Hoạt động của Zzz Review năm 2022
được sự hỗ trợ của Viện Goethe

Lennart Lundberg, Các nguyên tắc dịch thuật của Lỗ Tấn

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 44 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 2021: Về sự dịch, ngày 30-11-2021)

Bất kỳ ai đã từng thử bắt tay làm công việc dịch (và suy ngẫm đôi chút về công việc này) đều từng phải đối mặt với cùng một vấn đề: dịch văn bản sao cho thật trung thành với bản gốc, hay biến đổi nó sang ngôn ngữ mới càng nhiều càng tốt sao cho phù hợp với các cách diễn đạt và tư duy trong ngôn ngữ mới; lựa chọn để cho văn bản nghe như một bản dịch từ ngôn ngữ khác, cho phép các cách diễn đạt và bối cảnh văn hóa của ngôn ngữ ấy hiện ra qua bề mặt, hay lựa chọn để cho văn bản ấy càng giống như một tác phẩm gốc được viết trực tiếp bằng ngôn ngữ mới càng tốt. Trong thực tế, bản dịch thành phẩm sẽ luôn rơi vào khoảng giữa: dù ta không thể nào dịch sát từng từ, nhưng ta cũng không thể tước đi hết phong vị từ văn bản gốc. Tuy thế, vấn đề này chưa bao giờ lỗi thời.

Dịch các ngôn ngữ gần nhau, như tiếng Thuỵ Điển và Đan Mạch, tiếng Nga và Ba Lan, cũng có cái khó riêng (chẳng hạn làm sao tránh hiện tượng can thiệp (interference) của ngôn ngữ nguồn vào bản dịch), nhưng xét về tổng thể vẫn không khó khăn bằng khi dịch giữa hai ngôn ngữ xa nhau như giữa tiếng Trung và các ngôn ngữ châu Âu. Khi đó, ta không chỉ phải xử lý những khác biệt về ngữ pháp, cú pháp, và sắc thái ngôn ngữ, mà còn là những điểm bất tương đồng ăn sâu hơn về di sản văn hoá, tâm lý dân tộc, tổ chức xã hội, cũng như mức độ phát triển về kinh tế và chính trị. Có lúc những khó khăn này nan giải đến mức ta sẽ gặp khó khi phải đi tìm trong khuôn khổ thứ tiếng của mình cách diễn đạt thoả đáng để truyền tải các khái niệm nào đó trong ngôn ngữ kia.

Dịch giả làm việc với các tác phẩm Trung Quốc thời kỳ đầu, đặc biệt là các tác phẩm triết luận, đã trải qua vấn đề này. Cả những người dịch các tác phẩm nước ngoài sang tiếng Trung cũng tương tự. Chẳng hạn như việc dịch kinh Phật sang tiếng Trung từ thế kỷ thứ ba trở đi[1].

Lâm Thư và Nghiêm Phục

Những người dịch các tác phẩm văn học phương Tây sang tiếng Trung đầu tiên, nhìn chung, đều gặp vấn đề như nhau. Nhiệm vụ họ tự đặt ra cho mình không chỉ đơn thuần là chuyển văn bản từ tiếng Anh hay tiếng Pháp sang tiếng Trung. Họ còn phải thu hẹp những khác biệt lớn về thuật ngữ và tìm những cách diễn đạt thích hợp cho những khái niệm chưa từng có ở Trung Quốc. Thêm vào đó, họ muốn tìm một hình thức khiến cho các quan niệm mới có thể hiểu được, và vượt qua định kiến của những người miễn cưỡng thừa nhận rằng Tây làm súng tốt hơn Tàu nhưng vẫn một mực khẳng định văn minh tinh thần của Trung Quốc vượt trội hơn bất kỳ nơi nào khác.

Lâm Thư có độ thích nghi rất lớn với những quan niệm truyền thống, thể hiện không chỉ qua việc chọn tiểu thuyết nào để dịch. Vì ông cần có những người khác dịch miệng thành tiếng, rồi ông sẽ chép lại từng phần, việc ông bị chi phối bởi truyền thống của mình là điều không tránh khỏi. Phong cách trần thuật, miêu tả… của ông mượn rất nhiều từ các tác phẩm hư cấu của Trung Quốc, đôi khi ông còn rút gọn hoặc lược bỏ một số phần trong văn bản gốc và thêm vào nội dung của chính mình. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là ông Hán hoá toàn bộ văn bản. Trong một trong những bài phân tích đầu tiên về đóng góp của Lâm Thư (viết vào năm ông mất – 1924), Trịnh Chấn Đạc nhận xét ông thật sự chuyển tải được phong vị của tác phẩm gốc phương Tây và giữ được phong cách của nó dù không dịch từng từ[2].

Tuy nhiên, không phải lúc nào ông cũng làm được như thế – ông phạm nhiều lỗi dịch thuật (mà Lỗ Tấn chỉ trích), và đôi khi còn cố tình xuyên tạc nội dung[3].

Phong cách lý tưởng của Lâm Thư là cổ văn, loại ngôn ngữ tiền Hán mà nhiều học giả xem là hình thức hoàn hảo nhất của tiếng Trung. Nhưng trong thực tiễn dịch, ông lại dùng nhiều những cách diễn đạt và cấu trúc hiện đại hơn – đôi khi vì ông làm quá nhanh và không chú ý đến ngôn ngữ của mình, đôi khi vì văn bản đòi hỏi một sự tự do và uyển chuyển vượt quá những gì cổ văn cho phép. Không chỉ thế – các văn bản của ông còn có nhiều từ mới được chuyển trực tiếp từ văn bản gốc, cả cấu trúc câu của ông đôi khi cũng bám chặt cấu trúc gốc, bất chấp những quy luật văn phạm và văn phong thành lệ trong tiếng Trung[4]. Bằng cách này, ông là người khởi đầu cho sự ảnh hưởng phương Tây lên ngôn ngữ Trung, sự ảnh hưởng dù đạt đến đỉnh cao trong phong trào Ngũ Tứ nhưng đã, và đang, để lại dấu ấn lâu dài lên tiếng Trung hiện đại.

Nghiêm Phục chỉ dịch các tác phẩm kinh tế và khoa học xã hội. Mục đích chính của ông là giới thiệu những tư tưởng và thái độ của phương Tây – đầu tiên là trong các bài luận, sau đó là qua các bản dịch. Nội dung tư tưởng là chính, nhưng hình thức trang nhã cũng không thể thiếu. Ông thể hiện quan điểm dịch thuật của mình như sau:

Dịch thuật có ba chướng ngại: tín, đạt, và nhã. Cố gắng để đạt được chữ tín vốn đã rất khó. Nhưng nếu tín quá mà không diễn được nghĩa, như thế thì cũng như chưa dịch gì cả, vậy làm sao người ta hiểu được nó? … Bản dịch phải thể hiện cái ý nghĩa sâu hơn, nên đôi khi cần phải đảo lại hay thêm thắt vào trật tự từ và câu. Người ta không thể dịch sát từng từ, vì như thế không thể hiện được nghĩa của văn bản gốc. Khi ta nói về đạt, ta không chỉ nói về việc dịch, lấy văn bản rồi diễn lại nó ra, đấy không phải là cách làm đúng…

Câu trong ngôn ngữ phương Tây dao động từ hai ba từ cho đến hàng chục hàng trăm từ. Nếu dịch theo nghĩa đen, tôi e là chẳng ai hiểu được, mà nếu bỏ bớt đi, chỉ giữ lại cái cốt, tôi ngại ý nghĩa sẽ không nguyên vẹn. Vậy nên dịch giả phải nắm được cái ý nghĩa tinh thần của cả tác phẩm, nghiền ngẫm nó trong thâm tâm mình một cách toàn diện trước khi diễn đạt thành từ ngữ…

Ngoài tín đạt, ta cũng phải cố gắng đạt được nhã. Nói như vậy không phải là lùi xa về quá khứ: trong thực tế, các học thuyết sâu sắc và các từ ngữ tinh tế dễ diễn đạt bằng thuật ngữ và văn phạm tiền Hán nhưng lại khó truyền tải bằng ngôn ngữ thông tục ngày nay…[5]

Có thể thấy Nghiêm Phục có thể tóm tắt một cách rõ ràng đến đáng ngưỡng mộ những vấn đề của công việc dịch thuật. Nhưng trong thực tiễn, trong các bản dịch đầu tiên của mình, Nghiêm Phục chú trọng “nhã” hơn là “tín” – cuốn Thiên diễn luận của ông dịch rất thoáng và đan xen những bình luận của chính Nghiêm Phục. Ông (chắc là đúng) cho rằng một tiểu luận phương Tây, để dân Trung Quốc đương thời chấp nhận, phải tuân theo những quy luật thời đại của nó. Vì vậy, ông đã dốc nhiều công sức để làm cho bản dịch của mình thật trang nhã và thuận theo thuần phong mỹ tục. Ông dùng thứ văn có nhịp điệu theo Đồng Thành Phái – trường phái tân Nho vào thế kỷ 18 chú trọng nhiều vào phong cách trang nhã để truyền tải nội dung, noi gương những bậc hiền triết tiền Hán. Và ông đã thành công, sách của ông được những người trẻ có tư tưởng cải cách đọc rộng rãi khắp cả nước – và dù lý do chính là bởi bản dịch này chứa đựng các tư tưởng mới mà họ đang tìm kiếm, hình thức trang nhã chắc chắn khiến họ dễ chấp nhận những quan điểm này hơn. Chẳng hạn như chính Lỗ Tấn đã đọc bản dịch này nhiều đến mức có thể thuộc nằm lòng nhiều đoạn dài.[6]

Ngôn ngữ thì cổ, nhưng Nghiêm Phục đã phải thực hiện nhiều sáng tạo về thuật ngữ. Trung Quốc vào thời điểm này, tất nhiên chưa có từ vựng dành cho khoa học hiện đại, thậm chí từ chỉ “tự nhiên” còn chưa có. Như những bậc tiền bối của mình, Nghiêm Phục dùng từ chỉ trời, thành ra “tiến hoá” trở thành “diễn tiến của trời” (天演 – thiên diễn). Cứ như vậy, ông phải tìm thêm nhiều cách diễn đạt mới: “chọn lọc tự nhiên” trở thành “thiên trạch” (天擇), tuyển chọn của trời, và “đấu tranh sinh tồn” trở thành vật cạnh (物競), cạnh tranh của vật. Đôi khi ông còn phiên âm: “nerve” (dây thần kinh) trở thành 涅伏 (đọc là “niefu”).

Lỗ Tấn đánh giá Nghiêm Phục trong bối cảnh lịch sử của ông:

… Để có thể dịch, Nghiêm Hựu Lăng [tức Nghiêm Phục] đã tìm hiểu xem người ta dịch kinh Phật như thế nào dưới đời nhà Hán, Tần, và thời kỳ Lục Triều… Giờ đây chúng [các bản dịch của Nghiêm Phục] lại được xuất bản, và dù không có giá trị gì, chúng ta ít nhất vẫn thấy được công sức ông đã dốc vào đó. Theo những gì tôi nhớ, những bản dịch ông tốn nhiều công sức nhất và cũng đòi hỏi nhiều công sức để đọc nhất là Hệ thống Logic (A System of Logic) của Mill và đề tựa của tác giả này trong cuốn Bàn về tự do (On Liberty): và sau đó là chính bài luận ấy. Sau này, vì lý do nào đó, ông đổi tên từ Quần kỷ quyền giới luận (羣己權界論)[7] thành Quyền giới (權界)[8] – đến cả tựa sách cũng rất tù mù. Cuốn dễ hiểu nhất dĩ nhiên là cuốn Tiến hoá và đạo đức, khí chất Đồng Thành Phái rất mạnh mẽ – ông thậm chí còn chú ý đến mô hình giọng điệu trong tác phẩm. Ta có thể ngồi, ngắc ngư cái đầu, và ngâm lại câu từ trong đó nhịp nhàng như một bài thơ, cho đến khi đầu ta quay cuồng vì chóng mặt. Cả bậc thầy của Đồng Thành Phái là Ngô Nhữ Luân cũng phải thừa nhận rằng ông “sánh ngang với các bậc hiền triết đời Chu đời Tần”.[9] Tuy nhiên, chính Nghiêm Hựu Lăng cũng nhận thức rằng cách dịch quá “đạt” này là sai,… và trong phần đề tựa, sau khi trình bày các thuyết “tín, đạt, nhã,” ông kết luận bằng tuyên bố: “Phật Tổ đã dạy ‘Hãy học từ cái sai của ta’; mai này, khi tôi có hậu bối, chúng không nên vin vào quyển sách này làm cớ.”[10]

Vậy thì tại sao khi đó ông lại dùng cách dịch này? Câu trả lời là các du học sinh khi đó không được đánh giá cao như ngày nay, phần đông vẫn tin rằng người phương Tây chỉ có thể chế tạo máy móc – nhất là đồng hồ điểm giờ – và những học sinh từ bên ấy trở về chỉ biết nói tiếng quỷ, không được xem là “học cao hiểu rộng.” Vậy nên ông đã dùng ngôn ngữ nghe thật cao sang, và kết quả là ông đã thành công đến mức ngay Ngô Nhữ Luân cũng chịu viết đề tựa cho ông; sau đó, con đường đã rộng mở trước mắt ông, ông tiếp tục dịch cuốn Hệ thống Logic, Tinh thần pháp luật (L’esprit de lois), Của cải các quốc gia (The Wealth of Nations), vân vân. Nhưng trong các bản dịch sau này, ông đặt chữ “tín” lên trên “đạt” và “nhã.”

Thực tế, các bản dịch của ông là một bức tranh tóm gọn về dịch thuật từ nhà Hán đến nhà Đường. Cuối đời Hán, kinh Phật được dịch thẳng, ông đã không học theo chúng. Các bản dịch dưới thời Lục Triều đều có “đạt” và “nhã,” đây cũng là hình mẫu để ông dịch Tiến hoá và đạo đức. Nhà Đường đặt nặng chữ “tín”; nếu đọc nhanh, ta sẽ không hiểu chúng nói gì, cũng như các bản dịch sau này của ông. Một ví dụ đơn giản về cách người ta dịch kinh là ba phiên bản Đại thừa khởi tín luận[11] được tổng hợp in ở Nhà in kinh Kim Lăng…[12]

Các bản dịch đầu tiên của Lỗ Tấn

Thoạt đầu, Lỗ Tấn đọc nhiều bản dịch của Lâm Thư và Nghiêm Phục, nhưng chẳng bao lâu thì quay sang phê bình họ, đây cũng là một trong các lý do vì sao ông bắt đầu công việc dịch. Bản dịch Tiến hoá và đạo đức của Nghiêm Phục có ảnh hưởng lớn đến Lỗ Tấn, nhưng những bản dịch sau này của họ Nghiêm không hấp dẫn ông được như thế. Quan điểm của ông về Lâm Thư có thể tóm tắt thành hai điểm: các cuốn sách ông chọn dịch thường có chất lượng thấp, và các bản dịch của ông có nhiều lỗi:

Vào thời đó, các tác phẩm hư cấu do Lâm Cầm Nam dịch sang cổ văn rất được ưa chuộng ở Trung Quốc, văn phong cũng rất tốt nhưng lại chứa nhiều chỗ dịch sai. Chúng tôi bắt đầu dịch chỉ vì lý do duy nhất là chúng tôi không thoả mãn và muốn sửa lại cho đúng, nhưng đấy thật sự là một thất bại to lớn…[13]

Hai bản dịch Jules Verne đầu tiên của Lỗ Tấn chủ yếu đi theo phong cách truyện chính trị của Lương Khải Siêu, nhưng ngay từ tập Truyện ngắn nước ngoài, ông đã cho thấy một phong cách dịch thuật mang dấu ấn riêng. Trong một tiểu luận năm 1935, ông khẳng định quan điểm của mình như sau:

Trước khi tôi bắt đầu viết, tôi phải đi giải quyết một vấn đề: tôi nên biến đổi nó nhiều nhất có thể hay tôi nên giữ cho không khí ngoại quốc càng nguyên vẹn càng tốt? Dịch giả Nhật Bản Ueda Susumu thích cách thứ nhất. Ông cho rằng khi dịch một tác phẩm châm biếm, người dịch nên cố gắng làm cho nó thật dễ hiểu, càng dễ hiểu thì hiệu ứng càng sâu rộng. Vậy nên trong bản dịch của mình, có khi ông biến một câu thành nhiều câu, khiến cho bản dịch trông như một hình thức phỏng tác. Ý tôi ngược lại. Nếu ta chỉ muốn dễ đọc, thì cứ tự viết cho rồi, không thì viết lại với bối cảnh và các nhân vật Trung Quốc. Nếu đã là bản dịch thì mục đích đầu tiên là lan toả một tác phẩm ngoại quốc, chứ không chỉ lan toả một cốt truyện nào đó hay cho người ta hay có một chuyện như thế đấy đã xảy ra ở một nơi nào đó vào một lúc nào đó, nên bản dịch cũng như đi du lịch nước ngoài: bản dịch phải có cảm giác xa lạ, tức là, có không khí ngoại quốc. Thực tế trên đời không thể có bản dịch biến đổi hoàn toàn; nếu có thì nó chỉ có sự tương tự bề ngoài với văn bản gốc và nói chính xác ra không thể gọi là bản dịch được. Mỗi bản dịch đều phải xét đến cả hai mặt, cả cố gắng để sao cho bản dịch dễ hiểu lẫn giữ được bản sắc của văn bản gốc; nhưng giữ được bản sắc thường mâu thuẫn với sự dễ đọc: người ta không quen. Nhưng xét cho cùng thì tác phẩm cũng là một con quỷ ngoại quốc chẳng ai quen biết, và để khiến cho con quỷ ấy trông êm mắt hơn, người ta chỉ có thể thay quần áo cho nó, chứ không thể thẻo mũi hay móc mắt nó ra. Tôi không ưa thẻo mũi hay móc mắt, nên đôi chỗ, tôi vẫn thích dịch trúc trắc.[14]

Những thử sức đầu tiên của Lỗ Tấn trong công việc dịch thuật là hai tiểu thuyết của Jules Verne: De la terre à la lune (Từ Trái Đất đến Mặt Trăng, 1865) và Voyage au centre de la terre (Hành trình vào tâm Trái Đất, 1864). Cả hai đều được dịch vào năm 1903, khi Lỗ Tấn 22 tuổi.

Như V. I. Semanov nhận định, Lỗ Tấn “không phải là dịch mà là xử lý lại văn bản gốc, hay nói chính xác hơn, thậm chí không phải văn bản gốc mà là các bản dịch tiếng Nhật…”[15] Hình thức văn bản của Lỗ Tấn giống với các tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển, nhiều chương hồi mở đầu bằng chữ “khước thuyết” (“Lại nói đến…”) cộng thêm tóm tắt của hồi trước, kết thúc bằng cụm “muốn biết mọi chuyện ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.” Ngôn ngữ pha trộn giữa bạch thoại xưa của các tiểu thuyết cổ điển và văn ngôn. Phần đầu tiên của Từ Trái Đất đến Mặt Trăng dùng một thứ bạch thoại khá thuần túy, nhưng đến những hồi cuối thiên về văn ngôn nhiều hơn.

Trong Hành trình vào tâm Trái Đất, ngôn ngữ chủ đạo là văn ngôn, nhưng đan xen với nhiều cụm từ bạch thoại.

Khi Lỗ Tấn dịch các truyện trong Truyện ngắn nước ngoài (域外小说亼, Vực ngoại tiểu thuyết tập) vào năm 1909, ông chịu ảnh hưởng từ Chương Thái Viêm, người thầy dạy Lỗ Tấn nghiên cứu ngôn ngữ và chữ viết cổ của Trung Quốc. Trong các bản dịch này (ba truyện ngắn của Andreyev và Garshin), ông dùng cổ văn thuần tuý, với một số hình tự rất hiếm gặp và lỗi thời (ví dụ như chữ “tập” (như trong “tuyển tập”) trên tựa sách được viết bằng hình tự 亼 thay vì hình tự 集 bình thường ngày nay). Chất “tín” sau này đã trở thành thương hiệu của ông đã khá phát triển trong bản dịch này. Như V. I. Semanov chỉ ra trong một phân tích của mình,[16] trong bản dịch hai truyện ngắn của Andreyev từ tiếng Nga sang tiếng Đức còn có nhiều thay đổi hơn bản Trung, trong khi dịch Garshin, Lỗ Tấn lại gặp khó trong việc truyền tải nhịp điệu lo lắng, phập phồng của tác giả sang văn ngôn.

Tuy nhiên, chính cấu trúc của văn ngôn khiến cấu trúc câu trong bản dịch của Lỗ Tấn khác với văn bản gốc. Các đoạn dài phức tạp bị chia thành các phần. Một câu như “Không ngoảnh đầu lại, Cha Ignatyi nhìn vợ mình qua mép trên cặp kính với vẻ ngờ vực, thật lâu và thật sắc, cho đến khi bà vẫy bàn tay để không rồi chìm lút người vào chiếc ghế sofa thấp” trở thành “Ignatyi không ngoảnh lại, chỉ đưa đôi mắt mở nhìn qua mép trên cặp kính và sắc mắt nhìn bà một lúc lâu. Vợ ông nhìn đi chỗ khác rồi chìm lút người vào chiếc ghế sofa…”[17] trong bản dịch của Lỗ Tấn. Tuy nhiên, ông cố gắng giữ cho từ và câu theo đúng thứ tự của văn bản gốc, dù đôi khi bản dịch trở nên kỳ cục. Chỉ thi thoảng ông mới đổi một cách diễn đạt phương Tây thành một cách diễn đạt Trung Quốc hơn, như đổi từ “chim sơn ca” thành “chim vàng anh” (thương canh 鸧鹒, một từ hiếm gặp được dùng trong Sở từ).[18]

Dịch sang bạch thoại

Lỗ Tấn tiếp tục viết bằng văn ngôn đến năm 1918. Khi chuyển sang bạch thoại, ông lại gặp một vấn đề mới. Trong khi văn ngôn là một hệ thống tương đối ổn định, bạch thoại hiện đại vẫn đang trong quá trình hình thành; quả thực ngôn ngữ nói tiếng Trung hiện đại vẫn đang trong quá trình phát triển liên tục cho đến tận ngày nay.

Lỗ Tấn có lần viết rằng viết truyện và luận dễ hơn dịch, bởi người dịch bị giới hạn bởi văn bản và không thể tránh né một vấn đề bằng cách chọn một cách khác để thể hiện ý định của mình. Như thế, dịch thuật thách thức các quy luật và các mô hình diễn đạt của ngôn ngữ nhiều hơn là viết ra văn bản gốc. Trong quá trình phát triển, bạch thoại chịu ảnh hưởng từ các ngôn ngữ châu Âu, ảnh hưởng này biểu hiện đầu tiên qua các bản dịch. Trong các bản dịch của Lỗ Tấn, ảnh hưởng này rất rõ ràng.

Một khó khăn lớn đặt ra cho dịch giả dịch sang tiếng Trung là các vấn đề ngữ pháp. Tiếng Trung có cấu trúc “lỏng” hơn nhiều so với các ngôn ngữ phương Tây: nhất là trong văn ngôn, mối quan hệ giữa các mệnh đề, số ít và số nhiều, tham chiếu xác định và bất định của danh từ, các thì của động từ vân vân thường hoàn toàn không thể hiện ra. Việc này sẽ mang lại cho nhà văn nhiều tự do và có thể trở thành thuận lợi lớn đối với một số mục đích nhất định, nhưng nó lại đặt ra cho dịch giả hết lần này đến lần khác vấn đề khi nào có thể lược bỏ liên từ hay số nhiều còn khi nào thì không, hoặc là trong thực tế dịch giả có làm mất đi sắc thái gì của văn bản khi lược bỏ như thế không, cho dù trong tiếng Trung chuyện ấy hoàn toàn tự nhiên. Mặt khác, một vài khía cạnh của ngữ pháp tiếng Trung lại gắt gao hơn hầu hết ngôn ngữ phương Tây – chẳng hạn như mệnh đề phụ thuộc luôn phải đặt trước mệnh đề chính.

Trong công việc dịch của mình, Lỗ Tấn hẳn đã nghĩ đến những khác biệt giữa tiếng Trung và các ngôn ngữ phương Tây. Đối với ông, giới thiệu các tác phẩm văn học phương Tây là một việc rất nghiêm túc – đó không chỉ là vấn đề giới thiệu văn chương, mà trên hết là giới thiệu các tư tưởng mới, các cách tư duy mới nhằm mở đường cho công cuộc cải cách xã hội Trung Quốc. Từ quan điểm này, ông hoàn toàn không có ý định điều chỉnh cho phù hợp với người đọc hay tạo điều kiện để người đọc dễ hiểu bản dịch hơn – những ai muốn lĩnh hội tư tưởng mới và thế giới quan mới thì phải chịu khó. Quả thật nếu nội dung mới lại được thể hiện qua hình thức quá dễ tiếp thu và khoác bên ngoài quá nhiều quần áo Trung Quốc, sẽ đem lại mối nguy mọi người cảm thấy những khác biệt giữa tư duy Trung Quốc và tư duy phương Tây nhỏ hơn thực tế, dẫn đến thái độ xem nhẹ nhu cầu cải cách – hoặc thậm chí nội dung ấy sẽ bị Hán hoá, một mối nguy phải tránh.

Có thể tưởng tượng rằng Lỗ Tấn đã có những suy tính như vậy trong đầu khi dịch các tác phẩm. Thành quả có được là cái mà ông tự gọi là “dịch trực tiếp” (trực dịch, 直譯) và thỉnh thoảng là “dịch cứng” (ngạnh dịch, 硬譯) – phong cách dịch mà trong một thời kỳ đã trở thành thương hiệu của ông. Những bản dịch này theo rất sát văn bản gốc và đôi khi “gần như dịch sát từng từ.” Các bản dịch này thường trúc trắc, đi ngược lại những lệ thường trong tiếng Trung, cố tình tránh các quán ngữ trong tiếng Trung, thậm chí vi phạm cả quy luật ngữ pháp. Trong một số trường hợp, chúng khá khó hiểu. Tuy không phải bản dịch nào cũng như thế – một số lại rất mượt mà dễ đọc – nhưng ta có thể xem qua truyện “Người công nhân Shevyrev”[19] mà ông tự nhận là “dịch gần như sát từng từ.”[20] Có thể tìm thấy một số ví dụ rất rõ ràng trong bản dịch này. Ta hãy cùng xem xét vài câu và so sánh với bản tiếng Đức[21] của Bugow và Billard mà Lỗ Tấn đã dùng để dịch sang tiếng Trung[22]:

A.

Vor seine Augen trat das unübersehbare Bild der Felder, Wälder und Dörfer,
在 他 眼 前, 涌 出 原 野 森 林 和 村 落 的
Tại tha nhãn tiền, dũng xuất nguyên dã sâm lâm hoạ thôn lạc đích

grau, traurig und ärmlich, in deren Endlosigkeit
一 望 无 边 的形 象, 惨 淡, 悲 凉 而 且 困 穷,
nhất vọng vô biên đích hình tượng, thảm đạm, bi lương, nhi thả khốn cùng,

ein grosses duldendes Volk seine einfällige Wahrheit, die Wahrheit
一 群伟 大 坚 忍 的 人 民, 便 在 这 无 边 中, 静 静 的
nhất quần vĩ đại kiên nhẫn đích nhân dân, tiện tại giá vô biên trung, tĩnh tĩnh đích

eines künftigen gerechten Lebens still und verborgen hegt.
藏 着 单 纯 的, 未 来 的 正 当 的 生 活 的 真 理
tàng trữ đơn thuần đích, vị lai đích chính đáng đích sinh hoạt đích chân lý.

(Trước mắt anh, trào ra một hình ảnh vô biên về những cánh đồng, rừng rậm, và làng mạc, ảm đạm, khốn khổ, và nghèo khó, một dân tộc kiên nhẫn vĩ đại, ở trong cái vô biên ấy, lặng lẽ cất giấu chân lý giản đơn về một cuộc sống công bằng trong tương lai.)

 

B

Voll Liebe und Inbrunst schilderte er, wie Bauem, de für ihre
他 充 满 了 爱 与 热 情 的 描 写, 农 民 门, 怎 样 的
Tha sung mãn liễu ái dữ nhiệt tình đích miêu tả, nông dân môn, chẩm dạng đích

Überzeugung hingerichtet werden, sterben, schlicht, ohne Worte,
为 了 他 的 确 信 而 受 刑, 死, 质 朴, 无 言
vị liễu tha đích xác tín nhi thụ hình, tử, chất phác, vô ngôn,

Ohne daraus ein Heldentat zu machen, ohne begeisterte Hymnen
不 因 此 做 出 一 点 英 雄 举 动, 不 等 候 震 荡
bất nhân thử tố xuất nhất điểm anh hùng cử động, bất đẳng hậu chấn đảng

Zu erwarten, gesammelt und ruhig, gleichsam als wüssten sie
心 神 的 赞 美 歌, 一 齐 而 且 沉 静, 仿 佛 明 白 了
Tâm thần đích tán mĩ ca, nhất tề nhi thả trầm tĩnh, phảng phất minh bạch liễu

Etwas, was anderen verborgen ist.
什 么 事, 为 别 人 所 未 经 知 道 似 的
Thập ma sự, vi biệt nhân sở vị kinh trí đạo tự đích.

(Ông miêu tả tràn đầy yêu thương và nhiệt tình, những người nông dân, bằng cách nào vì xác tín của mình mà bị hành hình, chết đi, chất phác, không lời, không vì để làm ra một hành động anh hùng, không đợi những bài tụng ca rung động tâm can, đồng loạt mà im lặng, dường như hiểu được chuyện gì, những người khác chưa từng biết.)

Trong cả hai ví dụ này, ta thấy Lỗ Tấn theo rất sát trật tự từ trong tiếng Đức. Để làm được điều này, ông đã tách các mệnh đề phụ thuộc thành các cụm tương cận (juxtaposition): “… cách những nông dân bị hành hình vì xác tín của mình, chết…” trở thành “cách nông dân bị hành hình và chết vì xác tín của mình…”, và mệnh đề “trong cái vô biên nơi một dân tộc kiên nhẫn vĩ đại đang cất giấu…” bị chuyển thành “… một dân tộc kiên nhẫn, vĩ đại đang cất giấu trong cái vô biên này…” Đây là hình thức tương ứng với lệ thường trong tiếng Trung.

Mặt khác, ta lại thấy các tính từ và cụm giới từ được dùng làm ngữ đồng vị sau các từ chính: “… nông dân … chết: chất phác, không nói một lời…” và “… những cánh đồng, rừng rậm, và làng mạc, ảm đạm, khốn khổ, và nghèo khó…” Trong cả hai trường hợp này, Lỗ Tấn đơn thuần bám theo văn bản gốc, một việc rất khó khi xét theo các quy luật ngữ pháp tiếng Trung. Ông đã có thể chuyển các cách diễn đạt này thành thuộc ngữ (attribute): “… những nông dân chất phác, không nói một lời…”, hoặc chuyển thành trạng ngữ theo sau động từ “chết”: “… chết một cách giản đơn, không nói một lời…”, hoặc đơn giản là viết thành các mệnh đề độc lập: “… họ chất phác, không nói một lời…” Nhưng Lỗ Tấn đã không chọn làm như vậy. Thay vào đó, ông dịch “gần như sát từng từ,” như thể ông muốn phơi bày cấu trúc ngữ pháp trong văn gốc.

Ta cũng nhận thấy trong một số trường hợp khi danh từ có nhiều loại thuộc ngữ theo kèm, chúng thường được dịch hết thành thuộc ngữ dù Lỗ Tấn gặp khó trong việc thể hiện đặc tính khác nhau giữa chúng và chỉ có thể đánh dấu tư cách phụ thuộc của chúng bằng trợ từ kết cấu 的 (đích). Vậy nên “chân lý giản đơn của họ, chân lý về một cuộc sống công bằng trong tương lai” trở thành “单纯的,未来的正当的生活的真理” với 4 chữ 的 trong cùng một dòng. Chữ đầu tiên (单纯的, đơn thuần đích) bị cách ra bằng dấu phẩy để người đọc có thể hiểu rằng chữ này đi liền với từ cốt lõi 真理 (chân lý). Nhưng người đọc phải dừng lại và suy nghĩ mới hiểu được rằng trong số ba chữ còn lại, 未来的 正当的 (vị lai đích chính đáng đích) bổ nghĩa cho 生活 (sinh hoạt), rồi cụm 生活的 (sinh hoạt đích) lại bổ nghĩa cho 真理 (chân lý) để tạo thành “chân lý về một cuộc sống công bằng trong tương lai” chứ không phải, chẳng hạn như “chân lý chính đáng trong tương lai về cuộc sống.” Ta cũng có thể thêm vào 关于 hoặc 对于 (“về, đối với”) nhưng những chữ này thời ấy chưa mấy ai dùng. Trong tiếng Trung cổ điển, cách đánh dấu từ phụ thuộc như Lỗ Tấn đã dùng phổ biến hơn, nhưng văn cổ tránh dùng quá nhiều thuộc ngữ vì câu sẽ quá cồng kềnh làm cho nghĩa mơ hồ.

Trong số các điểm mới lạ trong các bản dịch của Lỗ Tấn những năm hai mươi và ba mươi có thể kể đến cách đặt phần giới thiệu lời dẫn trực tiếp (“anh nói,” “anh hỏi,” vân vân) phía sau hoặc chèn luôn vào câu thoại được dẫn, thay vì chỉ đặt ở phía trước theo luật của cả văn ngôn và bạch thoại cổ điển. Không chỉ mình ông có thói quen như vậy vào thời điểm này, và chính ông cũng chỉ ra, cách dùng này cũng dựa trên nền tảng ngôn ngữ nói.

Trường hợp mệnh đề phụ thuộc đặt sau mệnh đề chính cũng không hiếm – không áp dụng cho các mệnh đề chỉ thời gian, mà thường gặp trong các mệnh đề chỉ nguyên nhân (bắt đầu bằng 因为, vì) và nhượng bộ (bắt đầu bằng 虽然, tuy), và các mệnh đề điều kiện (bắt đầu bằng 假如 hoặc 假使, giả sử). Cách viết kỳ lạ này cũng dựa trên nền tảng ngôn ngữ nói, không hiếm thấy trong bạch thoại. Người ta cũng thấy cách viết này trong chính các tác phẩm của Lỗ Tấn tự viết. Tuy nhiên, tôi tin cách viết này hiếm gặp trong ngôn ngữ viết ngày nay.

Khi ta nói rằng các bản dịch của Lỗ Tấn những năm hai mươi, đầu ba mươi trúc trắc, thậm chí khó đọc, ta không nên đánh đồng tất cả. Một vài trong số này mượt mà và dễ đọc – nhất là các bản dịch từ tiếng Nhật, cả truyện ngắn và triết luận, ví dụ như của Kuriyagawa Hakuson. Lý do có thể là do vốn tiếng Nhật sâu rộng của Lỗ Tấn và sự tương đồng giữa văn hoá Trung Quốc và văn hoá Nhật Bản. Ông cũng cẩn thận không làm cho các truyện thiếu nhi trở nên quá khó, chẳng hạn như truyện De kleine Johannes (Nhóc Johannes) của van Eeden.

Bản dịch lý thuyết văn chương

Điều khiến Lỗ Tấn mang danh tiếng là một dịch giả “cứng” và là tâm điểm của các cuộc tranh luận nảy lửa giữa chính ông và vài nhà phê bình vào khoảng những năm 1930, trên hết, là các bản dịch lý thuyết và phê bình văn học Marxist. Các bản dịch này rất nặng và đôi khi rất khó hiểu – không chỉ vì nội dung chứa nhiều lý luận phức tạp và nhiều thuật ngữ mới tạo ra, mà còn vì ngôn ngữ trong bản dịch có cú pháp không giống tiếng Trung mà dựa trên hình mẫu các ngôn ngữ châu Âu qua bộ lọc của tiếng Nhật.

Một trong những đặc điểm đặc biệt nhất trong vài bản dịch này (nhất là Bàn về nghệ thuật của Lunacharsky) ta đã đề cập: dùng nhiều thuộc ngữ đi kèm trợ từ kết cấu “de” (viết thành 的 (đích trong “mục đích”) hoặc 底 (để trong “triệt để”)), trợ từ này có thể đánh dấu một từ đơn, một thành ngữ, hay cả một mệnh đề hoàn chỉnh là thuộc ngữ đi kèm một từ cốt lõi, và từ 地 (địa trong thiên địa) đánh dấu một trạng từ đi kèm động từ theo sau. Ta cùng xem qua hai ví dụ trong cùng một trang:

A.

这 时 候, 要 来 讲 辅 助 那 识 别 在 三 次 元
Giá thì hậu, yếu lai giảng phụ trợ na thức biệt tại tam thứ nguyên để đích
Было бы излишне говорить здесь о всем известном механизме

空 间 方 向 视 觉 要 素 相 互
không gian đích phương hướng đích thị giác để yếu tố đích tương hỗ đích
глаза, способствующем распознаванию пространственной

空 间 距 离 , 谁 都 知 道 眼 睛 构 造,
không gian để cự li đích thuỳ đô tri đạo đích nhãn tình đích cấu tạo
отдаленности одних зрительных элементов от других

大 约 是 没 有 这 必 要 吧.
đại ước thị một hữu giá tất yếu ba.
по всем направлениям трехмерного пространства.

(Lúc này, nói thêm về cấu tạo của con mắt mà ai cũng biết, giúp phân biệt khoảng cách trong không gian với nhau giữa các yếu tố thị giác về các hướng của không gian ba chiều, có lẽ là không cần thiết.)

 

B.

游 戏 之 际, 加 入 对 于 视 觉 世 界 知 觉
Du hí chi tế, gia nhập đối vu thị giác để thế giới đích tri giác đích
Играя, мускулы, принимающие участие в процессе

过 程 筋 肉, 必 须 规 则 适 宜 动 作.
quá trình đích cân nhục, tất tu quy tắc để địa thích nghi địa động tác.
восприятия зрительного мира, должны работать правильно и мерно;…[24]

(Trong lúc chơi, các cơ tham gia quá trình nhận thức thế giới hình ảnh, phải vận động một cách thích hợp và có quy tắc.)

Vì 底, 的, hay 地 đều đánh dấu như nhau những thuộc ngữ mà trong các ngôn ngữ phương Tây phân biệt thành danh từ thuộc cách, tính từ, mệnh đề giới từ và mệnh đề quan hệ, và vì Lỗ Tấn dùng khá ít trợ từ để phân biệt các loại thuộc ngữ khác nhau (đôi khi có 在 (ở, tại), 对于 (đối với, về phần) hoặc các giới từ khác, một hai lần dùng 那 (“đó”) giữa động từ và tân ngữ của nó, một vài dấu phẩy để tách các nhóm từ), các bản dịch sát từng chữ của các văn bản phương Tây mang nặng lý thuyết này đôi khi rất khó đọc. Trong tiếng Trung trước đó, thuộc ngữ ngắn và ít hơn. Vương Lực, nhà nghiên cứu ngữ pháp nổi tiếng, từng nhận định: “Thuộc ngữ trong tiếng Trung cổ luôn tương đối ngắn; từ đời Đường trở đi, dù đã có vài thuộc ngữ khá dài, vẫn không thể sánh bằng thuộc ngữ tiếng Trung hiện đại nếu xét về độ dài và tần suất.”[25]

Chính trong nỗ lực làm cho các văn bản này dễ đọc hơn mà Lỗ Tấn đã tập thói quen viết de theo nhiều cách.

Trong tiếng Trung đương đại, có hai dạng de/dì: một cách là viết thành hình tự 的 (đích) dùng đánh dấu các danh từ thuộc cách, tính từ và ngữ đi trước bổ nghĩa cho danh từ, cách còn lại là viết thành hình tự 地 (địa) có vai trò nối trạng từ với động từ mà nó bổ nghĩa. Hai hình tự này có chung một nguồn gốc, và trong bạch thoại cũ, chúng được viết bằng cùng một cách 的. Cách viết này tiếp tục được dùng trong phong trào Ngũ Tứ; Lỗ Tấn cũng viết như thế trong các tác phẩm và bài dịch của mình đến tận giữa những năm 1920.

Không chỉ có Lỗ Tấn nhận thấy cần phải tách bạch các loại di với nhau. Cả 地và một chữ nữa là 底 (để) đều được đưa vào sử dụng, nhưng cách dùng dao động không xác định. Vào năm 1924 hoặc 1925, Lỗ Tấn quyết định dùng 地 để đánh dấu trạng từ (như cách dùng ngày nay), 底 dùng để đánh dấu tính từ, và 的 để đánh dấu thuộc cách và các ngữ. Bằng cách này, ông có thể phân biệt giữa 空间的 (空间的 … 要素, không gian đích … yếu tố, “yếu tố không gian”) và 空间底 (空间底 距离, không gian để cự li, “khoảng cách về không gian”) như ví dụ trên.

Nhưng Lỗ Tấn còn đi xa hơn. Với nhiều danh từ, ông dùng 底 làm đuôi thường trực cho dạng tính từ (như 规则底 nghĩa là “có quy tắc” bắt nguồn từ danh từ 规则, “quy tắc”), rồi ông lại thêm một chữ 地 hay 的 nữa tuỳ vào ngữ cảnh của câu. Và như thế là ta có 规则底地运动 (quy tắc để địa vận động, “vận động một cách có quy tắc”) bên cạnh 规则底的运动 (quy tắc để đích vận động, “sự vận động có quy tắc”).[26]

Điểm thú vị là Lỗ Tấn cũng tự giải thích cho những cải tiến này bằng cách quy chiếu đến các ngôn ngữ phương Tây:

Văn bản này (Biểu tượng thống khổ[27]) chủ yếu được dịch sát từng từ, mà tôi cũng muốn bảo tồn giọng văn nguyên bản. Nhưng tôi chỉ là kẻ tay mơ khi nói đến văn phạm của ngôn ngữ nước nhà, nên không tránh khỏi viết ra nhiều mệnh đề bất quy tắc trong đó. Trong số đó, có điều tôi cần phải nói rõ là có vài chỗ, tôi không dùng 的 mà cố tình viết 底. Khi một tính từ gắn với một danh từ tạo thành một ngữ, tôi dùng 底 giữa chúng. Ví dụ như 社會底存在物 (xã hội để tồn tại vật) để chỉ “social being” (tồn tại xã hội) và 精神底伤害 (tinh thần để thương hại) để chỉ “Psychische Trauma” (chấn thương tinh thần), vân vân. Ngoài ra, khi tính từ được cấu thành từ một từ khác có đuôi là “-tive,” “-tic,” vân vân, tôi cũng lấy 底 làm đuôi, như trong 思索底 (speculative, mang tính ước đoán), 浪漫底 (romantic, lãng mạn).[28]

Lỗ Tấn không rành tiếng Anh và cũng không bao giờ từng dịch từ ngôn ngữ này. Việc ông lấy nó ra làm ví dụ có thể là vì cấu trúc một số từ tiếng Anh có thể mô phỏng trong tiếng Trung: 思索 (tư sách, “speculate”, ước đoán), 思索底 (tư sách để, “speculative”, mang tính ước đoán), 思索底地 (tư tác để đích, “speculatively”, một cách ước đoán).

Một mặt, đây chủ yếu là vấn đề về dịch thuật. Những phương tiện ngữ pháp này – ba loại di (底,地,的) và cả di kép (底地) – được dùng chủ yếu trong các bài lý thuyết và sách về lý thuyết văn chương mà Lỗ Tấn đã dịch cuối những năm 1920, đầu 1930; trong các bản dịch tác phẩm hư cấu và cả những tác phẩm chính ông viết, cách dùng này hiếm thấy. Chỉ khi nào tuân theo nguyên tắc dịch sát từng từ đối với các văn bản lý thuyết chứa nhiều câu cực kỳ phức tạp và từ vựng trừu tượng, ông mới thấy cần phải dùng đến trợ từ. Ông xem những văn bản này rất quan trọng và cố hết sức tránh để nội dung bị xuyên tạc.

Tuy nhiên, dịch các văn bản lý thuyết không phải là vấn đề duy nhất. Lỗ Tấn cũng có một số quan điểm xác định về tiếng Trung và nhu cầu cải tổ nó. Các quan điểm này được ông thể hiện trong các lời dẫn, các bài bút chiến vân vân.

Cách tân tiếng Trung

Để đáp ứng nhu cầu thời đại mới, Lỗ Tấn cho rằng tiếng Trung cần tiếp thu những phương tiện diễn đạt mới và học hỏi từ các ngôn ngữ khác (tức là các thứ tiếng phương Tây). Tiếng Trung từng trải qua nhiều lần như thế trong các giai đoạn lịch sử khác. Cả tiếng Nhật đương thời cũng đã được cách tân và tiếp thu nhiều cách diễn đạt mới.

Trong bài “ ‘Dịch cứng’ và ‘tính giai cấp của văn chương’ ” (《硬译》与《文学的阶级性》- Ngạnh dịch dữ văn chương đích giai cấp tính) mà ông viết vào đầu năm 1930 trong cuộc bút chiến với Lương Thực Thu, ông cho rằng:

Tiếng Nhật rất “khác” với các thứ tiếng Âu-Mỹ, nhưng nó cứ dần dần dung nạp nhiều cấu trúc câu mới, và so với ngôn ngữ cũ, thì tiếng Nhật ngày nay thích hợp hơn cho việc dịch mà không làm mất đi văn phong chuẩn xác của văn bản gốc. Tất nhiên, thoạt đầu, họ cũng phải “dò tìm mạch cấu trúc câu” mà đối với nhiều người chẳng “vui thú” gì, nhưng bằng cách dò tìm và làm quen, những thứ này nay đã được đồng hoá và trở thành một phần ngôn ngữ của họ. Ngữ pháp tiếng Trung còn nghèo nàn hơn tiếng Nhật cổ điển, nhưng nó cũng có những thay đổi được ghi nhận: Sử kýHán thư khác với Kinh Thư, cũng như bạch thoại ngày nay khác với Sử kýHán thư; chúng ta cũng có những lần bổ sung và sáng tạo, như trong các bản dịch kinh Phật đời Đường và các bản dịch sắc dụ của triều đình đời Nguyên; có cả kha khá những sáng tạo trong “ngữ pháp, cú pháp và từ vựng,” nhưng một khi những thứ này đã thành lệ, người ta có thể đọc hiểu ngay chứ không cần phải lấy ngón tay mà dò theo từng chữ nữa. Giờ ta lại lần nữa gặp các “ngoại ngữ,” nhiều cấu trúc mới cần phải được tạo ra từ đầu – nói một cách thô lậu thì là phải nặn ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể giữ được phong vị văn bản gốc khi dịch theo cách này tốt hơn là sắp xếp nó lại thành nhiều mệnh đề, nhưng bởi vì tiếng Trung cũ chưa được cải tổ nên ngôn ngữ viết của nó có nhiều bất cập.[29]

Nhận định rằng tạo ra những cấu trúc câu mới thì tốt hơn là sắp xếp lại thành nhiều mệnh đề, Lỗ Tấn đã làm rõ rằng “bất cập” ông nghĩ đến chính là khó khăn khi chuyển những cấu trúc cú pháp phức tạp phổ biến trong các ngôn ngữ phương Tây sang tiếng Trung – tiếng Trung có xu hướng dùng các cụm tương cận thay vì mệnh đề phụ thuộc, quan hệ giữa các mệnh đề thường do ngữ cảnh hàm chỉ hoặc chỉ được ám chỉ mơ hồ.

Đặc điểm này của tiếng Trung được nhiều người khác để ý ngoài Lỗ Tấn. Bernhard Karlgren, trong công trình giới thiệu tiếng Trung nổi tiếng của mình, Sound and Symbol in Chinese (Âm thanh và ký hiệu trong tiếng Trung), bàn về bản chất “sơ sài” của tiếng Trung, bắt nguồn từ “sự thiếu các đơn vị chỉ đường rõ rệt” và “sự mơ hồ trong cấu trúc câu,” vì các nguyên nhân này mà đôi khi một câu có thể dịch theo hai hay nhiều hướng khác xa nhau nhưng đều đúng.[30]

Và Karlgren còn nói thêm, người Hoa thích sự mơ hồ này và còn làm chúng nổi bật. Trong mắt Lỗ Tấn, người luôn phê bình sự mơ hồ và bất quyết của người Hoa, việc họ không thể nhìn nhận thực tế theo đúng cách, thì sự mơ hồ của ngôn ngữ hẳn cũng là mặt bên kia của cùng một vấn đề.

Cũng theo Karlgren, đây là đặc điểm của tiếng Trung cổ điển và ít thấy trong tiếng Trung hiện đại. Tiếng Trung hiện đại vừa có tính hàm súc của văn ngôn vừa có thể tạo thành các cụm dài như những ngôn ngữ phương Tây. Giai đoạn chuyển tiếp, khi tiếng Trung tiếp thu những cấu trúc cú pháp mới, chính xác là vào giai đoạn Ngũ Tứ. Nhà nghiên cứu ngữ pháp Vương Lực chỉ ra nhiều cải tiến khác nhau như mạo từ bất định, các cách kết hợp danh từ và động từ mới, cũng như cách mới để chèn các ngữ; nhưng cải tiến quan trọng nhất là ngôn ngữ trở nên vừa chặt chẽ vừa phức tạp hơn – Vương Lực đề cập việc dùng nhiều thuộc ngữ hơn, danh từ bắt nguồn từ động từ, và các trạng ngữ khác.[31]

Sự phát triển này có thể theo dõi được trong các bài viết của chính Lỗ Tấn: các bài luận ban đầu từ 1918-19 vẫn dựa vào văn ngôn tới một mức nào đó, trong khi các bài luận từ khoảng 1930 cho thấy các ảnh hưởng của cú pháp phương Tây. Các bài luận sau này được viết bằng bạch thoại mượt mà và dễ hiểu hơn, gần với ngôn ngữ nói – những năm 1930 cũng là thời điểm diễn ra bàn luận về nhu cầu phải có một thứ “ngôn ngữ đại chúng” (大众语, đại chúng ngữ).

Tất nhiên tác động từ các ngôn ngữ phương Tây chỉ là một trong những ảnh hưởng đối với tiếng Trung hiện đại, tác động mạnh yếu cũng tuỳ lúc. Phùng Tuyết Phong là một nhà văn có các bài viết mang nặng “phong vị phương Tây.” Nhưng đến những năm 1930 và đặc biệt là những năm 1940, khi các chính sách văn hoá của Đảng Cộng sản áp dụng rộng rãi, ảnh hưởng của các ngôn ngữ phương Tây và văn ngôn đã yếu đi, và tiếng phổ thông hiện đại đã gần với ngôn ngữ nói hơn bạch thoại của giai đoạn phong trào Ngũ Tứ. Nhưng cho đến tận ngày nay, ảnh hưởng của các ngôn ngữ phương Tây vẫn có thể được tìm thấy trong một số văn phong – dĩ nhiên là cả văn ngôn cũng còn để lại ảnh hưởng.

Cuộc bàn luận về vấn đề này vẫn chưa ngã ngũ. Nhà văn học sử, đồng thời là nhà nghiên cứu Lỗ Tấn, Bồ Nguyên Bồi (bút danh Lâm Phi), trong một cuộc thảo luận vào tháng Tư 1987, có nói với tôi rằng ông nghĩ tiếng Trung sẽ hưởng lợi từ việc học theo cấu trúc logic và chặt chẽ hơn của các ngôn ngữ phương Tây. Mặt khác, nhà văn-nhà viết kịch Cao Hành Kiện từng nói trong bài phát biểu tại Stockholm (ngày 22 tháng Hai 1988) rằng đặc điểm này của tiếng Trung (thiếu từ loại, các hình thái thì động từ, vân vân) có liên hệ chặt chẽ đến triết lý và thế giới quan Đông phương, khiến cho ngôn ngữ uyển chuyển, giàu tính biểu đạt, vậy nên gìn giữ nó là điều cần thiết.

Nhưng ta hãy trở lại với các bản dịch Lunacharsky và Plekhanov của Lỗ Tấn. Dĩ nhiên Lỗ Tấn đã có thể dịch các văn bản này sang bạch thoại kiểu cách hoặc văn ngôn. Nhưng các văn bản nặng chứa nhiều cấu trúc câu phức tạp này sẽ bị biến đổi thành một thứ gì khác, văn phong của chúng cũng sẽ không như cũ – có khi cả nội dung cũng thế. Cấu trúc câu sẽ phải bị cắt thành các mệnh đề đơn giản hơn – ít nhất Lỗ Tấn tin là vậy, nhưng Lỗ Tấn không tin bản thân có thể làm việc này, dù ông cũng luyến tiếc:

… cuốn sách, dù sao đi nữa, đã trở thành một tác phẩm cồng kềnh, tẻ nhạt, khó đọc, mà tôi thì chắc chắn không tránh được sai lầm. Ai đó dành trọn tâm huyết cho các nghiên cứu này sẽ phải tạo ra một bản dịch thoáng hay thậm chí là diễn đạt lại bằng cách tách cú pháp gốc và làm cho hệ thuật ngữ giản dị hơn, và sẽ tốt hơn nữa nếu có ai đó dịch thẳng từ ngôn ngữ gốc.[32]

Ta có thể thấy kiểu thanh minh này trong nhiều lời nói đầu các bản dịch của Lỗ Tấn. Ông thấy rõ các văn bản này rất khó đọc; điều khiến ông tiếp tục dịch theo kiểu đó là niềm tin rằng những thứ ông đang dịch rất quan trọng, một tài liệu thiết yếu không chỉ cho cuộc tranh luận hiện tại về văn chương cách mạng vô sản, mà còn cho toàn bộ phong trào văn chương cánh tả – và cả niềm tin rằng các bản dịch phải sát và cẩn trọng vì kiến thức của các nhà hoạt động về các học thuyết này vẫn còn nông cạn. Trong một đoạn văn nổi tiếng, ông sánh mình với Prometheus, người trộm lửa từ các đấng thần linh và đem tặng cho loài người. Ông tự đặt câu hỏi rằng ông dịch cho ai, và ông trả lời:

… cho bản thân mình, cho một vài người tự nhận mình là nhà phê bình vô sản, và cho những độc giả không muốn kiếm tìm “vui thú,” không ngại khó và ít nhất hiểu được một phần các học thuyết này.

Lỗ Tấn đã nhiều lần đề cập trong các lời dẫn mong muốn giữ gìn “không khí gốc” của văn bản và nhiều lần công kích khái niệm “mượt mà” (顺意, thuận ý). Ta có thể kết luận ông tin rằng “Hán hoá” quá sâu một văn bản sẽ thay đổi bản chất của nó. Tiếng Trung cũ, với tất cả những cách diễn đạt đã ăn sâu bám rễ và phương thức ngôn từ đã thành thói quen, mang trong mình di sản của hàng nghìn năm văn hoá Trung Quốc, do đó không tránh khỏi lây phong vị đó cho một văn bản mới viết hoặc mới dịch. Đây là điều không như ý; vì thế, tốt hơn nên “dịch cứng” để giữ lại các cách diễn đạt gốc. Cách làm này đã được áp dụng trước đây trong lịch sử Trung Quốc, và cũng nhờ cách này mà tiếng Trung phát triển. Cái mà hôm nay người ta gọi là “cứng” mai sau sẽ trở nên “mượt mà;” mặt khác, một số cách diễn đạt “cứng” sẽ bị đào thải vì chúng không hay hoặc không cần thiết.

Đi tìm cách diễn đạt “mượt mà” cũng dễ khiến người ta lơ là các sắc thái tinh tế. Có lần Lỗ Tấn đã nói:

… dù “山背后太阳落下去了” (sơn bối hậu, thái dương lạc hạ khứ liễu – sau lưng núi, Mặt Trời lặn xuống rồi) nghe không mượt mà, tôi sẽ không sửa lại thành “日落山阴” (nhật lạc sơn âm, Mặt Trời khuất núi), vì trong văn bản gốc, núi là vật chính, và nếu ta đổi, Mặt Trời lại trở thành trung tâm. Ngay trong sáng tác đi nữa thì, theo tôi nghĩ, các tác giả nên chú ý đến sự khác biệt này.[33]

Vậy là sự cẩn trọng và tôn trọng đối với văn bản gốc (cộng thêm nội dung tiến bộ) là những đòi hỏi chính của Lỗ Tấn đối với một bản dịch. Ông cảm thấy tập quán dịch thoát của Trung Quốc (chính điều này đã khiến ông phê bình Lâm Thư từ ngay buổi đầu) đã trở thành thói xấu dai dẳng đến nay mà ta cần phải bài trừ. Trong các bình luận khác khoảng năm 1930, ông lại quay về với những điểm này.

Ngoài đòi hỏi về sự cẩn thận và chữ tín với văn bản gốc, ông lại có thái độ tương đối cởi mở với các vấn đề khác.

Ông chỉ trích xu hướng chỉ bắt lỗi của các nhà phê bình. Ông nói rằng các nhà phê bình nên “chỉ ra cái tệ và khen ngợi cái hay, mà nếu không có gì hay thì họ cũng nên khen cái khá hay.”[34]

Ông cho rằng một bản dịch trực tiếp từ văn bản gốc tất nhiên sẽ hay hơn bản dịch gián tiếp qua thứ tiếng khác, nhưng người ta không thể đòi hỏi duy nhất những bản dịch trực tiếp được – khi đó người ta chỉ có những tác phẩm từ các quốc gia nói tiếng Anh và từ Nhật Bản, Trung Quốc chẳng thể nào tao ngộ Ibsen, Ibáñez, H. C. Andersen, hay Cervantes.[35]

Còn về thiên hướng chính trị, ta không nên quá giáo điều. Ông dẫn lại lời Wittvogel và Engels đại ý rằng văn chương không cần phải có tính cách mạng và luôn phải đưa ra giải pháp cho các vấn đề nó nêu lên – nếu nó xé tan các ảo tưởng và miêu tả thực tế, vậy cũng là đủ.[36] Ông chỉ ra rằng ta cũng nên đọc các nhà văn tư sản; ở Liên Xô các tác phẩm tư sản tốt vẫn được dịch, được in, và được đọc.[37] Ông còn nói thêm rằng các nhà văn cánh tả ở Trung Quốc không chỉ nên dịch các tác phẩm Liên Xô, mà nên dịch cả một số tác phẩm của các tác giả xuất thân tiểu tư sản nhưng tự xem mình là vô sản như Barbusse, cũng như một số nhà xã hội chủ nghĩa Cơ Đốc giáo như Sinclair.[38]

Lỗ Tấn nêu quan điểm của mình về dịch thuật vào các năm 1930-33, đây cũng là thời điểm những cuộc bút chiến dữ dội nhất diễn ra – chủ yếu là do các bản dịch lý thuyết văn chương Marxist, và không thể không mang dấu ấn của những mâu thuẫn chính trị gay gắt đương thời.

Nhưng dù Lỗ Tấn mạnh mẽ bảo vệ những nguyên lý của mình, ông cũng dần dà (hoặc trước nay vốn vẫn) nhận thức được rằng ít nhất một số bản dịch các tác phẩm của Lunacharsky và vài người khác của ông đã thất bại. Trong một bài viết năm 1931,[39] Cù Thu Bạch phê bình cách dịch sát từng từ của Lỗ Tấn, đề ra nguyên lý “chính xác tuyệt đối, bạch thoại tuyệt đối” (絕對的正確, 絕對的白話)[40], và cho rằng bạch thoại nên được gây dựng trên nền ngôn ngữ mà mọi người nói thực sự, từ nông phu đến nhân sĩ, trong đời sống thường nhật; khi đọc thành tiếng thì ai cũng phải hiểu dễ dàng. Trong một lời hồi đáp thân tình (đánh dấu sự bắt đầu tình bạn giữa hai người), Lỗ Tấn chấp nhận hầu hết lời phê bình nhưng vẫn kiên định với nguyên lý “nên trung thành hơn là nên mượt mà.”

Nhiều cuộc thảo luận về vấn đề ngôn ngữ diễn ra cùng một lúc vào thời kỳ này. Bạch thoại chủ yếu là ngôn ngữ của tác phẩm hư cấu và được dùng trong nhà trường, trong khi các tài liệu khoa học vẫn chủ yếu được viết bằng văn ngôn. Có người vẫn cho rằng văn ngôn vẫn là ngôn ngữ tốt nhất cho các mục đích khoa học và học thuật, trong khi cũng có người cho rằng bạch thoại cũng nên được dùng cho các mục đích này, nhưng vẫn cảnh báo không nên Tây hoá quá đà.[41]

Trong nội bộ cánh tả, lại có cuộc thảo luận về một thứ “ngôn ngữ đại chúng” và phiên âm tiếng Trung bằng bảng chữ cái Latin. Lỗ Tấn ủng hộ nồng nhiệt Latin hoá nhưng lại cho rằng không thể có “ngôn ngữ đại chúng” thực sự một khi quần chúng chưa thức tỉnh và tự tạo cho mình ngôn ngữ này; từ đây đến đó, nhân sĩ trí thức phải cố gắng cải thiện bạch thoại:

Việc ta có thể làm lúc này là: … nỗ lực để làm cho bạch thoại giản đơn và rõ ràng hơn để ai cũng hiểu được, mặt khác ta vẫn nên gây dựng một thứ ngôn ngữ tạm gọi là “Tây hoá” chuẩn xác hơn, vì nếu ta muốn ăn nói chuẩn xác thì ngữ pháp gốc của tiếng Trung thôi chưa đủ, mà ngôn ngữ đại chúng của Trung Quốc tuyệt đối không thể mãi mãi mơ hồ được.[42]

Vậy là Lỗ Tấn bảo vệ những nguyên lý của mình, nhưng ông vẫn chịu ảnh hưởng từ những cuộc thảo luận đó, và ngôn ngữ của ông trong những năm 1930 mỗi lúc một giản đơn hơn và gần gũi ngôn ngữ nói hơn là trước đây – kể cả trong tác phẩm và trong bản dịch.

Các bản dịch cuối cùng

Có hai tác phẩm mà Lỗ Tấn dồn rất nhiều công sức trong những năm cuối đời: Đồng hồ đeo tay của Panteleev và Những linh hồn chết của Gogol.

Đồng hồ đeo tay là truyện thiếu nhi viết bằng thứ ngôn ngữ giản đơn mà sống động, nhưng vẫn có cái khó. Trong thư gửi Tiêu Quân và Tiêu Hồng, ông than phiền:

Ba ngày đầu năm, tôi đã dịch sáu nghìn chữ trong một truyện thiếu nhi. Tôi muốn tránh các hình tự khó và dùng ngôn ngữ tương đối giản đơn. Tôi đã không ngờ nó lại còn khó hơn cả viết bằng cổ văn; ngày nào tôi cũng làm việc đến nửa đêm, sau đó lại còn mộng mị nhiều cơn kỳ quái…[43]

Hầu hết dịch giả đều đồng ý rằng dịch thành một thứ ngôn ngữ đơn giản cũng chẳng dễ hơn dịch thành một thứ ngôn ngữ khó. Tuy nhiên, trong trường hợp này, kết quả thu được là một văn bản đơn giản (thậm chí là giản lược rất nhiều) mà vẫn bảo tồn được khá nhiều tính trực tiếp và hiệu quả của bản gốc. Nhưng không chỉ có văn phong đặt ra vấn đề, nhiều từ đặc biệt cũng gây khó. Lỗ Tấn nêu ra từ Gannove trong tiếng Yiddish, cùng với nhiều từ khác, mà lúc đầu ông dịch là 怪物, “quái vật” (một người kỳ khôi) rồi sau đó đổi thành 头儿,“đầu nhi” (người đứng đầu); rốt cuộc ông đã xuất bản một phần ghi chú trong cuốn Văn dịch mới, nói rằng một người bạn đã giúp ông tìm ra nghĩa thật: 偷儿, “du nhi” (kẻ trộm).[44]

Trong một lá thư khác gửi Tiêu Quân và Tiêu Hồng, ông than phiền bản thân không còn sức:

Bệnh tình mấy ngày qua chắc là do gấp gáp dịch cho xong một truyện thiếu nhi – hơn 40.000 chữ trong mười ngày, như vậy có vẻ quá sức hiện tại của tôi rồi. Dầu gì thì giờ bản dịch cũng đã xong…[45]

Những linh hồn chết là tiểu thuyết thuộc kiểu hoàn toàn khác và đặt ra cho dịch giả những vấn đề nan giải hơn truyện Đồng hồ đeo tay. Tác phẩm này không chỉ có thời điểm xa xưa và bối cảnh rất ngoại quốc mà còn chứa nhiều miêu tả các chi tiết cụ thể vốn xa lạ với Lỗ Tấn. Ngôn ngữ cũng khó. Tác phẩm không chứa các cấu trúc câu cồng kềnh phức tạp như những tác phẩm lý thuyết văn học vài năm trước, nhưng lại được viết bằng thứ văn xuôi nhẹ nhõm và châm biếm, giàu tính liên tưởng và có nhiều đoạn ngoại đề. Công việc dịch tốn của ông nhiều thời gian, và ông đề cập đến các vấn đề này trong nhiều bài luận:

Khi biên tập của “Thế giới văn khố” yêu cầu tôi dịch Những linh hồn chết của Gogol, tôi đồng ý ngay mà chẳng cần nghĩ. Tôi chỉ đọc nhanh qua cuốn sách và nghĩ rằng tác phẩm này được viết đơn giản và thiếu những yếu tố lạ lùng trong các tác phẩm hiện đại – người thời đó vẫn khiêu vũ trong ánh nến, vậy nên sẽ chẳng có những thuật ngữ hiện đại mà người Trung Quốc chưa biết, những thuật ngữ mà dịch giả phải tự mình nghĩ ra… Xúi quẩy thay, tôi đã quá tự tin và đánh giá thấp Những linh hồn chết… Vâng, khi nhìn kỹ hơn, tôi thấy văn phong thực sự giản dị và thẳng thắn, nhưng đâu đâu cũng thấy gai nhọn – có cái lộ liễu, có cái thì bị giấu đi chỉ có thể cảm nhận; mà dù có là một bản dịch gián tiếp, tôi vẫn phải cố gắng chuyển ngữ những lời chế giễu. Đúng vậy, không có đèn điện, xe hơi, nhưng lại có những thực đơn, những món đồ cờ bạc, và phục trang đầu thế kỷ 19 xa lạ. Thế là tôi loay hoay ở đó, bàn tay luôn khư khư cuốn tự điển, cơ thể thì lúc nào cũng toát mồ hôi lạnh, mà chỉ có thể trách trình độ ngôn ngữ của bản thân còn yếu kém quá.[46]

Lỗ Tấn không thấy mình cần phải khắt khe như khi dịch Lunacharsky. Và trong thực tế, dù ông tự hạ thấp mình bằng những lời như vậy, bản dịch Những linh hồn chết của ông vẫn có thể đọc được và vẫn đi theo những mạch truyện gốc. Giờ đây, ông cho phép bản thân tự do hơn khi dịch các chi tiết, ông còn cắt các mệnh đề phụ thuộc thành các cụm tương cận nhiều hơn trước đây; nhưng nhìn vào tổng thể, ông vẫn theo rất sát văn bản gốc, ít khi nào thay đổi thứ tự các mệnh đề và hiếm khi ngần ngại đặt mệnh đề phụ sau mệnh đề chính (nhưng ông còn làm như thế trong các tác phẩm do chính mình viết nữa). Ông còn có thể đặt phần giới thiệu lời dẫn sau trích dẫn, cho dù trước nó là một mệnh đề phụ rất dài:

《如 果 柯 式 凯 略 夫 大 佐 确 是 发 疯 的,那 就 着 实
“Như quả Kha Thức Khải Lược Phu đại tá xác thị phát phong đích, na tựu trứ thực
“Wenn de Oberst Koschkarjov wirklich verrückt ist, så wäre das garnicht

不坏 了,》 当 乞 乞 科 夫 又 到 了 广 宇 之 下, 旷 野 之 上
bất hoại liễu,” đương Khất Khất Khoa Phu hựu đáo liễu nghiễm vũ chi hạ, khoáng dã chi thượng
übel,” sagt Tschitschikow, als er sich wieder unter offenem Himmel auf

的 时 候, 他 说
đích thì hậu, tha thuyết.
freiem Felde befand.[47]

(“Nếu đại tá Koshkaryov đúng là phát điên thật, thì cũng không tồi,” khi Chichikov đã lại về nơi đồng không mông quạnh, hắn nói.)

Ngoài một số cấu trúc kỳ cục lạ lùng như thế này, bản dịch đọc khá dễ chịu. Vấn đề chính của Lỗ Tấn khi dịch văn bản này (mà chính ông cũng thấy nó đầy rẫy vấn đề) nằm ở từ vựng: sự phong phú trong miêu tả chi tiết y phục, thức ăn, nhà cửa, phòng ốc, vân vân, phần lớn nói về hoàn cảnh thế kỷ 19, những tước hiệu và thuật ngữ riêng cho Nga, cũng như nhiều loại liên tưởng khác nhau. Ông thêm vào nhiều chú thích, trong đó chỉ có một số ít là có trong bản dịch tiếng Đức của Otto Buek. Chẳng hạn, Hoàng Nguyên từng đề cập đến việc Lỗ Tấn phải tìm hiểu tư thế của Thần Vệ nữ Medici (bức tượng cổ điển của Cleomenes) vì văn bản gốc có nhắc đến bức tượng này và Lỗ Tấn cảm thấy cần phải giải thích về nó.[48]

Vài lời kết

Quan điểm của Lỗ Tấn về dịch thuật nhất quán với quan điểm của ông về sự cần thiết học tập từ phương Tây nói chung: ý tứ và nội dung là quan trọng, và nhiệm vụ chính của bản dịch là phải phản ánh nội dung văn bản gốc càng sát càng tốt, hình thức trang nhã chỉ sắp thứ hai.

Nhưng Lỗ Tấn cảm thấy các phương pháp dịch thuật cũng quan trọng. Cũng như đất nước Trung Quốc cần phải thay đổi, tiếng Trung cũng cần phải được cải tổ, và để trở thành công cụ phù hợp cho văn chương và văn hoá hiện đại, nó cần tiếp thu các yếu tố từ các ngôn ngữ hiện đại phương Tây. Nhật Bản đã làm chuyện này. Vấn đề không chỉ nằm ở từ vựng, ở mượn từ mới, mà còn là học theo những yếu tố cú pháp mới mà thông qua đó các quan hệ phức tạp có thể được diễn đạt bằng những loại mệnh đề phụ thuộc khác nhau. Ta có thể so sánh việc này với cách tiếng Latin ảnh hưởng đến các ngôn ngữ mà ta gọi là bình dân ở châu Âu trong thời Trung Cổ. Tất nhiên sự khác nhau nằm ở chỗ tiếng Trung đã là một ngôn ngữ văn chương phát triển trước khi có sự ảnh hưởng này.

Do đó, điều quyết định phong cách dịch thuật của Lỗ Tấn, trước hết, là độ quan trọng mà ông dành cho việc dịch đúng và, thứ hai, là xác tín của ông cho rằng tiếng Trung sẽ hưởng lợi khi đưa vào các hình thức mới. Ông dùng các hình thức và cách diễn đạt không có trong tiếng Trung vì ông tin rằng không thể làm khác mà không làm cho nghĩa bị thay đổi, biến đổi bầu không khí trong văn bản gốc, hao hụt các sắc thái và khiến cho văn bản “quá Trung.” Ông vừa tiếc nuối vừa bảo vệ quan điểm của mình; mặt khác, nếu ta phải dùng cách diễn đạt không có trong tiếng Trung, nghĩa là chỗ ấy trong tiếng Trung truyền thống bị thiếu, nên có thể được phép dùng. Một số cải tiến được đưa vào rồi sẽ được chấp nhận và dung nạp vào ngôn ngữ chung, trong khi số khác sẽ bị đào thải.

Có thể tìm thấy các ảnh hưởng của ngôn ngữ phương Tây lên các bản dịch của Lỗ Tấn chủ yếu trong các văn bản phi hư cấu, các bài viết và bài luận ít nhiều có tính khoa học và lý thuyết. Trong các tác phẩm hư cấu, ảnh hưởng này ít thấy hơn.

Ngôn ngữ trong các truyện ngắn và bài luận của Lỗ Tấn tự sáng tác thể hiện rất ít ảnh hưởng trực tiếp từ các ngôn ngữ phương Tây (ta chỉ có thể tìm thấy ảnh hưởng phương Tây rõ ràng trong số ít các bài viết lý thuyết hơn của ông). Vì vậy, có một sự khác biệt rõ rệt giữa “ngôn ngữ dịch” của Lỗ Tấn và “ngôn ngữ viết” của ông. Trong truyện của mình, ông đã đúc kết tôn chỉ của mình như sau:

Khi tôi viết xong, tôi luôn đọc lại hai lần, và khi tôi đọc thấy kỳ, tôi sẽ thêm vào hoặc gạch bỏ vài chữ để có thể làm văn mình mượt hơn; nếu tôi không thể tìm được một cách diễn đạt phù hợp trong ngôn ngữ nói, tôi dùng cách trong cổ ngữ với hy vọng, ít nhất, có vài độc giả sẽ hiểu được; tôi hiếm khi dùng các cách diễn đạt mới tạo mà chỉ có tôi mới hiểu, hoặc thậm chí cả tôi cũng không hiểu.[49]

Có thể thấy rằng ông có quan điểm khác nhau về viết và dịch. Trong tác phẩm của chính mình, ông tự quyết, trong các bản dịch, ông phải bám theo văn bản gốc – ông không chỉ phải dịch đúng mà còn phải “bảo tồn không khí văn bản gốc” bằng cách sử dụng các cấu trúc câu vân vân giống như trong đó.

Miên Túc dịch


[1] Vương Lực, Hán ngữ sử cảo (漢語史稿, Sơ lược lịch sử Hán ngữ), Bắc Kinh, 1958, tr. 477-78, và Henri Maspéro, Le Taoïsme et les religions chinoises (Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc), Gallimard, 1971, tr. 48-49.

[2] Lâm Cầm Nam tiên sinh, từ Tiền Chung Thư và nhiều người khác, Lâm Thư đích phiên dịch (林紓的翻譯, Các bản dịch của Lâm Thư), Bắc Kinh, 1981, tr. 15.

[3] Như trên, tr. 19.

[4] Xem ví dụ và phân tích ở sách trên, tr. 18-52.

[5] Lời bàn của dịch giả trong Thiên diễn luận (bản dịch của Nghiêm Phục cho tác phẩm Evolution and Ethics (Tiến hoá và đạo đức) của Thomas Henry Huxley), trong Nghiêm Phục tập (嚴復集, Tập hợp tác phẩm Nghiêm Phục), V, tr. 1321-22 (Bắc Kinh, 1986).

[6] Hứa Thọ Thường, Vong hữu Lỗ Tấn ấn tượng ký (亡友魯迅印象記, Những kỷ niệm về người bạn Lỗ Tấn đã khuất), tr. 8.

[7] Luận về giới hạn quyền lực giữa tập thể và cá nhân.

[8] Giới hạn quyền lực.

[9] Xem Nghiêm Phục tập, V:1319. Trích dẫn không nguyên văn.

[10] Sđd, tr. 1321.

[11] Mahāyāna Śraddhotpāda Śāstra (Luận về tỉnh thức trong niềm tin Đại thừa), cuốn kinh được cho là do Mã Minh Bồ Tát (Aśvaghoṣa) soạn. Ông là nhà thơ Phật giáo có lẽ sống ở miền bắc Ấn vào thế kỷ thứ hai Tây lịch. Nguyên tác tiếng Phạn hiện đã mất, nhưng ở Trung Quốc, bản dịch được đánh giá cao. Sách Từ nguyên (Bắc Kinh, 1979, tr. 682) chỉ đề cập hai bản dịch sang tiếng Trung, một là từ đời nhà Lương (502-556), một là từ đời nhà Đường.

[12] Quan vu phiên dịch đích thông tín (关于翻译的通信, Thư ngỏ về dịch thuật), Lỗ Tấn toàn tập (魯迅全集), IV:374-76.

[13] Thư gửi Masuda Wataru, 1932, xem Lỗ Tấn thư tín tập (魯迅書信集, Tập thư từ của Lỗ Tấn), tr. 1088, 1090.

[14] Ghi chép chưa có đề 2 (《題末定》草 (二), “Đề mạt định” thảo 2), Lỗ Tấn toàn tập, VI:348-49.

[15] Lu Hsün and his Predecessors (Lỗ Tấn và các tiền bối của ông) (Charles J. Alber dịch), New York, 1980, tr. 114.

[16] Sđd, tr. 21-24.

[17] Phần đầu truyện “Mолчание” (Im lặng), Lỗ Tấn toàn tập, XI:202.

[18] Sđd.

[19] Truyện ngắn của nhà văn Nga Mikhail Artsybashev (chú thích của người dịch).

[20] “Sau khi dịch ‘Người công nhân Shevyrev’ ” (译了《工人绥惠略夫》之后, “Dịch liễu ‘Công nhân Tuy Huệ Lược phu’ chi hậu”), Lỗ Tấn toàn tập, XI:593.

[21] Trong tập Revolutionsgeschichten (Truyện kể cách mạng), München u. Leipzig, 1909.

[22] Trong bài luận bằng tiếng Anh, tác giả chỉ trình bày bản tiếng Đức và phần bính âm (pinyin) bản dịch của Lỗ Tấn. Để tiện việc so sánh, người dịch xin phép thay bính âm bằng Hán tự và trực dịch ra tiếng Việt. Phần Hán tự được trích từ trang 610 (đoạn A) và 611 (đoạn B) trong cuốn Lỗ Tấn toàn tập, tập XI bản năm 1973, in theo bản in đầu năm 1938 của Uỷ ban tưởng niệm Lỗ Tấn. Chữ phồn thể đã được chuyển thành giản thể (chú thích của người dịch)

[24] Cũng như ví dụ trước, tác giả bài luận chỉ cung cấp bính âm cho phần dịch của Lỗ Tấn (1) và phiên chuyển tiếng Nga (2) cho nguyên văn của Lunacharsky. Để tiện việc so sánh, người dịch xin phép thay (1) bằng tiếng Trung trích từ trang 225 cuốn Lỗ Tấn toàn tập tập XV bản năm 1973 và thay (2) bằng nguyên văn tiếng Nga trích từ trang 65-66 Tuyển tập Lunarcharsky, Tập 7 (Собрание сочинений, Moskva, 1967). (chú thích của người dịch).

[25] Vương Lực, Hán ngữ sử cảo, tr. 479-80.

[26] Lỗ Tấn toàn tập, XV:225.

[27] Tức tác phẩm Kumon no shocho (苦悶の象徴) của Kuriyakawa Hakuson. Lỗ Tấn dịch thành 苦阔的象徽 (Khổ khoát đích tượng huy) (chú thích của người dịch).

[28] Lời dẫn cho苦阔的象徽 (Khổ khoát đích tượng huy – Bản dịch Biểu tượng thống khổ), Lỗ Tấn toàn tập, XIII:19. Các chữ bằng tiếng Anh và tiếng Đức trong văn bản gốc.

[29] Những phần được đặt trong ngoặc kép là do Lỗ Tấn dẫn trực tiếp lời của Lương Thực Thu.

[30] Sound and Symbol in Chinese (London, 1923), tr. 90-91.

[31] Vương Lực, Hán ngữ sử cảo, Bắc Kinh, 1958, tr. 464-85.

[32] “Lời dẫn ngắn cho Nghệ thuật luận” (藝術論, tức bản dịch tác phẩm Bàn về nghệ thuật của Georgi Plekhanov). Lỗ Tấn toàn tập, XV:175.

[33] “Thư ngỏ về dịch thuật”, Lỗ Tấn toàn tập, IV:378.

[34] Lỗ Tấn toàn tập, V:303: so sánh với Lỗ Tấn toàn tập, V: 562-63.

[35] Như trên, V:560.

[36] Như trên, V:147-49.

[37] Như trên, V:341-43.

[38] Như trên, IV:381.

[39] Cả bài viết và hồi đáp của Lỗ Tấn đều có trong “Thư ngỏ về dịch thuật”, Lỗ Tấn toàn tập, IV:360-82.

[40] Lỗ Tấn toàn tập, IV:364.

[41] Tham khảo bài viết của nhà giáo dục cấp tiến Chu Tự Thanh từ năm 1934, “Mấy ý kiến lẻ về văn ngôn và bạch thoại” (文言白话杂论, Văn ngôn bạch thoại tạp luận), in trong tập Chu Tự Thanh bàn về Ngôn ngữ và Giáo dục (朱自清论语文教育, Chu Tự Thanh luận ngữ văn giáo dục), Trịnh Châu, 1985.

[42] “Hồi đáp thư ngài Tào Tụ Nhân” (答曹聚仁先生信, Đáp Tào Tụ Nhân tiên sinh tín), 1934, Lỗ Tấn toàn tập, VI:79.

[43] Lỗ Tấn thư tín tập, tr. 715 (4 tháng Giêng, 1935).

[44] “Lời người dịch truyện Đồng hồ đeo tay” (《表》译者的话, “Biểu” dịch giả đích thoại), Lỗ Tấn toàn tập, XIV:299, và “Thư đính chính đến biên tập cuốn Văn dịch” (给《译文》编者订正的信, Cấp “Dịch văn” biên giả đính chính đích tín), Lỗ Tấn toàn tập (1958), VII:699. Tham khảo thêm Hoàng Nguyên, Tìm trong ký ức những lá thư của Lỗ Tấn (鲁迅书简追忆, Lỗ Tấn thư giản truy ức), tr. 41.

[45] Sđd, tr. 734 (21 tháng Giêng, 1935).

[46] Ghi chép chưa có đề (《題末定》草, “Đề mạt định” thảo), 1935, Lỗ Tấn toàn tập, VI:345-47.

[47] Cũng như các ví dụ trước, tác giả bài luận chỉ cung cấp bính âm cho phần dịch của Lỗ Tấn. Để tiện việc so sánh, người dịch xin phép thay bằng tiếng Trung trích từ trang 571 cuốn Lỗ Tấn toàn tập tập XX bản năm 1973. (chú thích của người dịch)

[48] “Lỗ Tấn và Văn dịch” (鲁迅先生与《译文》, Lỗ Tấn tiên sinh dữ “Dịch văn”), 1936; trích từ Hồi ức về Lỗ Tấn (鲁迅回忆录 – Lỗ Tấn hồi ức lục), tr.14.

[49] “Con đường vào nghiệp viết văn của tôi” (我怎么做起小说来, Ngã chẩm ma tố khởi tiểu thuyết lai), 1933, Lỗ Tấn toàn tập, V:108.

 

Sách trích dẫn:

  1. Bugow, Übersetzung von G. và Andre Billard, Revolutionsgeschichten, München u. Leipzig, 1909.
  2. Chu Tự Thanh, 朱自清论语文教育, Trịnh Châu, 1985.
  3. Henri Maspéro, Le Taoïsme et les religions chinoises, Gallimard, 1971.
  4. Hoàng Nguyên, 鲁迅书简追忆, Hàng Châu, 1980.
  5. Hoàng Nguyên, 鲁迅回忆录, II, tr 13-22. Thượng Hải, 1979.
  6. Hứa Thọ Thường, 亡友魯迅印象記, Hong Kong, 1973.
  7. Karlgren, Bernhard, Sound and Symbol in Chinese, London, 1923.
  8. Lỗ Tấn, 魯迅全集, I-XX, Bắc Kinh, 1973.
  9. Lỗ Tấn, 魯迅書信集, Bắc Kinh, 1976.
  10. Nghiêm Phục, 嚴復集 I-V, Vương Thức biên tập, Bắc Kinh, 1986.
  11. Ngũ Quốc Khánh biên soạn, 域外小说亼. Bản dịch cũ của Chu Thụ Nhân (Lỗ Tấn) và Chu Tác Nhân, bản dịch mới của Ba Kim, Nhữ Long… Trường Sa, 1986.
  12. Semanov, V. I, Lu Hsün and his Predecessors, Charles J. Alber dịch, New York, 1980
  13. Tiền Chung Thư… , 林紓的翻譯, Bắc Kinh, 1981.
  14. Vương Lực, 漢語史稿, Bắc Kinh, 1958.

 

(Bản gốc: Chương 10, “Principles of Translation” trong cuốn Lu Xun as a Translator: Lu Xun’s Translation and Introduction of Literature and Literary Theory, 1903–1936, Orientaliska Studier, Đại học Stockholm, 1989.)

Chấm sao chút:

Đã có 2 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Miên Túc

Một người tẻ nhạt.

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: