôi. Thời gian có lẽ đang kéo em dần xa dần khỏi đứa bé gái ngày nào: Doris, con của bố Ernst và mẹ Elisabeth, mười hai tuổi, sinh ở Guben. Chẳng còn ai ở đây để bảo với em rằng liệu những từ ngữ ấy có bị bỏ rơi hay ngẫu nhiên tìm ra cái hốc này, cái đầu này, hay bảo cho em biết liệu những từ ấy có thực sự thuộc về em hay không. Thời gian dấn vào giữa em và bố mẹ, giữa em và những con người khác, thời gian đã kéo lê em đi và nhốt em vào cái hốc tăm tối này. Thứ duy nhất có màu ở đây là những màu sắc em nhớ được giữa những mịt mù tăm tối xung quanh, lõi của mình thuộc về cái gì, em cất giấu những kỷ niệm đầy màu sắc trong cái đầu bị ánh sáng chối bỏ của mình, những kỷ niệm thuộc về ai đó mà em từng là. Có thể từng là. Em từng là ai? Đầu của em là đầu của ai? Những ký ức của em thuộc về ai? Có phải thời gian đen tối cứ trôi và trôi, ngay cả khi một con người chẳng còn làm gì nữa ngoài ngồi lặng ngắt ở đây, có phải thời gian cứ trôi, kéo theo một đứa trẻ đã trở nên trơ khấc với thời gian?

Gurkenberg và Schwarzes Horn, Keperling, Hoffte, Nackliger và Bulzenberg. Và cả Mindachs Berg. Khi người bác bế em lên để ôm lấy cái bướu trên thân cây thông, em nghĩ trên này cao thật đấy, đến mức mình có thể nhận ra tất cả những ngọn núi dưới nước mà người làm vườn đã kể tên, những cái tên giờ em vẫn nhớ. Cao nhất là tháp nhà thờ của thành phố bị chìm, đỉnh của nó cao đến mức chong chóng gió mấp mé những con sóng. Sâu bên dưới, chỗ nước êm, trên những đường phố và quảng trường, em nhìn ra cả những cư dân nếu mà nheo mắt, họ đi lại, đứng ngồi, tựa vào thứ gì đó – xuyên qua mặt hồ lấp lánh, em nhìn thấy những đám đông cư dân tĩnh lặng của thành phố chìm dưới nước, những người di chuyển tự nhiên mà không cần thở, đi lại đứng ngồi trong đời sống vĩnh hằng đó, không khác gì cách họ đã sống trên mặt đất. Cô bé ngồi xổm trên cây thông, bám chặt vào thân cây xù xì, và từ đây em nhìn đàn cá bơi trong bầu trời ngập nước bên trên thành phố. Sau đó bác bế em xuống, bàn tay em đầy nhựa thông dính dấp, bố lấy cát để chà nhựa thông đi.

Cô bé ngồi đó trong cái hốc tối, lâu lâu lại cố ngồi thẳng lên, và cụng đầu vào trần, em mở to mắt nhưng sao mà chẳng thấy nổi những bức vách, xung quanh tối đến mức cô bé không tài nào nhận ra cơ thể mình đặt ở đâu, trong đầu hiện lên kỷ niệm của những ngày mà cả tầm mắt em ngập tràn màu sắc. Những đám mây, bầu trời và lá cây, lá cây sồi, lá liễu rủ xuống như mái tóc, đất đen giữa các ngón chân, gai thông khô và cỏ, quả thông, vỏ cây xù, mây, trời và lá, cát, đất, nước và những tấm ván gỗ trên bến tàu, mây, trời và làn nước lấp loáng ánh mặt trời, vùng nước chìm trong bóng tối bên dưới ván gỗ mà em nhìn thấy khi nằm sấp trên miếng ván âm ấm, phơi khô người sau khi bơi. Sau khi bác đi, ông vẫn đưa em đi ra khơi thêm hai mùa hè nữa. Hẳn là thuyền của ông vẫn đậu trong xưởng sửa chữa tàu thuyền của làng. Đã bốn mùa đông. Giờ đây, chẳng cần biết là ngày hay đêm, cô bé với lấy bàn tay ông đang chìa về phía mình, trèo từ bến lên mép thuyền, nhìn ông cởi nút buộc thuyền vào bến rồi ném dây thừng lên trên.

Tất cả cửa sổ của toà nhà trên con đường Nowolipie nơi cô bé đang trốn đều mở rộng, chỉ vài ngày trước đây, mọi căn phòng hẵng còn đầy những người thi nhau hít thở, nhưng giờ mọi thứ tuyệt đối lặng yên. Người trong phòng đã đi hết, và dưới phố cũng chẳng còn ai đi lại, chẳng còn ai kéo xe đẩy, chẳng ai nói, hét hay khóc, tiếng gió cũng chẳng còn vi vu, không có tiếng sập cửa sổ, không có tiếng mở cửa. Khi cô bé ngồi trong cái hốc tối, ngả chân sang trái rồi lại sang phải, khi bên ngoài cái hốc mọi thứ trong căn hộ bất động, và bên ngoài căn hộ dưới đường mọi thứ bất động, và cả ngoài con đường này trên mọi con đường khác, bất động, cô bé nghe thấy tất cả những âm thanh từng ở đây: tiếng lá cây lao xao, tiếng sóng vỗ, tiếng còi tàu, tiếng mái chèo nhấn xuống nước, những người thợ sát vách ồn ào, một cánh buồm phần phật. Từ cung Đô trưởng ta cứ lên dần theo các cung Sol trưởng, Rê trưởng, La trưởng, Mi trưởng và Si trưởng, cho đến tận cùng là cung Fa thăng trưởng, cứ mỗi lần lại thêm một nốt thăng. Nhưng từ cung Fa thăng (trưởng) trở về Đô chỉ một bước nhỏ thôi. Từ chơi tất cả các phím đen sang chơi tất cả các phím trắng chỉ là một chuyển tiếp cực ngắn, ngay trước khi cháu trở về cung Đô trưởng dễ ợt, mọi thứ đều đầy dẫy các nốt thăng. Bác giải thích với em như vậy trước khi đi Nam Phi, bác Ludwig, và cũng hệt như thế, Doris ở thì hiện tại, ngồi trong sự tĩnh lặng và trống rỗng tuyệt đối, cho ký ức trồi lên về cái thời mọi thứ vẫn còn ở đây.

Giờ chỉ còn một chặng nhỏ còn tồn tại trước mắt cô bé. Hoặc em chết đói ở đây, trong nơi trú ẩn này, hoặc ai đó tìm ra em và bị quẳng lên xe chở đi. Chẳng có ai từng biết cô bé là ai biết em đang ở đây. Điều này khiến chặng này chẳng còn nghĩa lý gì. Từng bước em đã tự mình tới nơi này, gần đến cái kết, nói cách khác, con đường em đi hẳn là đã có một khởi đầu, và ở vào cái thời điểm khởi đầu này ắt hẳn em chỉ cách cuộc sống một khoảng bé tí giống như hiện thời em đang cách cái chết. Điểm khởi đầu hẳn trông không khác gì sự sống, nó ở ngay đâu đó, và không thể nhận ra đó là phần đầu của quãng đường dẫn em đến nơi chỉ mình em biết. Khi cây liễu lớn lên và những cành lá chạm vào lũ cá, em sẽ tới đó thăm anh chị họ, và em sẽ nhớ lại ngày mình giúp một tay trồng cây liễu xuống. Có phải hồi ấy cuộc sống còn vẹn nguyên? Khi nghĩ về bác Ludwig, em vẫn thấy ông cầm cái thuổng đứng bên bờ hồ. Khi nghĩ về cô Anna – vị hôn thê của bác, em chợt nhớ ra cô Anna luôn bảo em hãy nhẹ đi nào mỗi khi cô Anna bế em lên. Làm như cô bé có thể tự giảm cân nặng chỉ bằng ý nghĩ vậy. Khi ông em liếc nhìn chồng khăn lau tự sản xuất trước khi khoá trái cửa nhà tắm công cộng rồi để lại chìa khoá trong ổ cho người kế thừa, em đã nghĩ về con thuyền của ông lần đầu tiên sẽ nằm lại trên cát vào mùa hè này. Vào mùa thu, bố mẹ gửi em đến Berlin để ở với dì, mong em không còn bị trêu chọc ở trường vì dòng máu Do Thái. Suốt hai năm, mỗi Chủ nhật, luôn luôn sau buổi lễ ở nhà thờ tại Hohenzollern-platz, em ngồi bên cửa sổ nhà bếp của dì và viết thư cho bố mẹ, nhưng từ thứ Hai đến thứ Bảy thì không viết, tiết kiệm phong bì và bưu phí. Bữa tối cuối cùng em ăn với ông bà, ông bà đã bị tập trung hết ở Levetzowstrasse tại Berlin-Moabit và rồi bị đưa đi, dì đã làm món ớt chuông nhồi. Và đêm giao thừa, một người bạn đã tặng em một cái bát nhỏ đựng đầy sợi bông và hạt thiết đậu. Nếu ta chăm tưới nước lên sợi bông, một cánh rừng nho nhỏ sẽ nảy mầm từ hạt thiết đậu. Trong buổi thu len lớn vào tháng Một, em chần chừ không nộp không chỉ những chiếc mũ và tấm khăn to, mà cả tấm khăn nhỏ em hay buộc thành băng đô, ít nhất giữ được đôi tai ấm áp, nhưng nhỡ có ai đó thấy thì sao? Khi visa đi Brazil của cả nhà cứ bị trì hoãn mãi, em bắt đầu đi học và mang giày da mỏng thay vì mang bốt ở thời tiết -12 độ C, tôi luyện bản thân, chuẩn bị cho việc Ba Lan chắc chắn lạnh hơn Berlin. Em phải đốt lá thư cuối cùng của bố đi, mẹ viết vậy, phòng trường hợp lây nhiễm. Luật cho phép cô bé đi tàu về nhà dự đám tang bố vẫn chưa được ban hành lúc đó. Cái hồ nơi cơ ngơi từng thuộc về bác em nằm trên đó và là nơi em chơi hai mùa hè với ông bà sau khi bác rời đi nằm ở chính giữa Berlin và Guben. Em, Doris, con của bố Ernst và mẹ Elisabeth, mười hai tuổi, sinh ở Guben, lúc đó đã nửa đường xa khỏi sự sống, hay hơn, hay kém?

Giờ em phải đi tè, nhưng không thể rời cái hốc được, đó là lời mẹ nói trước khi đi làm. Mẹ sẽ không quay lại nữa, cũng như mọi cư dân trong căn hộ đã đi mất, mọi cư dân của toà nhà trên đường Nowolipie đã đi mất, và mọi cư dân trong cái quận này đã đi mất. Quận này không còn nghi ngờ gì đã bị cô lập, vì nó tĩnh lặng tuyệt đối rất lâu rồi. Chừng nào những câu chữ này vẫn còn, em vẫn tên là Doris, và em vẫn tồn tại: Doris, con của bố Ernst và mẹ Elisabeth, mười hai tuổi, sinh ở Guben. Nên em đứng dậy, cụng đầu vào trần cái hốc nơi em đang trốn và cố gắng đi tè làm sao để miếng ván em đang ngồi bên trên không bị ướt.

Sienna, Pańska và Twarda, Krochmalna, Chłodna, Grzybowska, Ogrodowa, Leno và Nowolipie, nơi cô bé đang trốn, rồi Karmelicka, Gęsia, Zamenhofa và Miła. Khi ta chết năm mười hai tuổi, có phải ta bước vào tuổi già sớm hơn không? Mọi thứ cứ ít dần đi, họ phải bỏ lại ngày càng nhiều hành lý, hoặc không thì chúng bị tước khỏi họ, như thể họ quá yếu ớt không mang theo nổi những thứ từng là một phần cuộc sống, như thể ai đó đã buộc họ phải bước vào tuổi già bằng cách tước đi tất cả phần đó. Hai tấm chăn len họ có – không có nệm lông – khẩu phần được phát cho năm ngày, đồng hồ đeo tay, túi xách, không giấy tờ. Đó là những gì mang theo, mẹ em, dẫn em bên cạnh, tiến vào khu Do Thái, mà ngay cả cái khu vực thành phố họ tới này vốn cũng đã bị tước đi nhiều thứ. Không có cây cối gì ở đây, đừng nói đến công viên, mà cũng chẳng có dòng sông nào, không có xe hơi, không có xe điện và chỉ còn lại có vài con đường tới nỗi đọc tên chúng nó còn không dài bằng đọc Kinh Lạy Cha. Mọi thứ vẫn là một thế giới có thể du hành bằng đi bộ, kể cả với một đứa trẻ. Và thế giới này lại ngày càng co lại khi cái kết gần đến. Đầu tiên khu Do Thái nhỏ bị dọn sạch và giải tán, giờ đến lượt phía Nam của khu lớn, phần còn lại cũng chẳng chóng thì chày. Đừng có hoang dã quá con, bố em luôn nói vậy mỗi khi em trượt trên sàn gỗ từ đầu này tới đầu kia căn phòng, giờ em là một đứa trẻ hoang dã ở nơi đây, nhưng hoang dã ở đây nghĩa là: không đi, thay vào đó là một cô bé khác, không đưa đầu ra để bị đếm, giả chết thay vì trình diện để bị chết, cố gắng sống sót mà không ăn uống gì. Chưa bao giờ trong đời cô bé lại hoang dã đến vậy, trong cái hốc này, em không nói, không hát, không thể đứng dậy và em ngồi đó, đập đầu gối vào bức tường. Em, Doris, con của bố Ernst và mẹ Elisabeth, mười hai tuổi, sinh ở Guben, một đứa trẻ hoang dã, một bà già mù và điếc gần như không thể di chuyển tứ chi được nữa.

Ở Brazil, bố em nói, con phải đội mũ để tránh nắng. Ở Brazil có hồ nước không ạ? Tất nhiên rồi con. Có cây cối không ạ? Cao gấp đôi ở đây. Thế cây đàn piano của mình thì sao ạ? Không vừa đâu, bố em nói và đóng cửa công ten nơ, giờ đang chứa bàn học của em với vài chiếc vali đựng ga gối và quần áo, giường với đệm và tất cả sách vở, bố đóng rồi khoá lại. Công ten nơ đó hẳn vẫn đang nằm ở một kho công ty vận chuyển nào đó tại Guben, nhưng đã lâu lắm rồi đến mức giường của em, nếu giờ em đến được Brazil, đã trở nên quá ngắn, và những váy vóc với tất tai áo sống đã thành chật quá. Căn hộ của họ ở Guben đã bị giải tán khi họ đóng gói đồ đi Brazil; sau đó cô bé bị đưa đến Berlin và địa chỉ của bố mẹ em, mỗi lần cô bé viết thư ngày Chủ nhật, lại thay đổi, từ khu tồi tàn của Guben tới khu còn tồi tàn hơn nữa. Nhưng miễn là vẫn hy vọng họ được phép di cư, thì bố mẹ hay cô bé cũng chẳng thấy phải vứt hết đi những kỷ niệm của mình khi chuẩn bị đồ cho hành trình sang Brasil có gì quan trọng lắm. Khi bố em nhận được thông báo phải đến trình diện để đi lao động cưỡng bức thi công đường cao tốc, chiếc tủ lạnh có khả năng chống chịu cái nóng của vùng nhiệt đới vẫn nằm trong công ten nơ ở kho vận chuyển. Chỉ sau khi bố chết, em mới rõ rằng khi họ đóng gói sự tồn tại hằng ngày ở Guben vào bóng tối này, thật ra đó là lời báo trước rằng sự tồn tại của chính họ cũng đang được đóng gói, và rằng cả hai sự tồn tại ấy đều kết thúc.

Nơi duy nhất còn có vẻ là chính mình tại giờ phút này, cô bé có thể cho là thế thậm chí từ trong cái hốc tăm tối, là nhà của bác Ludwig. Có lẽ đó là lý do em nhớ rõ vài ngày cuối tuần và hai mùa hè em từng sống ở đó hơn mọi thứ. Tại nhà bác Ludwig, em vẫn có thể đi từ cây này sang cây khác và trốn đằng sau mấy bụi cây, em có thể nhìn thấy hồ nước và biết rằng hồ nước vẫn ở đó. Và miễn là em vẫn nhớ được một thứ gì đó của thế giới này, em vẫn chưa phải ở nơi xa xôi lạ lẫm.

Và thật ra, mọi việc đã diễn ra mấy tuần trước, chính xác là vào ngày đó, tháng Sáu khi mẹ em tới Gęsia để bán cái đồng hồ đeo tay ở chợ đen, em thì đứng đợi tại quầy sách ở phố Karmelicka, phát hiện ra cuốn sách mẹ em từ chối mãi không cho em đọc, một cuốn tiểu thuyết với cái tên Thánh Gunther hay Người không quê hương, chính cái ngày ấy, em trên phố Karmelicka, vất vả để đứng vững giữa đoàn người đùn đẩy, lật cuốn sách và đọc và lấy làm vui vẻ vì người chủ của quầy sách lưu động ấy không có khả năng để ngăn em đọc sách mà không trả tiền, chính cái ngày đó, tất cả gia sản từ mái nhà Guben bị tháo dỡ khỏi công ten nơ theo trình tự ngược với cách cha mẹ em đã đóng gói hai năm trước đây nhằm chuẩn bị cho chuyến đi tới Brazil, tháo dỡ bởi Herr Carl Pluger và thanh tra trưởng Pauschel được phân công, tháo dỡ và chuẩn bị đem đi đấu giá. Chính trong cái ngày đó, khi em đứng rất lâu ở phố Karmelicka đọc sách, vì em không có đồng nào mà mua cuốn sách đó và, miễn là em vẫn đọc, em sẽ không phải nghĩ về món ớt chuông nhồi hay bánh pancake với mứt táo hay thậm chí một lát bánh mỳ với bơ và muối, chính xác vào ngày đó tháng Sáu, độ hai tháng kể từ ngày em đặt chân đến Warszawa, chiếc giường tuổi thơ từ Guben, lô số 48, được bán mà em không mảy may hay biết, với giá 20 mark cho Frau Warnitscheck ở số 17 phố Neustadter, bình pha ca cao, lô số 119, bán cho Herr Schulz ở số 42 Alte Poststraße, sống cách họ có mấy toà nhà, và chiếc đàn concertina của bố em, lô số 133, bán được 36 mark cho Herr Moosmann, số 6 phố Salzmarkt. Vào buổi tối hôm đó khi em trở về khu ngay trước giờ giới nghiêm, buổi tối của một trong những ngày dài nhất năm 1942, ngày mà cơn gió nhẹ đầu hạ thổi bay những tờ nhật trình đậy thi thể người chết và mùi thối rữa ngập tràn không khí, vào buổi tối khi đèn hẵng còn sáng và cô bé đã tập làm quen với những gì diễn ra ở đây, em đi hình zigzag về nhà để tránh vấp phải những cái xác, vào buổi tối của cái ngày hôm ấy, như mọi buổi tối khác, tiếng khóc của trẻ con mất mẹ chói lói khắp hành lang toà nhà, vào cái buổi tối thứ Hai ấy, mẹ em cho em ăn món khoai tây vừa đổi bằng đồng hồ đeo tay, khả năng rất cao là những miếng khoai cuối cùng em được ăn trong đời, chính trong tối hôm ấy, những tấm ra trải giường từng thuộc về ông Ernst, bà Elisabeth và bé Doris, đấu giá từng cặp với bước giá từ 8 mark 40 tới 8 mark 70, lô 177 tới lô 185, giờ được gập gọn gàng trong ngăn đựng ga gối của nhà Wittger, Schulz, Muller, Seiler, Langmann và Bruhl, Klemker, Frohlich và Wulf.

Tối tăm như ở đây, có lẽ cũng chỉ tối như bên dưới cái thuyền lật úp gần bờ mà cậu bé trong làng cố kéo về cầu cảng. Trước khi cậu đi về làng, cô bé đưa cậu tới bụi mâm xôi bên con đường cát. Sau đó cậu trả ơn bằng cách dạy em bơi. Ngay cạnh bờ, nơi nước nông đến độ hai bàn chân em cọ vào đáy biển khi đang bơi, lần đầu em trải nghiệm cảm giác nước làm em nổi lên. Đó cũng là mùa hè mà người phụ nữ sát vách chỉ cho em cách bắt cua. Liệu cua còn tồn tại không nhỉ? Hồ nước, con thuyền, bụi mâm xôi? Liệu cậu bé còn ở đó không khi mà em chẳng thể nhìn thấy cậu? Liệu còn ai ngoài em vẫn còn ở trên thế giới này? Và rồi một điều mà em quên không cân nhắc suốt thời gian qua trở nên rõ ràng: Nếu không còn ai biết em còn tồn tại, ai sẽ biết rằng có một thế giới mà không còn em ở đây?

Em không nhận ra sàn của toà nhà cũ nơi em lẩn trốn này không được bằng phẳng lắm, và vì tối quá nên em chẳng nhìn thấy gì, em không nhìn thấy dòng nước nhỏ chảy quanh co từ dưới cánh cửa chỗ em trốn đến cái nhà bếp bỏ hoang của căn hộ bỏ hoang tại phố Nowolipie bỏ hoang tại Warszawa. Khi Biệt kích chiếm đóng dưới sự chỉ huy của lính Đức tiếp quản căn hộ, dòng nước đã tạo nên một vũng nhỏ trên sàn nhà bếp.

Lần cuối cùng giờ em đi bộ ngược lên hướng Bắc về Zamenhofa với mặt trời chiếu sau lưng. Những người đi bên cạnh, em chẳng biết ai vào ai, tất cả đều bị vận may bỏ đi, giờ họ cuối cùng cũng trên đường về nhà mãi mãi. Trên những con đường trống vắng mà đoàn người đi qua hết khu này đến khu khác, những chiếc bàn với giường tả tơi nằm rải rác, những gì những người đi đoạn đường này trước họ bỏ lại trên nền đá lát gạch trong bóng tối của những toà nhà. Khu Do Thái cũng không lấy gì làm to lắm, cô bé biết khá chính xác em đang bỏ lại gì phía sau. Đọc tên vài con đường mà còn không dài bằng bài Kinh Lạy Cha.

Schmeling, họ kể là, đặt một thân cây vắt qua vai và đi như thế toàn bộ quãng đường từ cái chòi nghỉ hè ở thị trấn suối nước nóng ngay gần sang hồ bơi trong làng. Đó là để tăng sức mạnh cho cánh tay, cậu bé trong làng bảo với em như vậy. Em bảo rằng em chẳng tin cậu ta, và cậu bé nằng nặc đó là sự thật, kể rằng cậu đã ở đấy khi Schmeling tới nơi mà. Ở hồ bơi, Schmeling ném khúc cây xuống như thể nó làm bằng giấy, anh ấy vươn tay và nhảy ùm xuống nước, bơi xa đến mức ta không còn nhìn thấy anh nữa. Một người làng gào lên: Chúa ơi, Schmeling của chúng ta chết đuối! Anh người làng tin thế thật và huy động mọi người bơi theo tay võ sĩ để cứu anh ta. Nhưng đó chỉ là một trò đùa mà thôi.

Trong số một trăm hai mươi người ở trong toa xe lửa, khoảng ba mươi người chết ngạt trong cuộc hành trình hai tiếng. Là một đứa trẻ mất mẹ, em bị coi là thứ phiền phức sẽ làm ảnh hưởng đến sự vận hành trôi chảy, nên ngay khi họ tới nơi, em bị đẩy ra bên cạnh với những người già không còn đi được nữa và những người đã hoá điên trên quãng đường, em bị đẩy qua một chồng quần áo cao như núi – như núi Nackliger, em không thể đừng nghĩ và nhớ lại nụ cười của chính mình đã từng nở vào cái ngày người làm vườn kể cho em nghe cái tên hài hước của dãy núi dưới nước. Trong hai phút, một bầu trời xanh nhợt điểm xuyết mây trắng trải ra trước mắt em, y như cách bầu trời phủ bóng xuống mặt hồ trước khi chuyển mưa, trong hai phút, em hít sâu mùi hương của những cây thông mà em quá quen thuộc, nhưng chẳng thấy cây thông nào vì hàng rào cao quá. Có phải em đã thực sự về nhà không? Trong hai phút em cảm nhận được cát dưới đế giày trộn cùng vài mảnh đá cuội và đá lửa bằng thạch anh hay granite; rồi em cởi đôi giày ra vĩnh viễn, đi lên miếng ván để bị bắn chết.

Không có gì thích hơn việc lặn xuống nước mà mở mắt. Lặn sâu xuống dưới đôi chân lấp loáng của bố và mẹ, hai người vừa mới bơi xong và giờ đang lội lại bờ trong làn nước nông. Không có gì vui hơn cù bố mẹ, và nghe thấy, bập bùng trong nước, tiếng họ ré lên vì họ biết rằng con họ sẽ vui lắm.

Cô bé học chơi piano trong ba năm, nhưng giờ, khi cơ thể đã chết của cô rơi xuống cái hố, từ piano bị tước khỏi nhân loại, cú lộn ngược trên xà cao mà em làm giỏi hơn các bạn học bị tước đi, cùng với mọi động tác của một người bơi lội, động tác bắt một con cua, thắt một nút dây cơ bản khi đi thuyền buồm, tất cả những thứ ấy bị tước về thời chưa từng được nghĩ ra, và cuối cùng, cuối của mọi sự cuối cùng, cái tên của cô bé cũng bị tước mất, cái tên giờ đây sẽ không còn ai gọi em: Doris.

Mai Ngọc Tú dịch

(Dịch từ bản dịch tiếng Anh Visitation của Susan Bernofsky do New Directions xuất bản, 2010.)

Chấm sao chút:

Đã có 1 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*