José Ortega y Gasset, Nhục và Vinh của dịch thuật (1937)

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 38 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 2021: Về sự dịch, ngày 30-11-2021)

1 . Nhục

Ở hội thảo có sự tham dự của các giáo sư Collège de France, sinh viên đại học và những người quan tâm, có người bàn về việc không thể dịch được một vài triết gia Đức, đồng thời, tóm lại chủ đề này, đề xuất một nghiên cứu về triết gia nào dịch được, triết gia nào không.

Dường như người này cho rằng, với sự quả quyết thái quá, có triết gia và, nói rộng hơn, người viết có thể dịch được. Đó chẳng phải là một ảo tưởng sao? – theo ý tôi. Chẳng phải chính việc dịch đã là nỗ lực không tưởng sao? Sự thực là, tôi ngày càng xuôi theo ý tưởng rằng mọi điều Con người làm đều là không tưởng. Ta bận theo đuổi hiểu biết mà mãi chẳng biết gì. Khi xác quyết cái gì là công bằng, người ta không khỏi trở nên gian giảo. Ta nghĩ mình yêu và rồi nhận ra ta chỉ hứa hẹn ái tình. Đừng hiểu nhầm những lời này là một màn chế nhạo đạo đức, như thể tôi đang phê phán đồng nghiệp mình vì họ không làm được điều họ định làm. Ý tôi, nói đúng ra, là ngược lại, thay vì trách móc họ vì thất bại, tôi muốn nói rằng không thứ nào trong những công việc này có thể hoàn thành, rằng đây là việc bất khả, và chúng sẽ luôn chỉ là dự định suông, là dự án viển vông, và việc làm vô ích. Thiên nhiên trao cho mỗi sinh vật một chương trình hoạt động cụ thể, không hơn, mà sinh vật đó có thể thành tựu trọn vẹn. Vì thế ta hiếm khi thấy một con vật buồn. Chỉ ở những động vật cao cấp – như chó và ngựa – ta mới thỉnh thoảng thấy một cái gì đó gần như nỗi u sầu, và đó là khi chúng gần với ta nhất, khi chúng có vẻ người nhất. Có lẽ, trong rừng thẳm huyền bí, Thiên nhiên bày ra hình ảnh sửng sốt nhất, hùng hồn nhất, đó là nỗi sầu muộn của loài đười ươi. Động vật thường hạnh phúc. Chúng ta thì ngược lại. Con người luôn u sầu, lo âu, gàn dở, bủa vây bởi những thứ bệnh hoạn mà Hippocrates gọi là bệnh thánh. Và lý do là công việc của con người đều không thể hoàn thành. Định mệnh của con người – đặc quyền và vinh hiển của y – là không bao giờ đạt được những gì y đề ra, và luôn chỉ dừng lại ở dự định, bản thân y là một nỗi niềm không tưởng bằng xương bằng thịt. Y lao tới thất bại, và ngay cả trước khi xả thân vào trận chiến, y đã mang một vết thương hằn trên thái dương.

Điều này xảy ra trong một công việc khiêm nhường gọi là dịch thuật. Trong các công việc tri thức, tưởng như không việc gì khiêm tốn hơn. Thế nhưng, đó vẫn là nhiệm vụ vô cùng nhọc nhằn.

Viết hay nghĩa là liên tiếp làm xói mòn ngữ pháp, cách dụng nghĩa truyền thống, và quy chuẩn ngôn ngữ đương thời. Đó là hành động phản kháng liên tục chống lại bối cảnh xã hội, một sự lật đổ. Viết hay chứng tỏ sự bạo dạn nhất định. Thế đó, nhưng người dịch lại thường là người rụt rè. Chính bởi khiêm nhường, người dịch mới chọn một công việc nhỏ bé ấy. Y đối mặt với một công cụ điều khiển khổng lồ là ngữ pháp và tập quán ngôn ngữ. Y sẽ làm gì với một văn bản bất kham? Đòi hỏi y phải ngông cuồng há chăng là quá mức, nhất là khi văn bản y dịch thuộc về một người khác? Y sẽ bị sự hèn nhát khuôn ép, để đến nỗi thay vì chối bỏ những giới hạn của ngữ pháp, y làm điều ngược lại: y sẽ đặt tác giả được dịch vào chốn tù đày của cách biểu đạt thông thường; nghĩa là, y sẽ phản bội tác giả. Dịch là phản (Traduttore, traditore).

– Tuy thế, sách trong những lĩnh vực khoa học chính xác và tự nhiên vẫn có thể dịch được – đồng nghiệp của tôi trả lời.

– Tôi không phủ nhận dịch sách đó dễ hơn, nhưng khó khăn vẫn tồn tại. Nhánh toán học đang thịnh hành nhất trong một phần tư thế kỷ qua là Lý thuyết tập hợp (Set Theory). Vậy nhưng cha đẻ của nó, Cantor[1], đã rửa tội đặt tên cho ngành này với một thuật ngữ không tài nào dịch được sang ngôn ngữ của chúng ta. Thứ mà ta gọi là “tập hợp” (set), ông gọi là “lượng độ” (quantity/Menge), nghĩa của từ này không thuộc nội hàm của “tập hợp”. Thành thử, đừng phóng đại tính-khả-dịch của khoa học toán hay vật lý. Nhưng, nói là như thế, tôi vẫn đủ cởi mở để thừa nhận rằng dịch khoa học có thể chính xác hơn dịch chuyên ngành khác.

– Vậy là ông thừa nhận có hai loại văn bản: loại dịch được và loại không dịch được?

– Nói theo kiểu chung chung áng chừng (grosso modo), ta phải thừa nhận sự phân biệt đó, nhưng khi ta làm thế ta lại khép cánh cửa đến với vấn đề thực sự mà công việc dịch thuật đặt ra. Vì nếu chúng ta tự hỏi mình lý do vì sao một số sách khoa học dễ dịch hơn, ta sẽ sớm nhận ra rằng trong những văn bản này bản thân tác giả đã tự dịch từ ngôn ngữ thật trong đó y “sống, cư ngụ và tồn tại” sang một thứ giả-ngôn-ngữ hình thành từ thuật ngữ chuyên môn, thứ từ vựng nhân tạo chính y phải định nghĩa trong cuốn sách của mình. Nói ngắn gọn, y đã tự dịch một ngôn ngữ sang một thuật ngữ.

– Thế nhưng thuật ngữ cũng là một ngôn ngữ như bao ngôn ngữ khác! Không những thế, theo như ngài Condillac[2] của chúng ta, ngôn ngữ tốt nhất – thứ ngôn ngữ được “cấu tạo hoàn chỉnh” – chính là khoa học.

– Thứ lỗi cho tôi vì bất đồng hoàn toàn với ông và vị cha già. Một ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu bằng lời mà qua đó các cá nhân có thể hiểu được nhau mà không nhờ những định ước trước, còn thuật ngữ thì chỉ hiểu được nếu người viết/nói và người nghe/người đọc từ trước đó và từng cá nhân một đã đồng thuận với nhau về nghĩa của kí hiệu. Vì lý do này, tôi gọi nó là giả-ngôn-ngữ, và tôi cho rằng nhà khoa học đã bắt đầu tự dịch ý nghĩ của mình sang đó. Đó là một thứ giống như ngôn ngữ Volapuk, là một thứ Esperanto tạo nên bởi một quy định chủ đích giữa những người tạo nên chuyên ngành đó. Đó là lý do vì sao những quyển sách đó dễ dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Thực ra, ở mọi quốc gia những sách này đều được viết hoàn toàn bằng một ngôn ngữ. Vì lẽ đó, những người nói ngôn ngữ thật, ngôn ngữ mà những văn bản này được viết ra, thường thấy chúng bí bách, không hiểu được, hay ít ra là rất khó hiểu.

– Công bằng mà nói, tôi phải thừa nhận là ngài có lý và cũng muốn thưa với ngài rằng tôi dần nhìn ra vài bí ẩn trong mối quan hệ ngôn ngữ giữa người với người mà trước đây tôi không để tâm đến.

– Còn tôi thì lại vừa nhìn ra ngài là người còn lại sau chót của một giống tuyệt chủng, người cuối cùng của dòng họ Abencerrajes[3], bởi lẽ khi đối diện với niềm tin của kẻ khác ngài có khả năng nghĩ rằng y, chứ không phải ngài, đúng. Sự thật là cuộc bàn luận về dịch thuật, dù ta có truy tầm nó đến cỡ nào, sẽ đưa ta đến một những bí mật ít biết của một hiện tượng kỳ thú mà ta gọi là “lời nói”. Cứ suy xét lại mấy vấn đề mà chủ đề của chúng ta gợi ra rõ ràng nhất là đủ cho bây giờ. Trong nhận định của tôi đến thời điểm này, tôi đã lập luận khẳng định sự viễn tưởng của dịch thuật dựa trên việc tác giả sách – không phải sách toán, vật lý, hay sinh học – là một người viết theo nghĩa tích cực. Điều này hàm nghĩa rằng y đã sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình với sự khéo léo thiên tài, đạt được cùng lúc hai điều dường như bất khả dung hòa: hiểu được, và cùng lúc đó, lại cách tân lối dụng ngữ thông thường. Công việc kép này khó thành tựu còn hơn cả việc đi trên dây. Làm sao ta đòi hỏi được điều này ở một dịch giả tầm trung? Thứ nữa, ngoài khó khăn đầu tiên thuộc về phong cách cá nhân tác giả, ta cũng nhận ra những lớp lang khó khăn khác. Phong cách cá nhân, thí dụ, bao gồm việc tác giả khẽ tách khỏi ý nghĩa quen thuộc của từ, đẩy ngôn ngữ tới giới hạn ở đó tập hợp sự vật mà nó trỏ đến không còn trùng khớp chính xác với tập hợp sự vật chính từ đó mang theo nghĩa thông thường. Xu hướng chung của những cú rẽ ngả này ở một tác giả là cái mà ta gọi là phong cách của y. Nhưng, thực ra, mỗi ngôn ngữ khi so với ngôn ngữ khác đều có phong cách riêng của nó, cái mà von Humboldt[4] gọi là “hình thức nội tại” của ngôn ngữ. Thành thử, sẽ là viển vông khi nghĩ rằng hai từ vốn thuộc về hai ngôn ngữ khác biệt, và được từ điển cho là bản dịch nghĩa của nhau, thì cùng trỏ chính xác những vật thể y chang. Vì ngôn ngữ được hình thành tại những quang cảnh khác nhau, qua những trải nghiệm riêng biệt, nên sự bất tương đồng của chúng là tự nhiên. Thí dụ, sẽ là sai lầm nếu ta nghĩ rằng cái người Tây Ban Nha gọi là bosque [rừng] thì người Đức sẽ gọi là Wald, song từ điển vẫn nói rằng Wald dịch nghĩa là bosque. Thậm chí nếu hợp cảnh tôi nghĩ nên xướng lên một khúc aria di bravura miêu tả khu rừng bằng tiếng Đức để so với một khu rừng bằng tiếng Tây Ban Nha. Tôi đùa về vụ hát hò, nhưng tôi khẳng định kết luận của tôi rõ ràng, kết luận rằng tồn tại một sự khác biệt lớn giữa hai thực tại. Điểm khác biệt lớn đến nỗi không chỉ hai thực tại là bất tương xứng, mà mọi âm hưởng cảm xúc và trí tuệ của chúng cũng chẳng tương đồng hệt vậy.

Hình hài ý nghĩa của hai thực tại không trùng khớp được cũng giống như bức ảnh phơi sáng kép chụp một người. Trước thực tế đó, cái nhìn của chúng ta xê dịch và rung lắc mà chẳng gắn với hình hài nào trong cả hai hoặc tự hình thành nên một hình hài thứ ba; hãy tưởng tượng sự mơ hồ ta phải trải qua khi đọc hàng ngàn từ bị ảnh hưởng theo cách này. Đây cũng là lý do tạo nên hiện tượng flou (sự nhòe mờ), trong những hình ảnh thị giác và biểu đạt ngôn ngữ. Dịch thuật là một hoạt động chữ nghĩa nhòe mờ vĩnh viễn, và bởi lẽ cái thường được gọi là vô nghĩa, ở một khía cạnh khác, lại chính là sự mờ nhòe của tư tưởng, ta không nên quá ngạc nhiên khi một tác giả được dịch luôn có vẻ ngớ ngẩn với ta.

2. Hai loại chủ nghĩa không tưởng

Khi đối thoại không chỉ đơn thuần là màn đưa qua đổi lại những cấu trúc ngôn từ, nơi kẻ đối thoại hành xử như những cái máy phát thanh, mà thay vào đó hàm chứa một sự thông giao đích thực, một hiện tượng kỳ thú xảy ra. Khi những cuộc đối thoại đó tiến triển, tính cách của mỗi người nói sẽ nhanh chóng bị giằng xé: một phần tấm tắc lắng nghe những điều đang nói, một phần khác lại quá hứng thú với chủ đề đang nói, như một chú chim bắt được mồi, sẽ dần dần rút khỏi cuộc nói chuyện và bắt đầu tự suy tư về chủ đề. Khi ta giao tiếp, ta hòa vào xã hội; khi ta nghĩ, ta ở một mình. Nhưng sự thực là, trong kiểu đối thoại này, ta làm cả hai một lúc, và khi cuộc đàm luận tiếp diễn ta thực hiện chúng với cường độ ngày một cao: ta chú tâm đến điều được nói với tâm trạng xúc động thống thiết và cũng cùng lúc đó trở nên ngày một chìm sâu trong giếng khơi cô độc của trầm tư mặc tưởng. Hoạt động phân thân không ngừng này không thể duy trì trong thế cân bằng lâu bền. Chính bởi thế, các cuộc đối thoại như vậy có đặc trưng là sẽ đạt đến một điểm nút nơi chúng tê liệt và rơi vào tĩnh lặng. Mỗi người nói chìm đắm trong mình. Kết quả do suy tư gây ra là y không thể nói được nữa. Cuộc đối thoại khai sinh ra yên lặng, và sự giao tiếp xã hội lúc mới đầu rơi vào trạng thái cô độc.

Đó là điều xảy ra ở hội thảo của chúng ta – sau câu kết của tôi. Vì sao thế? Câu trả lời rõ ràng: Cơn sóng lặng im bất chợt nhận chìm cuộc hội thoại khi chủ đề đã tiến triển đến điểm giới hạn ở một hướng và cuộc đối thoại bắt buộc phải quay đầu và rẽ sang một hướng khác.

– Chúng tôi im lặng – ai đó nói – như đưa đám. Ngài đã giết chết dịch thuật, chặn họng chúng tôi, chúng tôi cũng đi cùng dịch thuật xuống mồ.

– Ôi, không! – tôi đáp – Không hề! Tôi phải nhấn mạnh nỗi khổ nhục của dịch thuật; cũng như tôi phải chỉ ra được khó khăn cũng như tính bất khả của nó, nhưng không phải để dừng ở đó. Ngược lại, chính bệ phóng này có thể đưa ta đến vinh quang khả hữu của nghệ thuật dịch. Đây chính là cơ hội để hô vang: “Dịch thuật băng hà! Dịch thuật vạn tuế.” Giờ đây ta phải cổ vũ cho tâm thế ngược lại, như Socrates đã nói trong những dịp tương tự, xướng bài thơ cải chính.

– Tôi sợ rằng điều đó khó cho ngài – ngài X nói. – Vì chúng tôi vẫn chưa quên khẳng định lúc đầu của ngài rằng công việc dịch thuật là một hoạt động không tưởng và dự định bất khả.

– Thật ra, tôi đã nói rồi, và thêm một chút: tất cả việc Con người làm đều có cùng thuộc tính đấy. Đừng sợ rằng tôi lại chuẩn bị đi nói cho các vị lý do tôi nghĩ thế. Tôi biết trong một cuộc hội thoại tiếng Pháp ta luôn phải tránh điểm chính và duy trì cuộc nói chuyện ở vùng an toàn của các câu hỏi đưa đẩy. Các vị thật quá đỗi dễ mến khi lượng thứ cho tôi, rồi còn cho tôi xướng một màn độc thoại trá hình, mặc cho màn độc thoại đó có thể là tội nặng nhất người ta có thể phạm phải khi ở Paris. Vì lẽ đó tôi hơi e dè và có phần ăn năn vì cảm tưởng rằng mình vừa gây một tội trạng ngang cưỡng hiếp. Điều duy nhất khiến tôi yên tâm là vốn tiếng Pháp của tôi vẫn đủ chập chững để không cho phép một màn múa may ngôn từ. Nhưng hãy quay về chủ đề, tình thế không tưởng tận căn của tất cả những gì thuộc về con người. Thay vì đi chứng minh niềm tin này bằng luận lý vững chắc, tôi chỉ xin mời quý vị, để phục vụ một niềm vui thuần túy của thí nghiệm tư tưởng, hãy chấp nhận nó như một nguyên tắc cơ bản và soi chiếu theo đó để suy tư về những toan tính của Con người.

– Thế mà – người bạn thân Jean Baruzi của tôi lên tiếng – chống chủ nghĩa không tưởng vẫn thường xuất hiện trong tác phẩm của ngài.

– Thường xuyên và chiếm phần lớn! Có một thứ không tưởng chủ nghĩa sai lạc vốn đích thị là đối nghịch với cái mà tôi đang miêu tả, thứ không tưởng chủ nghĩa xác quyết với niềm tin rằng những gì con người hằng mong mỏi, dự phóng và chủ trương rõ ràng là khả thi. Không gì làm tôi ghê sợ hơn, vì tôi thấy rằng chính thứ không tưởng chủ nghĩa sai lầm này là nguyên do gây ra những khổ đau đang hiện diện trên hành tinh này. Trong chủ đề khiêm tốn mà hôm nay chúng ta đang bàn, chúng ta có thể chấp nhận bản chất đối lập của cả hai chủ nghĩa không tưởng này. Cả chủ nghĩa không tưởng xấu và tốt đều muốn chỉnh sửa cái thực tại tự nhiên giới hạn con người trong các ngôn ngữ ngăn trở sự giao tiếp. Người không tưởng xấu nghĩ rằng vì y muốn làm, việc đó là khả thi. Chỉ tiến một bước nữa là y sẽ tin tưởng rằng việc đó thật dễ dàng. Với thái độ như thế, y sẽ chẳng dành nhiều suy tư cho câu hỏi rằng ta phải dịch thế nào, và không chần chừ chi nữa y cứ thế tiến hành. Đó là lý do gần như mọi tác phẩm dịch được hoàn thành tới giờ đều là bản dịch dở. Người không tưởng tốt, mặt khác, nghĩ rằng bởi vì giải phóng con người khỏi những chia cách do ngôn ngữ áp lên là đáng mong, nên sẽ có ít khả năng điều đó được hoàn thành; thành thử, nó chỉ có thể hoàn thiện ở mức gần đúng. Nhưng mức gần đúng này cũng có thể nhiều hoặc ít, với vô hạn định những mức độ, và những nỗ lực thực hiện nó sẽ không bị giới hạn, vì sẽ luôn tồn tại khả năng làm nó tốt hơn, chỉnh sửa, hoàn thiện nó: “tiến bộ”, nói ngắn gọn. Mọi tồn tại của con người bao gồm những hoạt động thuộc dạng này. Thử tưởng tượng ngược lại: rằng bạn phải làm những việc khả dĩ, không cần bận tâm tới chúng, những việc tự chúng có thể thành tựu. Quả là kinh khủng! Bạn sẽ cảm tưởng như cuộc sống bị rút cạn ý nghĩa. Chính bởi vì hoạt động của bạn đã đạt được những điều như nó đáng phải thế, bạn cảm thấy như mình không làm nên cái gì cả. Tồn tại của Con người, như thể thao, có niềm vui nằm ở chính bản thân nó, không ở kết quả. Lịch sử thế giới khiến ta nhận ra khả năng liên tục và vô tận của Con người nhằm tạo ra những dự định bất khả thực hiện. Trong cố gắng để biến chúng thành thật, con người đạt được rất nhiều thứ, họ sáng tạo vô vàn thực tại mà bản thân cái mang tên Thiên nhiên kia chẳng thể nào tự sản sinh ra nổi. Điều duy nhất mà Con người không đạt được chính là những điều mà họ chủ trương – ít ra cũng hãy công nhận cho họ cái điều ấy. Sự giao phối giữa thực tại với con quỷ mang tên những điều bất khả đã mang cho vũ trụ sự tiến triển duy nhất mà nó có thể có. Bởi thế, quan trọng nhất là ta nhấn mạnh rằng mọi điều – ý là mọi điều đáng công, mọi điều thực sự con người – là khó khăn, cực kỳ khó khăn; đến nỗi, bất khả thi.

Như các ngài thấy đó, khẳng định tính bất khả của dịch thuật không phải là phản đối vinh quang khả hữu trong công việc của người dịch. Ngược lại, chính đặc thù này là mối liên hệ sâu sắc nhất của người dịch với công việc, cho thấy công việc này có ý nghĩa.

Một sử gia nghệ thuật cắt ngang; – Vậy theo đó, ông sẽ, như tôi, cho rằng sứ mệnh đích thực của Con người, điều mang đến ý nghĩa cho nỗ lực của họ, là chống lại Thiên nhiên.

– Chính ra, tôi rất gần với quan điểm đấy, miễn là ta đừng quên sự phân định trước đó giữa hai dạng không tưởng chủ nghĩa – loại tốt và xấu – một sự phân định mà với tôi là nền tảng. Tôi nói vậy bởi đặc điểm cốt yếu của một người không tưởng tốt trong việc chống trả kịch liệt Thiên nhiên là để tâm tới sự hiện diện của Thiên nhiên và không bị huyễn tưởng. Người không tưởng tốt tự hứa với mình, quan trọng nhất, phải là một người duy thực bền lòng. Chỉ khi anh ta chắc chắn không nhượng bộ với cả những ảo tưởng nhỏ nhất, và nhờ đó có được nhãn quan thấu triệt về thực tại trần trụi, chỉ khi đó thì anh ta mới có thể, với vũ trang đầy đủ, chống lại hiện thực và vươn đến cải tiến nó, song vẫn nhận ra sự bất khả của công cuộc đó – chỉ đó mới là hướng đi khôn ngoan.

Thái độ truyền thống, trái ngược với thái độ trên, tin rằng những điều ta mong đợi đã ở sẵn đó, một trái thơm mà thực tại sinh ra. Đây là điều đã làm ta đui mù ngay từ khi khởi sự (a limine) trong việc thấu hiểu nhân sinh. Thí dụ như mọi người đều muốn Con người là tốt đẹp, nhưng vị Rousseau của các ngài, người đã khiến chúng tôi thống khổ, nghĩ rằng ao ước đó đã được thực hiện từ lâu, rằng Con người đã từng có tính bản thiện. Ý tưởng này đã hủy hoại cả một thế kỷ rưỡi của lịch sử châu Âu mà lẽ ra có thể trở nên huy hoàng. Chúng ta đã bị bắt kinh qua vô ngần khổ đau, những thảm họa khổng lồ – cả những cái còn chưa đến hết – để lại khám phá ra chân lý giản đơn, mà mọi thế kỉ trước đều đã hay, rằng Con người, về bản chất, chẳng là gì khác ngoài một con thú dữ.

Hay, để quay lại chủ đề của chúng ta: nhấn mạnh sự bất khả của dịch thuật khác xa với chối bỏ ý nghĩa của công việc này, dường như không ai thấy chuyện chúng ta nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ là phi lý, trong khi đó là một hoạt động không tưởng.

Nhận định này gây ra hàng loạt bất bình và phản đối. “Đây là thậm xưng, hay như các nhà ngữ pháp học gọi là ‘lạm ngôn’ ” – một nhà ngữ văn học trước đó im hơi lên tiếng. “Tôi thấy ngài nói quá nhiều, câu sau đá câu trước chan chát” – một nhà xã hội học thốt lên.

– Tôi hiểu rằng con tàu học thuyết bạo dạn của tôi đang có nguy cơ chìm nghỉm giữa cơn bão bất chợt này. Tôi hiểu rằng thính giả Pháp, kể cả rộng lượng như các ngài, rất khó nghe lọt nhận định rằng nói là một hoạt động không tưởng. Nhưng tôi phải làm gì đây nếu đó là sự thật không thể chối bỏ?

3. Bàn về nói và thinh lặng

Khi cơn bão mà câu nói cuối cùng của tôi dấy lên đã lắng xuống, tôi tiếp tục:

– Tôi hiểu rất rõ phẫn nộ của các ngài. Nhận định rằng nói là một hoạt động hư ảo và hành động không tưởng có vẻ nghịch lý, và nghịch lý thì luôn làm ta phát cáu. Đặc biệt là người Pháp. Có lẽ màn luận đàm đã dẫn ta đến việc phải lý giải tại sao tinh thần người Pháp lại thù địch với nghịch lý như vậy. Nhưng các ngài hẳn cũng nhận ra chẳng có cách nào mà tránh được. Khi cố nắn chỉnh một quan điểm mà ta cho là sai lạc, không cách nào ngôn từ của ta tránh được hợm mình và thô lỗ. Ai quyết rằng vai trò của trí thức – kẻ bị gán với vai trò ấy bất kể hắn mong muốn sao – lại không phải là phát ngôn lên nghịch lý! Nếu ai muốn chỉ ra cho ta một cách sâu sắc và rốt ráo lý do kẻ sĩ tồn tại từ xưa đến nay, và nếu ai đó tập hợp lại những dữ kiện về hình dung của trí thức từ xa xưa nhất về nhiệm vụ của mình – ví dụ, những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại, những nhà tiên tri đầu tiên của Israel, v.v… – có lẽ điều tôi đang phỏng đoán sẽ hóa ra hiển nhiên và bình thường. Dù thế nào, doxa vốn có nghĩa là công luận, và sẽ không có lý gì để giữ một lớp người đảm nhận chức năng chính là đưa ra quan điểm nếu những quan điểm đó trùng khớp với quan điểm của đại chúng. Chẳng phải đó là thừa thãi, hay như cách ví von trong tiếng Tây Ban Nha của chúng tôi, thứ ngôn ngữ của người dắt lừa hơn là của quan trấn, đóng hai cái yên lên nhau? Há chẳng phải khả năng cao là trí thức tồn tại là để chống lại công luận – doxa, bằng cách khám phá và duy trì quan điểm thực sự – một paradoxa chống lại công luận. Chắc chắn nhiệm vụ của trí thức chính là khác số đông.

Cứ coi những gợi mở này đơn thuần là cách tôi chống đỡ cơn cáu kỉnh của các ngài, nhưng phải nói thêm rằng qua đó tôi cũng ngụ ý chạm đến những vấn đề mặc dù nhất mực hệ trọng mà nhức nhối thay vẫn bị ngó lơ. Và cũng phải làm rõ thêm nữa, là quý vị chính là người chịu trách nhiệm khích tôi xướng lên tràng độc thoại lạc đề tiếp tới đây.

Và mặc cho hình thù có phần đầy nghịch lý của nó, tuyên ngôn của tôi thực ra lại khá hiển ngôn và giản đơn. Ta thường hiểu “nói” là thực hiện một hoạt động qua đó ta làm cho đồng loại hiểu được suy nghĩ của ta. Tất nhiên nói bao hàm nhiều thứ khác nữa, nhưng tất thảy chúng đều cho thấy chức năng cơ bản này của “nói”. Ví dụ, qua lời nói ta cố gắng thuyết phục người khác, ảnh hưởng đến họ, đôi khi là lừa gạt nữa. Một lời nói dối là lời nói giấu đi suy nghĩ thật của ta. Nhưng rõ ràng lời nói dối sẽ không thể có được nếu lối nói thông thường của ta không hầu hết là chân thành. Tiền giả lưu hành được duy trì nhờ tiền thật. Kỳ cùng thì, lừa lọc hóa ra chỉ là một loài ký sinh nhỏ bé bám vào sự chân thật.

Vậy nên, có thể cho rằng, ngay khi Con người bắt đầu cất tiếng, họ làm vậy bởi họ nghĩ họ sẽ nói được cái họ nghĩ. Ồ, đây là một ảo tưởng. Ngôn ngữ không làm được nhường đó. Nó ít nhiều nói ra được một phần nhỏ những gì ta nghĩ, song lại đặt ra một chướng ngại không tài nào vượt qua, ngăn trở việc truyền tải những phần còn lại. Ngôn ngữ có vẻ khá hữu dụng cho những phát biểu và chứng minh toán học, nhưng ngôn ngữ của môn vật lý đã bắt đầu trở nên mù mờ và không toàn vẹn. Mỗi khi cuộc đối thoại bắt đầu xoay quanh những chủ đề thiết thân hơn, con người hơn, “thật” hơn những chủ đề của môn vật lý, thì tính thiếu chính xác, gượng gạo, và rối rắm của ngôn ngữ lại nhân lên. Vốn bị tiêm nhiễm một định kiến lâu bền rằng qua lời nói ta có thể hiểu được nhau, chúng ta đã phát ngôn và lắng nghe thật chân thành đến độ không tránh khỏi hiểu lầm nhau trầm trọng hơn cả nếu ta chỉ thinh lặng và mò đoán. Thêm nữa, vì phần nhiều tư duy của ta đều đến từ lưỡi – mặc dù tôi nghi rằng mối quan hệ này chẳng hề tuyệt đối như người ta thường nghĩ -, thế nên tư duy cũng là nói chuyện với chính mình và, theo đó, tự hiểu nhầm chính mình và có nguy cơ tự biến đầu óc mình trở nên lùng bùng lộn xộn.

– Vậy có phải hơi phóng đại không, thưa ngài? – Ngài Z mỉa mai.

– Có thể, có thể… nhưng chỉ là kiểu phóng đại nhẹ nhàng kiểu thêm mắm muối một chút thôi. Vào năm 1922 người ta dành cả một phiên trong Hội nghị Triết học Paris để bàn về vấn đề tiến bộ trong ngôn ngữ. Bên cạnh những triết gia đôi bờ sông Sein, có cả những trạng sư vĩ đại của Trường phái Ngôn ngữ học Pháp, một trường phái phải nói là lừng lẫy nhất thế giới. Khi lướt qua bản tóm tắt của cuộc thảo luận, tôi đọc được một vài dòng từ Meillet khiến tôi ngỡ ngàng – đây là trích lời Meillet[5], bậc thầy của ngôn ngữ học đương đại – “Mọi ngôn ngữ đều biểu đạt những điều cần thiết cho xã hội mà nó là một bộ phận… Với bất cứ thanh âm, quy tắc ngữ pháp nào, ta cũng có thể biểu đạt mọi điều.” Với tất cả sự tôn trọng dành cho Meillet quá cố, chẳng phải các ngài cũng thấy có phóng đại trong đó sao? Làm sao Meillet chứng minh được một khẳng định tuyệt đối như thế? Ở vị thế nhà ngôn ngữ học thì không thể được. Là một nhà ngôn ngữ học, ngài ta chỉ có thể biết ngôn ngữ của các cộng đồng người, chứ không phải tư duy của họ, và giáo điều của Meillet thì đòi hỏi rằng cái sau phải được đo đạc và kết quả cho thấy nó trùng khớp với cái trước, như thể ngôn ngữ có thể định hình mọi suy nghĩ, và tất cả ngôn ngữ đều làm được chuyện đó với độ chính xác và nhanh chóng như nhau. Tiếng Basque có thể thỏa được mong ước Meillet, nhưng sự thực là ngôn ngữ này quên không cho vào bộ từ vựng của mình thuật ngữ chỉ God (Chúa) và thế là phải chọn một từ có nghĩa “Chúa tể ở trên cao” – Jaungoikua. Vì từ nhiều thế kỷ trước quyền bính của giới lãnh chúa biến mất, Jaungoikua ngày nay mới trực tiếp có nghĩa là Chúa, nhưng ta phải đặt mình vào khoảng thời gian khi ta buộc phải nghĩ về Chúa như một giới chức chính trị, thế tục, phải nghĩ về Chúa như một người thống sứ dân sự hay cái gì đó tương tự. Chính xác mà nói, trường hợp này cho ta thấy sự thiếu vắng một định danh dành cho Chúa khiến người Basque mất rất nhiều thời gian để tư duy về Chúa. Chính bởi lẽ đó mà họ cải sang đạo Ki-tô hết sức chậm chạp; từ Jaungoikua cũng hàm nghĩa rằng cần có sự can thiệp cưỡng ép kiểu cảnh sát mới đưa được ý tưởng về đấng thánh thần vào tâm thức họ. Vậy nên ngôn ngữ không chỉ khiến việc biểu đạt một số tư tưởng khó khăn hơn, mà còn cản trở việc những người khác dung nạp những tư tưởng đó; nó làm tê liệt trí tuệ của ta trong nhiều trường hợp.

Chúng ta sẽ cứ không bàn về những vấn đề thực sự cơ yếu – và cũng là những vấn đề có tính khiêu khích nhất! – mà hiện tượng kỳ khôi mang tên ngôn ngữ này đang khơi gợi lên. Theo đánh giá của tôi, ta còn thậm chí chẳng mảy may biết đến những vấn đề đó, chính bởi chúng ta đã bị che mắt bởi sự nhập nhằng kinh niên nằm ẩn sâu trong cái ý tưởng rằng chức năng của ngôn ngữ là biểu thị tư tưởng.

– Ngài đang nói đến sự nhập nhằng nào vậy? Thực lòng tôi không hiểu – vị sử gia nghệ thuật hỏi.

– Câu đó có thể hiểu theo hai cách khác xa nhau: đầu tiên có thể hiểu là khi nói, ta cố gắng biểu đạt tư tưởng hay nội tâm mình nhưng chỉ phần nào làm được việc đó, nhưng theo một nghĩa khác, lại có thể hiểu rằng việc nói làm được điều đó một cách trọn vẹn. Như các ngài thấy, hai thứ chủ nghĩa không tưởng trong nỗ lực dịch thuật mà nãy ta có bàn đến lại lộ diện ở đây. Và cũng như thế chúng sẽ tái xuất hiện ở mọi hoạt động của con người, giống như đề thuyết phổ quát mà tôi mời mọi người tạm chấp thuận: “Mọi điều Con người làm đều là không tưởng.” Chỉ quy tắc này thôi đã đủ giúp ta nhìn ra vấn đề cơ bản của ngôn ngữ. Vì nếu chúng ta dứt được khỏi niềm tin rằng ngôn từ có thể biểu đạt tất cả những gì ta nghĩ, ta sẽ nhận ra những điều hiển hiện đang xảy ra với ta trong thực tế: khi ta nói hay viết, ta thường liên tục hạn chế nói quá nhiều điều vì ngôn ngữ không cho phép chúng được nói ra. Tính hiệu quả của ngôn từ không thuần túy nằm ở việc nói, ở việc đưa ra phát biểu, mà đồng thời và tất nhiên, phải bao hàm cả việc ngừng nói, giữ yên lặng, câm nín! Hiện tượng này quá đỗi phổ biến và chắc chắn. Hãy nhớ chuyện gì đã xảy ra khi ngài phải nói một ngoại ngữ. Vô cùng căng thẳng! Đó cũng là cảm giác của tôi bây giờ khi phải nói tiếng Pháp: nỗi mệt mỏi khi phải nín lặng đến bốn phần năm trải nghiệm của mình, vì bốn phần năm những suy tư bằng tiếng Tây Ban Nha của tôi không thể nói nhuần nhị ra bằng tiếng Pháp, mặc dù hai ngôn ngữ quan hệ rất gần. À, cũng đừng nghĩ rằng điều đó không ít nhiều xảy ra khi ta tư duy bằng tiếng mẹ đẻ; chẳng qua là những thiên kiến ngược lại đã ngăn ta nhận ra điều đó. Với lời tuyên bố thứ hai này tôi đã đặt mình vào thế khó khi lại đi khiêu khích một cơn lôi đình còn dữ dội hơn cả trước. Thật ra, mọi điều tôi nói ra nãy giờ đều nhất quyết được gói gọn trong một công thức – thứ công thức không ngần ngại phô bày trần trụi những bắp tay nghịch lý xấc xược của mình. Công thức đó là: Thực thể trác tuyệt mà ta gọi là ngôn ngữ sẽ không thể được hiểu thấu tận gốc rễ nếu ta không chịu nhìn ra rằng lời nói bao hàm trên hết là những sự thinh lặng.

Một người không biết nín im nhiều thứ sẽ chẳng thể có khả năng nói năng được gì. Và mỗi ngôn ngữ lại có một tỉ lệ nói và im khác nhau. Tất cả những quần thể người đều nín thinh một vài điều để có thể nói được những điều khác. Nếu không, mọi thứ đều trở nên không-thể-nói-lên-được. Từ điều này ta có thể luận ra một khó khăn to lớn của dịch thuật: trong dịch thuật, ta cố nói ra trong một ngôn ngữ chính điều nó muốn nín đi. Nhưng ngay đó, ta hé thấy một khía cạnh tuyệt diệu khả dĩ của nhiệm vụ dịch thuật: việc phát lộ ra những bí mật chung mà những lớp người hay thời đại đang giữ cho riêng mình – những bí mật gây nên sự chia cách và thù địch giữa họ; tóm lại – sự hợp nhất táo bạo cả nhân loại. Bởi rằng, như Goethe từng nói: “Chỉ có sống giữa tất cả con người thì mới được làm người trọn vẹn.”

4. Ta không còn nói năng nghiêm túc

Tiên đoán của tôi đã không ứng nghiệm. Cơn vũ bão tôi dự đoán không diễn ra. Lời phát biểu nghịch lý ngấm vào tâm khảm những thính giả của tôi mà không dấy lên cơn địa chấn hay chấn động nào, mà như một mũi tiêm dưới da, nó may thay không chạm phải dây thần kinh nào. Thế nên đây là cơ hội tuyệt vời để đánh bài lui quân.

– Mặc dù tôi đã dự liệu một sự phản đối dữ dội từ phía các ngài, tôi lại được bao quanh trong một không khí yên ả. Hẳn các ngài sẽ không ngạc nhiên nếu tôi chớp lấy cơ hội này để nhường lại sân khấu mà tôi miễn cưỡng độc chiếm nãy giờ. Gần như tất cả các ngài đều quen thuộc với chủ đề này hơn tôi. Có một học giả ngôn ngữ học vô cùng giỏi giang thuộc thế hệ mới đang ngồi đây. Sẽ rất thú vị nếu được nghe anh nói lên suy nghĩ của mình về chủ đề ta đang bàn.

– Không phải học giả giỏi giang gì đâu ạ – nhà ngôn ngữ học mở lời. – Tôi chỉ rất tâm huyết với ngành của mình – một ngành mà tôi thấy đang đang đạt đến chặng đầu của độ chín – thời điểm bội thu. Và tôi cũng rất vui khi được khẳng định rằng, nhìn chung, những gì ngài vừa nói và những gì tôi trực cảm và mường tượng ra đằng sau những điều được nói, khá là trùng khớp với suy nghĩ của riêng tôi. Theo đoán định của tôi, chính những điều đó sẽ trở thành chủ đề chiếm lãnh tương lai gần của ngành khoa học ngôn ngữ. Tất nhiên, tôi sẽ phải tránh cái ví dụ về từ tiếng Basque để chỉ Chúa vì đó là một vấn đề còn nhiều tranh cãi. Nhưng, nhìn chung, tôi đồng ý với ngài. Hãy thử quan sát kỹ lưỡng cách thức hoạt động chính của ngôn ngữ.

Con người hiện đại quá tự mãn với những môn khoa học họ tạo ra. Chắc chắn là nhờ chúng mà thế giới đã mang một diện mạo mới. Nhưng, để so sánh, thì phát minh này không quá đỗi lớn lao. Nội hàm của nó chỉ như lớp màng mỏng bọc lên trên những diện mạo được tựu thành qua nhiều thời kỳ trước đây của nhân loại – những phát minh mà ta tự coi là của mình. Có cơ hội là chúng ta rút tỉa từ khối của cải khổng lồ này, mà không nhận ra, vì chúng ta không làm ra mà thừa hưởng nó. Giống như hầu hết những người thừa kế ngoan ngoãn, chúng ta khá đần độn. Điện thoại, động cơ đốt trong và giàn khoan đều là những phát minh thiên tài, nhưng chúng sẽ không thể có được nếu hai mươi ngàn năm trước tài trí của con người không sáng chế ra cách tạo ra lửa, rìu, búa và bánh xe. Cũng tương tự như thế, cách diễn giải khoa học về thế giới của ta dựa vào và được nuôi dưỡng bởi những tiền lệ, trong đó cổ xưa nhất, khởi nguyên – chính là ngôn ngữ. Khoa học ngày nay sẽ bất khả nếu không có ngôn ngữ, không phải vì cái lý do sáo mòn rằng sản xuất ra khoa học là một cách phát ngôn, nhưng ngược lại, vì ngôn ngữ chính là một khoa học nguyên thủy. Chính vì lẽ đó, khoa học hiện đại luôn ở trong thế đối nghịch với ngôn ngữ.

Liệu tất thảy những gì ta bàn đến có nghĩa lý gì không nếu ngôn ngữ bản thân nó không phải khoa học, một tri thức để ta bồi đắp liên tục vì nó không đủ đáp ứng cho đòi hỏi của ta? Ta không thấy điều này hiển nhiên vì đã từ quá lâu trong lịch sử, nhân loại, hay ít nhất nhân loại Tây phương, không còn nói năng nghiêm chỉnh. Tôi không rõ gì sao các nhà ngôn ngữ học không dừng lại suy ngẫm trước hiện tượng bất ngờ này. Ngày nay, khi nói, chúng ta không có ý nói như những thứ mà ngôn ngữ ta đang dùng thực sự biểu đạt, mà thay vào đó, ta dùng theo tập quán, như đùa cợt, ý nghĩa bản thân của ngôn từ mà thốt ra chúng để thể hiện điều mình muốn. Đoạn tôi nói này nghe như một màn đánh đố đúng không? Để tôi giải thích: Nếu tôi nói rằng el sol [mặt trời, tính đực] sale [trồi lên, mọc] por Oriente [ở đằng Đông], từ tôi nói, cũng như ngôn ngữ mà tôi dùng để biểu đạt, thực chất đang nói là một thực thể giới tính đực, có khả năng hành động tùy hứng – cái ta gọi là mặt trời – thực hiện một hành động “trồi lên”, nghĩa là, sinh ra và rằng anh ta làm điều đó ở một nơi chốn nào đó mà sự sinh thành diễn ra – đằng Đông. Chà, tôi không thực lòng muốn nói bất cứ thứ gì như vậy; tôi không tin rằng mặt trời là một gã trai trẻ hay một thực thể có thể tự do hành động, tôi cũng không tin hành động “mọc lên” là một cái gì đó mà thực thể đó tự làm, hay rằng sự sinh nở diễn ra ở riêng cái miền không gian đó. Khi tôi dùng cách nói đó bằng tiếng mẹ đẻ, tôi đang hành xử với tâm thế mâu thuẫn; tôi ko công nhận tính đúng đắn của điều tôi nói, coi là trò đùa. Ngôn ngữ ngày nay đúng là một trò đùa. Nhưng rõ là từng có thời người Ấn-Âu thực sự nghĩ rằng mặt trời là đàn ông, và các hiện tượng thiên nhiên là hoạt động tự thân của thực thể có ý chí, và vì sao lành kia được sinh ra và tái sinh mỗi sáng ở một miền không gian. Vì tin vậy, họ tìm biểu tượng để nói ra điều đó, và họ tạo ra ngôn ngữ. Ở thời đó, việc nói khác hẳn với ngày nay: đã nói ra là nghiêm túc. Từ vựng, hình thái, cú pháp được dùng với ý nghĩa trọn vẹn. Mỗi cách diễn đạt đều giống như nói lên chân lý về thế giới, là phát ngôn ra tri thức, kiến thức mới. Nó ngược hẳn với đùa cợt. Thực ra, trong ngôn ngữ cổ tiền thân của tiếng Phạn và tiếng Hy Lạp, từ vựng như “từ” và “nói” – brahman, logos – có giá trị rất thiêng liêng.

Cấu trúc ngữ đoạn của ngôn ngữ Ấn-Âu ghi lại một diễn giải về thực tại trong đó sự tình trong thế giới luôn là một hành động của một chủ thể nào đó với một giới tính nhất định. Vì lẽ đó cấu trúc nhất thiết phải có một chủ thể đực hoặc cái và một động từ chỉ hành động. Nhưng có những ngôn ngữ mà cấu trúc ngữ đoạn khác biệt và ngầm định những diễn giải về thực tại khác xa Ấn-Âu.

Thực tế là thế giới bao quanh Con người chưa bao giờ định nghĩa được bằng ngôn từ rành mạch. Hay để rõ ràng hơn, thế giới, như ta có thể tri nhận, không bao gồm những “thứ” được chia cắt rành mạch và khác nhau về căn cơ. Ta thấy trong thế gian đó vô hạn những dị biệt, nhưng những dị biệt này không tuyệt đối. Chuẩn xác ra, mọi thứ đều khác nhau, nhưng mọi thứ cũng đều trông giống nhau sao đó. Thực tại là một thể liên tục vô tận những khác biệt. Để không lạc lối trong đó, ta phải bổ, chia nhỏ nó và tách riêng từng phần; nói ngắn gọn, ta phải gán tính tuyệt đối cho những sự phân biệt vốn chỉ là tương đối. Vì lẽ đó Goethe đã nói rằng sự vật là những dị biệt mà ta tạo nên. Điều đầu tiên mà con người làm khi trí năng phải đối diện với thế giới là phân loại các hiện tượng, chia tách những gì trước mình ra thành từng loại nhóm. Mỗi loại nhóm này lại được gán vào một ký âm, và đó là ngôn ngữ. Nhưng thế giới đưa đến cho ta vô số những cách phân loại, và chẳng gò lên ta một cách nào cụ thể. Thành thử, mỗi người lại phải đục đẽo những mảnh phù du của thế giới theo cách riêng, phải tạo ra đường khắc chạm dị biệt, và vì lẽ đó xuất hiện các ngôn ngữ đa dạng với ngữ pháp, từ vựng và ngữ nghĩa khác nhau. Phép phân loại nguyên thủy đó chính là giả sử đầu tiên được đặt ra về chân lý thế giới; bởi vậy, là tri thức tiên khởi. Đây chính là nguyên do vì sao, về nguyên lý, ngôn là tri.

Người Ấn-Âu tin rằng sự khác biệt cốt yếu giữa “các vật” là giới tính, và khuôn định có phần sỗ sàng cho mỗi vật một phân loại giới. Sự phân chia lớn mà họ ấn định lên thế giới dựa trên giả định rằng mọi thứ tồn tại đều hoặc là một hành động hoặc một chủ thể, thế nên hình thành động từ và danh từ.

So sánh với cách phân loại danh từ tủn mủn của ta – giới đực, giới cái, trung tính – người Châu Phi nói tiếng Bantu có những cách phong phú hơn nhiều. Ở một số ngôn ngữ có đến hai mươi tư ký âm phân loại – so với ba giới tính của ta, họ có cả hai chục. Ví dụ, những thứ di chuyển được phân biệt với những thứ đứng yên, cây cối với động vật, v.v… Ở những chỗ ngôn ngữ này không có chút loại biệt, ngôn ngữ khác lại tràn ngập phân biệt. Tiếng Eise có ba mươi ba từ để chỉ những dạng thức di chuyển của con người, của việc “đi”. Tiếng Ả Rập có 5714 tên cho lạc đà. Rõ ràng, một người du mục trên sa mạc Ả Rập và một chủ xưởng ở Glasgow sẽ không dễ dàng mà đạt được đồng thuận với nhau về loài động vật lưng gù. Ngôn ngữ chia rẽ ta và cản trở thông giao, không chỉ vì chúng là những ngôn ngữ khác nhau, mà còn do chúng đi ra từ những hình tượng trong đầu khác nhau, những hệ thống tri thức riêng rẽ – hay tựu trung lại là những triết lý dị biệt. Ta không chỉ nói bằng một ngôn ngữ nhất định, mà còn nghĩ trong ngôn ngữ đó, để trí năng lướt đi trên những dải đường có sẵn do số mệnh ngôn ngữ của ta định ra.

Nhà ngôn ngữ học dừng nói và đứng thẳng, đường mũi sắc hướng cao lên một góc cao xanh xa xăm. Ở khóe miệng như sắp hé nở một nụ cười. Tôi hiểu ngay rằng tâm hồn mẫn tiệp này đã bước đi trên con đường biện chứng, đả một bên rồi sang bên còn lại. Vì thuộc cùng một tạng với anh, tôi tận hưởng được niềm vui thú khai phá cái bí ẩn mà màn diễn ngôn của anh vừa đặt ra cho chúng tôi.

– Kín đáo cùng chiến thuật cẩn trọng – tôi nói – anh đã đưa chúng tôi đến sát mép mâu thuẫn, hẳn là để khiến chúng tôi thật nhạy với nó. Thực sự, anh đã duy trì hai thuyết đối lập: một bên cho rằng mỗi ngôn ngữ đều ấn định một bộ phạm trù giới hạn tư duy, những tuyến đường tâm trí; bên kia lại cho rằng những bộ phạm trù đầu tiên do mỗi ngôn ngữ tạo nên không còn khả dụng, rằng ta chỉ dùng chúng theo tập quán và hời hợt, rằng ngôn ngữ của ta không còn phù hợp để nói những gì ta nghĩ mà chỉ còn là một cung cách thốt lời. Vì cả hai thuyết này đều thuyết phục, sự đối lập của chúng dẫn ta đến việc đặt ra một vấn đề mà tới giờ vẫn không được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu: những gì còn sống trong ngôn ngữ và những gì đã chết; những phạm trù ngữ pháp nào tiếp tục ảnh hưởng tư duy ta và những phạm trù nào đã mất tính hiệu dụng. Bởi lẽ, qua tất cả những gì anh vừa nói với chúng tôi, điều rõ ràng nhất là mệnh đề choáng váng này, mệnh đề sẽ làm Meillet và Vendrye dựng tóc gáy: ngôn ngữ của ta là sản phẩm lỗi thời.

– Chính xác – nhà ngôn ngữ học thốt lên – Đó là điều tôi muốn đề ra, và đó là thứ tôi nghĩ. Ngôn ngữ của ta là công cụ lỗi thời. Khi ta nói, ta trở thành những tù nhân hèn mọn của quá khứ.

5. Vinh

– Thời gian trôi nhanh quá – tôi nói với nhà ngôn ngữ học thông thái – và hội thảo này phải đến hồi kết. Nhưng tôi không muốn ra về mà chưa được hay anh nghĩ sao về công việc dịch thuật.

– Tôi nghĩ như ngài – anh trả lời – Tôi nghĩ rằng đó là một nhiệm vụ khó, gần như bất khả, nhưng cũng vì chính thế, lại là một nhiệm vụ ý nghĩa. Thêm vào đó, tôi nghĩ rằng đây là khởi đầu để ta gắng thực hiện nhiệm vụ đó cả về bề sâu lẫn bề rộng. Dù thế nào, ta cũng nên lưu ý rằng điểm cốt yếu của vấn đề đã được nhà thần học đáng kính Schleiermacher nói một thế kỷ trước trong tiểu luận “Về các phương pháp dịch thuật”. Theo ông, một bản dịch có thể rẽ theo hai hướng: hoặc là tác giả được mang sang ngôn ngữ của độc giả, hoặc độc giả được mang sang ngôn ngữ của tác giả. Trong trường hợp đầu, chúng ta không phải là đang dịch, nếu nói xác đáng ra; thực chất là ta đang nhại lại hoặc phỏng theo văn bản gốc. Chỉ khi ta ép người đọc ra khỏi thói quen ngôn ngữ của mình và buộc họ chuyển sang ngôn ngữ của tác giả thì ta mới có được một bản dịch. Từ xưa đến nay ta chỉ có giả-dịch.

Từ đây, tôi mạnh dạn đưa ra một vài nguyên tắc định hình nên công việc dịch thuật theo cách mới. Sau đó, nếu có thời gian, tôi sẽ đưa ra lý do vì sao ta phải nỗ lực hết mình vì nhiệm vụ này.

Ngay từ đầu, phải chấn chỉnh lại cái ý tưởng dịch thuật có thể và phải là thế nào. Liệu có nên hiểu nó là một màn biến báo ảo thuật mà qua đó tác phẩm viết bằng một thứ tiếng bất chợt hiện ra bằng một thứ tiếng khác? Nếu vậy, ta sẽ đi lạc đường, vì việc biến thể này là bất khả. Bản dịch không phải bản sao của văn bản gốc; nó không phải – và không nên cố gắng trở thành – nguyên tác đó với những từ vựng khác. Tôi cho rằng bản dịch còn không thuộc cùng thể loại văn học với văn bản được dịch. Sẽ phải lặp lại điều này và khẳng định rằng bản dịch là một thể loại văn học riêng biệt, khác với những loại hình khác, với hình thức và mục đích riêng. Sự thật giản dị là bản dịch không phải là nguyên tác, mà là đường dẫn về với nguyên tác. Nếu đó là một tác phẩm thơ, bản dịch không gì khác là một dụng cụ, một thiết bị kĩ thuật giúp mang ta về gần hơn với bản gốc mà không cố gắng lặp lại hay thay thế nó.

Để tránh gây khó hiểu, hãy xét đến vấn đề theo tôi là cần kíp nhất, loại dịch thuật quan trọng nhất với chúng ta: bản dịch những trước tác Hy Lạp và La Mã. Với chúng ta những tác phẩm này không còn giá trị như những khuôn vàng thước ngọc. Có lẽ một trong những triệu chứng kỳ lạ và nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta là ta sống không theo một hình mẫu nào cả, rằng khả năng nhìn nhận một thứ gì đó là mẫu mực đã tiêu biến. Trong trường hợp người Hy Lạp và La Mã, có lẽ sự bất kính hiện tại của ta hóa ra lại hiệu quả, vì khi họ chết đi với tư cách phép lệ và đường lối, họ sẽ được tái sinh trong tư cách một trường hợp duy nhất trong số những nền văn minh khác biệt căn cơ với ta mà ta vẫn có thể đào sâu nhờ vào số lượng dồi dào văn bản được bảo quản. Cuộc viễn chinh vào thời gian duy nhất mà ta thực sự làm được là quay về Hy Lạp và La Mã. Và ngày nay cuộc du ngoạn như vậy là quan trọng bậc nhất cho công cuộc giáo hóa con người Tây phương. Kết quả của hai thế kỉ sư phạm toán học, vật lý và sinh học đã cho thấy những môn này không đủ để khiến con người nhân văn hơn.

Giáo dục toán lý phải được tích hợp với học tập lịch sử đúng nghĩa – không phải chỉ để biết danh sách các vị vua hay miêu tả chi tiết về các trận đánh hoặc số liệu giá cả và tiền lương trong thế kỷ này hay thế kỷ khác, mà là một nền giáo dục đòi hỏi ta phải chu du về những miền xa xôi, hết mực lạ lẫm của một thời đại và nền văn minh khác biệt khôn cùng.

Đối diện với khoa học tự nhiên ngày nay, ngành “nhân văn” phải được tái sinh, dù với một nhiệm vụ khác trước đây. Ta lại phải tiếp cận người Hy Lạp và La Mã, không phải như những mẫu mực – ngược lại, như những sai lầm tày liếp. Vì Con người là một thực thể lịch sử và giống như mọi thực thể lịch sử – không phải tuyệt đối mà là tùy biến theo thời – nên Con người là một sai lầm. Có được nhận thức lịch sử về bản thân và học được cách nhìn nhận bản thân như một sai lầm là như nhau. Tính đến giờ, có thể nói ở mức tương đối rằng, chân lý về Con người là nó luôn sai lầm, chỉ có một nhận thức lịch sử mới giúp họ ngộ ra được điều ấy và cứu rỗi họ. Nhưng sẽ chẳng ích gì nếu ta mong đợi rằng Con người hiện tại tự nhìn vào bản thân mình mà thấy rằng mình đang sai. Ta chỉ có thể rèn luyện cho họ nhãn quan nhìn ra được chân lý, nhãn quan hướng đến sự nhân bản, bằng cách cho họ quan sát kỹ càng và thấu triệt những lỗi lầm người khác đã trải qua và, hơn cả, lỗi lầm của những con người ưu tú nhất. Đó là lý do vì sao nhiều năm nay tôi ưu tư với ý tưởng biến di sản Hy Lạp-La Mã cổ đại trở nên dễ dàng kiếm mà đọc được là hệ trọng – và vì lẽ đó một công cuộc dịch mới khổng lồ là tối cần thiết. Vì rằng giờ đây vấn đề không phải là trút đầy ngôn ngữ ngày nay chỉ với những tác phẩm văn chương được coi là mẫu mực của thể loại, mà phải dịch tất thảy mọi trước tác, không phân biệt. Chúng ta quan tâm đến chúng, chúng có tầm quan trọng với ta, tôi phải nhắc lại, như những sai lầm, không phải như những tấm gương. Chúng ta không phải học từ người Hy Lạp hay La Mã vì những điều họ nói, nghĩ, hát ca, mà đơn giản vì họ cũng như ta – cùng là phận người khốn nạn trong cơn tuyệt vọng cố gắng lội ngược làn sóng trên biển khổ nhân sinh.

Với tâm thế đó, thì việc quan trọng sẽ là chỉ hướng cho việc dịch tác phẩm kinh điển phù hợp với những mục tiêu trên. Do tôi vừa nói là việc lặp lại y nguyên một tác phẩm là bất khả và bản dịch chỉ là một dụng cụ mang ta đến với bản gốc, thế nên cũng hợp lý khi ta có nhiều bản dịch khác nhau cho một văn bản. Vốn, ít nhất là gần như vốn, không thể nào mô phỏng được toàn bộ những chiều cạnh của văn bản gốc cùng một lúc. Nếu muốn thể hiện tính chất thẩm mỹ, ta sẽ phải hy sinh gần như toàn bộ nội dung của văn bản để truyền tải được vẻ đẹp hình thức của nó. Vì thế, nhất thiết phải phân chia tác phẩm và thực hiện nhiều bản dịch khác biệt cho cùng một tác phẩm theo những mặt mà ta mong muốn dịch chuẩn xác. Nhưng, nhìn chung, tầm quan trọng của những văn bản ấy về đời sống cổ đại đã chiếm trọn mối quan tâm của ta tới mức ta có thể bỏ qua những phẩm chất khác mà không lo mất mát gì đáng kể.

Mỗi khi một bản dịch Plato, dù bản mới nhất, được đem ra so với bản gốc, nó sẽ gây ra bất ngờ cũng như khó chịu, không phải vì văn phong màu mỡ phì nhiêu của Plato đã biến mất khi dịch mà bởi sự mất mát đến ba phần tư những điều thuyết phục trong câu văn của triết gia này, điều mà ông đã ngộ ra trong mạch tư duy dữ dội của mình, điều mà ông đã luôn thầm ấp ủ và gợi ra xuyên suốt văn chương ông. Vì lý do đó – chứ không phải vì sự tiêu biến của vẻ đẹp hình thức như người ta hằng tưởng – nên những bản dịch không hề thu hút được độc giả ngày nay. Làm sao mà thú vị được khi mà văn bản đã bị rút lõi không còn gì từ trước và tất cả những gì còn lại là một cái vỏ không chút chiều sâu hay hứng khởi? Và tôi đoan chắc rằng điều tôi nói không phải thuần túy giả tưởng. Có một sự thật nhiều người biết là chỉ có duy nhất một bản dịch Plato thực sự đáng đọc. Bản dịch này tất nhiên là của Schleiermacher, và chính vì ông đã chủ ý từ chối tạo ra một bản dịch đẹp mà cố gắng, theo phương pháp cơ bản, thực hiện điều tôi vừa nói. Bản dịch nổi tiếng này đã giúp ích nhiều thậm chí cho cả những nhà ngữ văn học. Sẽ là sai lầm khi nghĩ rằng tác phẩm kiểu này chỉ phục vụ cho những người không biết tiếng Hy Lạp hay La tinh.

Thành ra, tôi có thể mường tượng một bản dịch xấu xí, như khoa học vẫn luôn vậy; một bản dịch không cố khoác lên mình lớp vải văn hoa; một bản dịch không dễ đọc nhưng rất sáng sủa (dù sự sáng sủa này đòi hỏi phải có những chú thích lê thê). Người đọc phải biết trước khi đọc một bản dịch y sẽ không được đọc một áng văn đẹp đẽ mà sẽ phải mò mẫm sử dụng một dụng cụ phiền phức. Tuy thế, dụng cụ ấy sẽ thực sự giúp y vươn tới gần được Plato tội nghiệp, người hơn hai tư thế kỷ trước đã cố gắng nổi trôi trên dòng cuộc sống này theo cách riêng mình.

Những người ở thời kỳ khác cần đến những người cổ đại trong một ý nghĩa thực tiễn. Họ cần học được nhiều điều từ cố nhân để áp dụng chúng vào đời sống thường nhật. Nên cũng dễ hiểu nhu cầu hiện đại hóa bản dịch văn bản cổ, điều chỉnh cho thích ứng với hiện tại. Nhưng làm điều ngược lại sẽ là khôn ngoan hơn. Ta cần đến những người cổ đại chính bởi họ không giống ta, dịch phải nhấn mạnh vào đặc điểm ngoại lai, lạ lẫm này, và khiến nó được hiểu đúng như thế.

Tôi không hiểu lý do bất cứ nhà ngữ văn học nào lại không nhìn ra rằng nhiệm vụ của họ là để cho các văn bản cổ đại được dịch theo hướng này. Nói chung, không người viết nào nên phỉ báng nghiệp dịch, và nên cải thiện tác phẩm của mình bằng một văn bản cổ đại, trung cổ hay đương thời. Cần thiết phải khôi phục lại vị thế của lao động này và coi nó là công việc trí tuệ bậc nhất. Làm như thế sẽ biến dịch thuật thành một chuyên ngành đích thực và, nếu được chăm bồi liên tục, sẽ tạo ra những kĩ thuật riêng, giúp khuếch trương đáng kể mạng lưới những hướng đi tri thức của ta. Và nếu như tôi quá ưu ái những bản dịch Hy Lạp và Latin, đó là vì vấn đề thể hiện rõ nhất trong trường hợp đó. Nhưng dù thế nào thì kết luận về giai đoạn lịch sử hay dân tộc nào cũng đều được rút ra như thế. Điều nhất quyết là, trong việc dịch, ta cố rời ngôn ngữ của mình để đến một ngôn ngữ mới – chứ không phải ngược lại, vốn là cách người ta thường làm. Đôi khi, nhất là khi xử lý tác giả đương thời, ta có thể tạo nên một phiên bản có thẩm mỹ nhất định, bên cạnh các phẩm chất thuộc về dịch thuật. Đó là mật ong trên bánh hojuelas (một điểm xuyết tuyệt vời), như người Tây Ban Nha các vị vẫn nói, dù tôi có lẽ chẳng hiểu hojuelas là gì.

– Tôi đã lắng nghe anh với niềm vui lớn lao – Tôi nói, để kết lại cuộc nói đàm luận – Rõ ràng là độc giả của một nước sẽ không tận hưởng một bản dịch làm y nguyên theo phong cách ngôn ngữ nước mình. Vì họ có quá đủ những tác giả tiếng mẹ đẻ rồi. Điều được họ coi trọng là ngược lại: đẩy những khả thể của ngôn ngữ đó đến những đường biên giới hạn của những gì còn hiểu được đến nỗi cách nói năng đúng chuẩn của tác giả khi dịch ra lấn vào được ngôn ngữ của họ. Ấn bản tiếng Đức của sách do tôi viết là một ví dụ hay. Chỉ trong vài năm, đã có hơn mười lăm phiên bản. Chuyện này là không thể tưởng tượng nổi nếu bản dịch không chiếm bốn phần năm thành công của sách. Và nó thành công vì dịch giả của tôi đã cưỡng ép những giới hạn chịu đựng của ngữ pháp tiếng Đức để chuyển tải chính xác những điều không mang chất Đức trong cách nói năng của tôi. Bằng cách này, người đọc tự động có những phản ứng tinh thần mang chất Tây Ban Nha. Thư giãn ở đây một chút, trong phút chốc ta thấy ta là người khác.

Nhưng rất khó làm được điều này với tiếng Pháp. Tôi rất tiếc khi lời cuối của tôi ở cuộc hội thảo này lại bị buột mồm thành lời chê bai, nhưng chủ đề của buổi hôm nay bắt buộc tôi phải nói ra, rằng: trong tất cả các ngôn ngữ châu Âu, ngôn ngữ ít hỗ trợ công việc dịch thuật nhất là tiếng Pháp.

Hoàng Hải dịch

K. hiệu đính

[1] Georg Cantor (1845–1918): Một nhà toán học người Đức, người đã tạo ra lý thuyết tập hợp, trở thành một trong những thành tố cơ bản của toán học hiện đại. (Các chú thích đều của người dịch.)

[2] Étienne Bonnot de Condillac (1714–1780): Triết gia người Pháp, người thừa kế và phát triển trường phái duy nghiệm của John Locke.

[3] Nhà Abencerrajes: theo truyền tụng, đây là một dòng tộc quyền thế tại Vương quốc Hồi giáo Granada vào thế kỉ 15 (nằm về phía miền nam bán đảo Tây-Bồ, phía nam nước Tây Ban Nha ngày nay). Theo một truyền thuyết, gia đình này đã bị bao vây và giết hại trong một tòa nhà trong kinh thành Alhambra sau khi một người thuộc dòng họ tán tỉnh một nữ nhân thuộc gia đình hoàng tộc. Căn sảnh này ngày nay được gọi là Sảnh Abencerrajes.

[4] Wilhelm von Humboldt (1767-1835): Triết gia, nhà ngôn ngữ học người Phổ.

[5] Antoine Meillet (1866-1936): Nhà ngôn ngữ học người Pháp nổi danh đầu thế kỷ 20 với những công trình nghiên cứu về lịch sử ngôn ngữ Ấn-Âu. Ông chịu ảnh hưởng từ Michel Bréal và Ferdinard de Saussure.

 

(Dịch từ bản dịch tiếng Anh “The Misery and the Splendor of Translation” của Elizabeth Gamble Miller trong The Translation Studies Reader (2000), Lawrence Venuti biên tập, Routledge xuất bản.

Hiệu đính từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha “Miseria y esplendor de la traducción”.)

Chấm sao chút:

Đã có 2 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Hoàng Hải

Hiếu học hay hóng hớt.

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: