Lạc trong Trần Dần: Phỏng vấn David Payne

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 12 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 2021: Về sự dịch, ngày 30-11-2021)

Zét Nguyễn: Anh biết đến Trần Dần như thế nào, và tại sao anh lại muốn dịch Những ngã tư và những cột đèn ra tiếng Anh?

David Payne: Tôi biết đến Trần Dần và bắt đầu tiếp xúc với tác phẩm của ông ấy khoảng năm 2004. Lúc đó, có bạn đưa cho tôi một cuốn nghiên cứu của nhà sử học Heinz Schütte vừa được xuất bản ở Berlin về bối cảnh nền văn học ở Hà Nội trong những năm sau giải phóng thủ đô. Đó chính là cuốn Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (Fünfzig Jahre danach: Hundert Blumen in Vietnam, 1954-1960). Cuốn khảo cứu này trích dẫn vài dòng thơ ngắn gọn của Trần Dần được dịch sang tiếng Anh, và tôi thực sự ấn tượng bởi ngôn ngữ cảm tính và hình tượng của Trần Dần, và cách ông ấy tập trung vào những “việc nhỏ” như “cái ăn, cái ngủ, chuyện riêng tư… suy nghĩ, nựng con và tán vợ.”

Lúc đó, tôi chỉ mới ở Việt Nam vài năm thôi và chưa biết nhiều về văn học Việt Nam. Tác phẩm của Trần Dần rất hiếm, kể cả bằng tiếng Việt, và chắc chắn không có bằng tiếng Anh. Cho nên việc tìm hiểu về Trần Dần không hề đơn giản.

Đầu năm 2011, tôi tình cờ gặp cuốn tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn tại một hiệu sách trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, TP.HCM. Vào thời điểm đó, tôi đang viết blog Hanoi Ink, và thường xuyên đến thăm các hiệu sách khi đi công tác. Tất nhiên tôi rất phấn khích khi gặp tác phẩm này và xác nhận được rằng tác giả thực sự là chính Trần Dần ấy. Lúc đó, dù khả năng đọc tiếng Việt của tôi còn rất yếu, nhưng tôi rất tò mò muốn đọc cuốn tiểu thuyết này. Vì vậy, tôi, từ từ, bắt đầu để dịch…

 

ZN: Anh đặt văn chương của Trần Dần ở vị trí nào trong bối cảnh văn chương Việt Nam?

DP: Ở Việt Nam, có nhiều người khác xứng đáng trả lời câu hỏi này hơn tôi! Và tôi chỉ muốn chia sẻ ý kiến cá nhân của mình về sự cống hiến không ngừng nghỉ của Trần Dần cho văn học Việt Nam trong suốt cuộc đời của ông ấy. Quan trọng nhất là về sự thử nghiệm trong việc sáng tác với nhiều thể loại văn chương khác nhau, tôi không chắc ai khác có thể so sánh với Trần Dần.

Và tôi cũng tin rằng nhiều người sẽ đồng ý rằng vị trí của Trần Dần trong bối cảnh văn chương Việt Nam vẫn chưa thực sự tương xứng với tài năng và những đóng góp của ông. Hơn nữa, như Vũ Văn Kha và Dương Tường đều đã khẳng định, di cảo Trần Dần có nhiều tác phẩm trong nhiều hồ sơ vẫn tiếp tục mang số phận “nằm”, và chưa từng được ra mắt độc giả.

 

ZN: Anh thấy tiếng Việt của Trần Dần (nói chung) có gì đặc biệt? Cụ thể, trong khi dịch Những ngã tư và những cột đèn, anh đã xử lý tương ứng trong tiếng Anh ra sao (ví dụ với những thử nghiệm như đổi “y” thành “i”, hay hàng loạt từ láy mà tác giả sử dụng)?

DP: Trước hết, tôi muốn nói về điều mà nhà thơ Seamus Heaney gọi là “word-horde”, hay là “đám-đông-từ” của Trần Dần. Tôi nói về những từ hay gặp trong nhiều tác phẩm khác nhau của Trần Dần, trên nhiều thể loại văn chương, như: “mưa”, “mùa”, “khói”, “gió”, “giờ”, “thịt”, “sẹo”, “phùn”, “ngã tư”, “cổng”, “cửa”, “chết”, v.v. Đám-đông-từ này của Trần Dần có nhiều từ rất đơn giản và phổ biến, thậm chí có thể nói là từ tầm thường. Nhưng các từ này dường như là một sợi dây kết nối tất cả các tác phẩm của Trần Dần trong suốt cuộc đời ông, từ những bài thơ bậc thang của những năm 1950, các mục nhật ký mà nhà văn Phạm Thị Hoài biên soạn trong Trần Dần Ghi và những tác phẩm văn xuôi như tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, đến tận những thử nghiệm văn học cực kỳ cấp tiến như Jờ Joạcx, và Thơ Mini, “36 thở zài” và những Sổ Bụi vào thập kỷ 1980.

Và những từ đơn giản này cũng trở thành nguồn gốc cho nhiều sự khám phá với ngôn ngữ, xuất hiện lặp đi lặp lại, vừa thay đổi, vừa không thay đổi, trong nhiều tác phẩm qua nhiều thập kỷ, như cơn mưa của Trần Dần… “mưa lép nhép”, “mưa bụi”, “mưa hì hụi”, “mưa rậm rì”, “mưa nắng”, “mưa trắng”, “mưa tuyết trắng”, “mưa lằng nhằng”, “mưa dãi”, “mưa dầm”, “mưa bất nhất”, “mưa tái nhợt”, “mưa thui”, “mưa chùi”, “mưa tia nhia”, “mưa lịa khịa”, “mưa lập phương”, “mưa ngoọng ngường”, “mưa rả ríc”, “mưa xé thịt”, “mưa lèo lẹo bầu phùn”… (và nhiều từ ghép khác). Theo tôi, với những đám-đông-từ phong phú như thế này, Trần Dần đã rất mỉa mai khi viết: “Mưa rơi không cần phiên dịch…”

Cách đây vài năm, tôi cùng Nhã Thuyên cố gắng dịch những đoạn trích thơ thử nghiệm của Trần Dần sang tiếng Anh để làm tài liệu cho một tác phẩm sắp đặt của nhạc/nghệ sĩ Kim Ngọc ở Thụy Điển. Chúng tôi đã cố gắng tìm cách dịch những từ đặc biệt của Trần Dần, như: “Joặc jờ jêrô… vòng tròn” dịch là “jmpty jero jours… encircled”,

hoặc:

“Tôi đặc
ằng ặc đặc
ặc.

Tôi đi thin thịt…
Kilomưa… tôi đi…
Đôi mắt thịt tù mù…”

dịch là

“I condense
co ag ul
ate.

I am oozing meat…
Kilomerain… I go…
Sightless meat eyes…”

Nhưng tôi và Nhã Thuyên chưa thực sự hài lòng với những kết quả này.

Những thử nghiệm như đổi “y” thành “i”, theo tôi, có quan trọng, nhưng có những thử nghiệm quan trọng hơn. Tuy rất khó để chọn một đoạn trích trong Những ngã tư và những cột đèn, bởi đọc Trần Dần là phải toàn thể, và tôi cũng không phải là người có thể quyết định chọn đoạn nào để có thể coi là tiêu biểu cho Trần Dần (tôi thích bị lạc, chính vì thế tôi dịch, để bị lạc trong toàn bộ thế giới của tác giả đó), tôi trích một đoạn ở ngay chương đầu tiên của tác phẩm để độc giả có thể cảm nhận được Trần Dần trong tiếng Anh:

June 1965. I sat one day, unsure if it was Monday or Sunday. With the complicated, messy movement of the numbers, how is my temperature always 37°, without any fever? On my side of the window, everything was purple: the diary and a copy of the diary, a purple inkwell and a manuscript in smudged purple ink. On the other side of the window, everything was green: six tropical almond trees with green leaves and the stationary green army trucks, the deserted June and the empty wartime streets. I couldn’t find the place in the diary where one war ended, or the place where the next war began. But on an ordinary afternoon, suddenly turning my head, I sensed clouds of smoke behind my back. On another afternoon, I found myself surrounded by war on all sides, with every way blocked. I prepared a notebook, copying from the smudged ink of that 250-page diary interleaved with the evidence of war and of friendship and love. I went back in time, back to those days during the peace when war was not yet certain. I prepared to consign to the past those complicated and unhappy mementos. The diary began one evening sometime in 1954. The owner of the diary is Duong. He is one of those taking part in two wars, each time on the front line. Two wars, two lives, that cannot be joined together. Two wars, his past and his future, with no connection to each other. And between the two wars, three notebooks with camouflaged covers, 18 by 20 centimeters in size. Afterward, the state-run stores stopped selling this kind of notebook. Afterward, I understood why Duong didn’t choose notebooks with a rose on the cover, or a lotus, or a peach flower. Between two wars, a diary.

I read something about time once, I’ve forgotten where: the present can be seen as the boundary between two NOs. The first NO is the past, which used to exist, but is now no more. The second NO is the future, which doesn’t yet exist, and therefore is also ‘no’. The present is what rustles between these two boundaries, these two NOs. So the present is also nothing. This idea helped me through many long years, and it explains why we have the verb ‘to hope’, and why we write diaries. These two NOs meet at a point we call the present, which is also a certain moment in time. This moment can be measured, by the ticking of a clock, and by various calendars; that is, by various objects that exist. These objects help the present, from NO, to become YES. In this way, those who live write diaries, and—also in this way—diaries are forced to begin, following a numbered existence: by day, by hour, and by the sequence of weeks, months, years and seasons. It seems that by doing this, the present will be clearly affirmed, at 1 meaningful point on the linear course of time as it travels from left to right like the flight of an arrow.

Winter 1954

Exactly like in the Bible: I began to write my diary in purple ink. Exactly like in the Bible: I ran away. And exactly like in the Bible: 24 hours before beginning the diary, I removed the bullets from my gun and threw them into a drain. I brought the gun to Mrs. Hoa’s house, at a moment hesitating between afternoon and evening. Mrs. Hoa went up into the house ahead of me. I’d never been this close to her before, and I took some time to observe her carefully. She had just been cooking over a hot stove, and her cheeks were flushed, with a few beads of sweat on her forehead, making her face shine. Her body was lean and firm, with the smell of a country girl. I gave her my pistol. My hand touched hers for a moment: both our hands were warm. In the 7 minutes that I stood close to Mrs. Hoa, I asked four short questions, and received four brief answers. Then I left, at a moment hesitating between afternoon and evening, in the midst of a sudden winter freeze. The streets were empty; after 5 p.m. the windows were shut tight. On a dark and rainy night like this, the shops lock their doors by 4 p.m. In the darkness, there was only a little light from Bur’s house, and from the house with the red lantern at the head of the street. For 30 days I’d been planning my escape, in this city of mine where bandits pillage night and day. Since the month when the cold wind began to blow, small bands of paratroopers and men from armored units like mine gathered together, guns in hand, forcing their way into people’s houses to demand money. It is a city without order. On days like this, Hanoi goes to bed early. Commanders and soldiers of all political parties look for things to scavenge, taking what they can and getting the hell out. But I don’t care about scavenging. Exactly like in the Bible, I’m focused on escaping; plenty of the officers have also run away. By evening, the Viet Minh soldiers had occupied Mai Linh, so at night the capital was in a frenzy. 23 hours before beginning the diary, I disguised myself as a worker. I put on a blue cap, blue cotton trousers and a blue cotton shirt, a blue sweater, and canvas shoes. I carried a straw bag with a washcloth and a change of clothes stuffed inside, all dyed blue.

Và tất nhiên Những ngã tư và những cột đèn có sự đề nghị khá duyên dáng của Trần Dần gửi tới “đồng chí đánh máy”. Tôi hết sức cố gắng tôn trọng mong muốn của Trần Dần trong phiên bản tiếng Anh, chẳng hạn như đề nghị này: “Chỗ nào đề bằng con số, xin cứ đánh con số.” Mặc dù thuyết phục biên tập viên tiếng Anh điều chỉnh các quy tắc thông thường của họ không dễ dàng…

 

ZN: Anh có kỳ vọng bản dịch của anh sẽ giúp văn học Việt được biết đến và làm đa dạng hóa văn học dịch ở các nước nói tiếng Anh?

DP: Tôi mong muốn bản dịch này sẽ làm nhiều người biết đến Trần Dần cũng như là tác phẩm và thế giới của Trần Dần. Trong thời đại hiện nay, khi thế giới ngày càng phân cực và cạnh tranh tư tưởng, tôi tin rằng tiểu thuyết của Trần Dần, với những thử nghiệm về thời gian, với những trích dẫn cố ý sai từ Kinh thánh và sự khăng khăng khôi hài đòi trình bày Tội ác và Trừng phạt của Dostoevsky như một câu chuyện trinh thám, với năm con ruồi ở giữa hai miền húc nhau, cũng là một tác phẩm có ý nghĩa để giúp chúng ta tìm con đường đi và hiểu mọi thứ (hoặc nhận ra chúng ta không thể và không cần phải hiểu mọi thứ) trong thời điểm phức tạp này.

Kỳ vọng của tôi cũng là bản dịch này sẽ là một trong nhiều nỗ lực làm cho sự đa dạng của văn học Việt Nam được biết đến ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Chúng ta thường nói rằng văn học Việt Nam dịch sang tiếng Anh và xuất bản ở phương Tây gần như hoàn toàn tập trung vào chiến tranh. Ngay cả văn học “thời hậu chiến” vẫn được định hình bởi chiến tranh. Và tác phẩm của Trần Dần tuyệt đối không thể thoát khỏi bối cảnh chiến tranh. Nhưng tôi hy vọng cuốn tiểu thuyết này, một cuốn tiểu thuyết “giữa hai cuộc chiến tranh”, về một khoảng thời gian không được nhiều người biết đến, có thể mang lại điều gì đó khác biệt cho độc giả ở phương Tây.

 

ZN: Anh có đọc các sách Việt dịch ra tiếng Anh khác không, và cách làm của họ có ảnh hưởng đến các lựa chọn của anh trong cuốn này không (hoặc học theo hoặc cảm thấy cần làm khác đi)?

DP: Tôi bắt đầu biết đến văn học Việt Nam qua các tác phẩm được dịch sang tiếng Anh của Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Hai tác phẩm The Crystal Messenger (Thiên sứ) và Sunday Menu (Thực đơn Chủ nhật) của Phạm Thị Hoài do Tôn Thất Quỳnh Du dịch rất hay. Tôi cũng thích đọc cả Nguyễn Khải, tác phẩm Past Continuous (Gặp gỡ cuối năm) do nhà Curbstone xuất bản. Nên tôi rất biết ơn người dịch những tác phẩm này, cả người Việt Nam và người nước ngoài quan tâm đến văn học Việt Nam.

Tôi cũng đã có kinh nghiệm đọc một số tác phẩm dịch từ tiếng Việt mà chưa sẵn sàng để sống và tự động thở một cách tự nhiên bằng tiếng Anh, như thể khi ta đọc thì có một tấm màn ngăn cách, như thể nhìn qua một tấm gương mờ vậy. Những bản dịch ấy cần được biên tập thêm một lần nữa. Hoặc những trường hợp người dịch cho rằng họ cần thay đổi bản gốc để được “dễ chấp nhận” hoặc “hấp dẫn hơn” đối với độc giả phương Tây. Tôi hết sức cố gắng để bản dịch của Trần Dần cố thể tránh những tình trạng như vậy.

 

ZN: Theo anh thấy thì độc giả phương Tây tiếp nhận văn học Việt Nam thế nào?

DP: Như nói ở trên, từ trước đến nay độc giả phương Tây chủ yếu nhìn văn học Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh. Đối với người đọc bằng tiếng Anh, đây có nghĩa là Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Và độc giả phương Tây thường đọc các tác phẩm mà nhà văn phương Tây viết về Việt Nam. Nhiều nhà văn Việt Nam, ngay cả những nhà văn đã được dịch với chất lượng cao, vẫn chưa thể tiếp cận được với nhiều độc giả ở phương Tây. Nhiều nhà văn khác vẫn chưa được dịch, hoặc chỉ được dịch một số bài rất ngắn gọn hoặc sơ sài, chẳng hạn như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư…

Nhưng nhìn ở khía cạnh tích cực, gần đây có một số tác giả Việt kiều ở phương Tây viết bằng tiếng Anh có thể đến với nhiều độc giả phương Tây, như PGS. Việt Thanh Nguyễn ở Mỹ. Điều này tự nhiên khiến độc giả phương Tây tò mò về các nhà văn Việt Nam, và gần đây tác phẩm của Nguyễn Phan Quế Mai cũng dễ tiếp cận với nhiều độc giả ở phương Tây. Tôi tin rằng độc giả phương Tây sẽ tiếp tục quan tâm nhiều hơn đến văn học Việt Nam trong tương lai. Nhưng có lẽ tổng số độc giả ở phương Tây hiện tại cũng đang thu hẹp lại.

 

ZN: Dự tính bản dịch Crossroads and Lampposts bao giờ sẽ được xuất bản? Anh có thể nói về hành trình tìm nhà xuất bản để in bản dịch của anh?

DP: Lời nói đầu của Những ngã tư và những cột đèn đặt câu hỏi: “Tác giả và tác phẩm có bao giờ chia nhau cùng số phận?” Và có lúc tôi lo lắng bản dịch cũng sẽ có một số phận khác thường.

Sau nhiều giờ trong suốt vài năm dịch cuốn tiểu thuyết này với sự ủng hộ và khuyến khích của nhiều người yêu thích tác giả Trần Dần ở Việt Nam, bản dịch bắt đầu nhận được sự chú ý ở nước ngoài. Tạp chí Mekong Review muốn xuất bản cuốn tiểu thuyết ở Úc. Nhưng Mekong Review chưa có kinh nghiệm xuất bản tiểu thuyết, và việc xuất bản một loạt sách nhỏ ở Úc dường như không phải là lựa chọn xứng đáng với tác phẩm của Trần Dần. Vì thế, Minh Bui Jones, tổng biên tập tạp chí Mekong Review vẫn cố gắng giới thiệu cuốn sách với các nhà xuất bản khác.

Năm 2017, Nhã Nam, đại diện gia đình tác giả Trần Dần, đã thành công trong việc bán bản quyền xuất bản cuốn tiểu thuyết cho NXB OneWorld, một nhà xuất bản nổi tiếng ở Anh quốc. Tôi đã rất hào hứng, nhưng OneWorld nói rằng họ cần tìm kiếm nguồn tài trợ để xuất bản cuốn tiểu thuyết này. Sau đó, vào năm 2019, OneWorld đã được trao trợ cấp PEN Translates (PEN UK) để xuất bản bản dịch của tôi. Tôi lại rất hào hứng… nhưng một lần nữa, OneWorld lại nói rằng số tiền tài trợ vẫn chưa đủ.

Có nhiều lần tôi tự hỏi bản thân rằng liệu tôi có yêu bản thảo này đủ để bản thảo đi vào cuộc sống hay không. Nhưng tôi cũng đặt câu hỏi rằng liệu một người dịch có phù hợp với vai trò là một nhà tiếp thị, một nhà đại diện văn học hay không.

Tôi vẫn tin rằng bản thảo cuối cùng sẽ tìm được đường tồn tại. Và rồi, do Nguyễn Quí Đức giới thiệu, Nguyễn Phan Quế Mai đã liên hệ với tôi để hỏi xem có hỗ trợ tìm nhà xuất bản được không. Và bản thảo nhờ thế cũng được sự ủng hộ của nhiều người khác. Vì vậy, tôi hy vọng trong năm tới Crossroads and Lampposts sẽ có cơ hội được sống bằng tiếng Anh.

Zét Nguyễn thực hiện

Chấm sao chút:

Đã có 7 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: