Itamar Even-Zohar, Vị trí của văn học dịch trong đa hệ thống văn chương (1990)

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Itamar Even-Zohar
Thời gian đọc: 13 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 2021: Về sự dịch, ngày 30-11-2021)

Để tưởng nhớ James S. Holmes – nhà nghiên cứu dịch thuật vĩ đại và người bạn thiết

1

Mặc dù vai trò quan trọng của dịch thuật trong sự kết tinh văn hóa dân tộc đã được các sử gia văn hóa thừa nhận rộng rãi, cho tới nay vẫn còn tương đối ít những nghiên cứu được thực hiện trong lĩnh vực này.

Thường thì lịch sử văn học chỉ nhắc đến các bản dịch khi không thể tránh được nữa, chẳng hạn khi bàn đến thời Trung cổ hoặc Phục hưng. Tất nhiên thỉnh thoảng ta có thể thấy vài chỗ đề cập đến dịch thuật văn chương cá nhân ở nhiều thời kỳ khác nhau, song chúng hiếm khi được đưa vào sử liệu một cách mạch lạc. Hệ quả là ta khó có được tí ý niệm nào về chức năng của văn học dịch đối với một nền văn học nói chung hay vị trí của nó trong nền văn học đó. Hơn nữa, không ai ý thức được văn học dịch có thể tồn tại như một hệ thống văn chương riêng. Đúng hơn, khái niệm thịnh hành là khái niệm “dịch” hay đơn giản là “tác phẩm dịch” được xem xét trên cơ sở từng bản dịch. Liệu có cơ sở nào cho một giả định khác, coi văn học dịch là một hệ thống? Liệu trong nhóm văn bản dịch có vẻ tùy tiện kia có cái mạng lưới quan hệ văn hóa và ngôn từ tương tự như cái mạng lưới ta giả định là có trong văn học nguồn? Các tác phẩm dịch có thể có những kiểu quan hệ nào, thứ vốn được coi là sự thật hoàn chỉnh, được du nhập từ các nền văn chương khác, tách biệt với bản quán của mình và do đó trở nên trung lập từ góc nhìn các cuộc chiến trung tâm và ngoại biên?

Lập luận của tôi là các tác phẩm dịch tương liên với nhau ít nhất theo hai cách: (a) cách các văn bản nguồn được nền văn học đích lựa chọn, nguyên tắc lựa chọn luôn luôn tương liên với các đồng hệ thống sở tại của văn học đích (nói một cách cẩn trọng nhất); (b) cách chúng lấy các quy chuẩn, cách hoạt động và chính sách cụ thể – tức theo cách chúng sử dụng văn vựng – bắt nguồn từ những quan hệ của chúng với các đồng hệ thống tại bản quán. Những thứ này không chỉ giới hạn ở cấp độ ngôn ngữ mà hiển lộ ở bất kỳ cấp độ lựa chọn nào. Do đó, văn học dịch có thể sở hữu văn vựng của riêng nó, đến một mức độ mình nó độc quyền văn vựng ấy (xem Toury 1985 và 1985a).

Dường như những điểm này khiến cho việc bàn về văn học dịch không chỉ hợp lẽ mà còn cấp thiết. Tôi cho rằng mọi nỗ lực học thuật nhằm miêu tả và lý giải cách hoạt động của đa hệ thống văn chương trong đồng đại và lịch đại đều sẽ không thể tiến triển một cách thỏa đáng nếu những điều trên không được công nhận. Nói cách khác, tôi hình dung văn học dịch không chỉ là một hệ thống không thể thiếu bên trong bất kỳ một đa hệ thống văn chương nào, mà còn là một hệ thống hết sức năng động bên trong nó. Song vị trí của nó trong đa hệ thống này là gì, và vị trí này có liên hệ ra sao với bản chất văn vựng tổng thể chung? Ta rất dễ cho rằng do văn học dịch nằm ở vị trí ngoại biên trong nghiên cứu văn học nên nó cũng vĩnh viễn chiếm vị trí ngoại biên trong đa hệ thống văn chương, song điều này hoàn toàn không đúng. Văn học dịch trở thành trung tâm hay ngoại biên, và vị trí này liên quan gì với văn vựng mang tính đổi mới (“nguyên cấp”) hay bảo thủ (“thứ cấp”), tùy thuộc vào nhóm đa hệ thống cụ thể đang được nghiên cứu.

2

Nói văn học dịch duy trì vị trí trung tâm trong đa hệ thống văn chương nghĩa là nó tham gia tích cực vào việc hình thành trung tâm của đa hệ thống. Trong tình huống đó thì văn học dịch nói chung là một bộ phận không thể thiếu được của những lực lượng đổi mới, và vì thế rất có thể được coi là những sự kiện chính trong lịch sử văn học khi chúng đang diễn biến. Điều này hàm ý rằng trong tình huống này không một nét khu biệt rạch ròi nào có thể được duy trì giữa tác phẩm “gốc” và “dịch”, rằng thường chính các nhà văn hàng đầu (hay thành viên của phong trào tiên phong sắp trở thành nhà văn hàng đầu) sẽ tạo ra các bản dịch đáng chú ý nhất hay được đánh giá cao nhất. Hơn thế, trong tình thế như vậy khi mà các hình mẫu văn học mới đang nổi lên, dịch có thể trở thành một trong những phương tiện tạo dựng lên văn vựng mới. Qua các tác phẩm ngoại lai, các đặc điểm (cả quy tắc lẫn yếu tố văn chương) được dẫn nhập vào văn học sở tại mà trước đây chúng chưa hề tồn tại. Chúng có lẽ bao hàm không chỉ các mẫu hình hiện thực mới để thay thế cho những cái cũ sẵn có không còn ảnh hưởng, mà còn bao hàm một loạt đặc điểm khác, như ngôn ngữ (thơ ca) mới, hay các mô hình và kỹ thuật sáng tác. Rõ ràng chính những nguyên tắc lựa chọn tác phẩm để dịch được quyết định bởi tình hình đang ngự trị đa hệ thống nước sở tại này: các văn bản được chọn tùy thuộc vào sự tương hợp của chúng với những cách tiếp cận mới và vai trò được cho là đổi mới mà chúng có thể đảm nhận trong nền văn học đích.

Vậy thì điều kiện dẫn đến một tình hình theo kiểu này là gì? Với tôi, dường như có thể phân ra ba trường hợp chủ yếu mà căn bản là những biểu thị khác nhau của cùng một quy luật:

(a) khi một đa hệ thống chưa được kết tinh, nghĩa là khi một nền văn học còn “trẻ”, đang trong quá trình hình thành; (b) khi một nền văn học hoặc ở “ngoại biên” (bên trong một nhóm lớn các nền văn học có liên quan) hoặc “yếu” hoặc cả hai; và (c) khi có những điểm ngoặt, những khủng hoảng, hay khoảng chân không trong một nền văn học.

Ở trường hợp thứ nhất, văn học dịch chỉ đơn giản thỏa mãn nhu cầu của một nền văn học trẻ dùng thứ tiếng mới hình thành (hay mới cách tân) cho càng nhiều thể loại văn chương càng tốt để biến nó thành ngôn ngữ văn chương và có ích đối với lớp công chúng mới. Do một nền văn học trẻ không thể ngay lập tức tạo ra những văn bản theo mọi thể loại mà các nhà sản xuất biết đến, nên nó hưởng lợi từ kinh nghiệm của các nền văn học khác, và văn học dịch theo cách này trở thành một trong những hệ thống quan trọng nhất. Điều đó cũng đúng cho trường hợp thứ hai, ở các nền văn học tương đối ổn định mà nguồn lực lại giới hạn và vị trí của chúng trong một trật tự văn chương rộng lớn hơn nói chung là ngoại biên. Là hệ quả của tình hình này, những nền văn học như thế thường không phát triển được chuỗi hoạt động văn chương hoàn chỉnh (được hình thành trong nhiều hệ thống) mà ta thường thấy ở các nền văn học bên cạnh lớn hơn (mà hệ quả là gây ra cảm giác các nền văn học này không thể thiếu được). Chúng cũng có thể “thiếu” văn vựng, là thứ cực kỳ cần thiết khi đặt trong thế đối sánh với, và trước sự hiện diện của nền văn học bên cạnh đó. Sự thiếu hụt này có thể được lấp đầy, hoàn toàn hoặc một phần, nhờ văn học dịch. Chẳng hạn, tất cả văn học ngoại biên trong những trường hợp như vậy bao gồm văn học dịch. Song quan trọng hơn rất nhiều là hệ quả các nền văn học “yếu” đó thường ít có khả năng khởi xướng cách tân so với các nền văn học trung tâm và lớn hơn, kết quả là quan hệ lệ thuộc có thể được thiết lập không chỉ trong các hệ thống ngoại biên mà cả trong chính trung tâm của các nền văn chương “yếu” này. (Để tránh hiểu lầm, tôi muốn chỉ ra rằng những nền văn học này có thể vươn tới vị trí trung tâm tương tự như cách các hệ thống ngoại biên vươn lên trung tâm trong một đa hệ thống, song tôi lại không thể bàn đến điều này ở đây).

Do các nền văn học ngoại biên ở Tây Bán cầu rất thường có xu hướng không giống với các nền văn học của các quốc gia nhỏ hơn – dẫu ý tưởng này dường như không hay ho gì cho cam – chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thừa nhận rằng trong phạm vi một nhóm các nền văn học quốc gia có quan hệ với nhau, như văn học châu Âu, quan hệ tầng bậc đã được hình thành ngay từ khởi thủy của các nền văn chương này. Trong đa hệ thống (vĩ mô) này một số nền văn học có vị trí ngoại biên, chỉ để nói rằng chúng ở một mức độ nhất định thường được mô hình theo một nền văn chương bên ngoài. Đối với những nền văn chương như thế, văn học dịch không chỉ là một kênh chủ chốt thông qua đó văn vựng hợp thời được mang về quê nhà mà còn là nguồn của những lựa chọn cải tổ và thay thế. Do vậy, trong khi những nền văn học giàu và mạnh hơn có thể có quyền chấp nhận những cái mới từ ngoại biên nào đó bên trong ranh giới bản địa của họ thì các nền văn học “yếu” trong những hoàn cảnh như vậy thường chỉ dựa vào nguồn nhập khẩu mà thôi.

Những động lực bên trong đa hệ thống tạo nên những điểm ngoặt, tức những khoảnh khắc lịch sử khi các mẫu hình sẵn có không còn trụ được đối với thế hệ trẻ hơn. Tại những khoảnh khắc đó ngay cả trong các nền văn học trung tâm, văn học dịch có thể chiếm vị trí trung tâm. Tình hình này còn đúng hơn khi mà tại một điểm ngoặt không một hạng mục nào trong vốn bản địa được chấp nhận, hệ quả là tình trạng “chân không” xuất hiện. Trong một chân không như thế, các mẫu hình ngoại lai rất dễ thâm nhập, và văn học dịch vì vậy có thể đảm nhận vị trí trung tâm. Tất nhiên, trong trường hợp các nền văn học “yếu” hay các nền văn học luôn ở trạng thái kiệt quệ (thiếu các hạng mục văn chương hiện hữu trong nền văn chương láng giềng hay ngoại lai có thể tiếp cận được), tình thế này thậm chí còn trội hơn nữa.

3.

Cho rằng văn học dịch có thể duy trì vị trí ngoại biên có nghĩa là nó tạo nên một hệ thống ngoại biên trong đa hệ thống, thường dùng các mẫu hình thứ cấp. Trong tình huống đó nó không có ảnh hưởng gì đến các tiến trình chủ chốt mà mô phỏng theo các quy phạm do một thể loại chiếm ưu thế trong nền văn chương đích lập ra. Văn học dịch trong trường hợp này trở thành nhân tố chính của chủ nghĩa bảo thủ. Trong khi nền văn chương gốc đương đại có thể tiếp tục phát triển các quy phạm và mẫu hình mới, thì văn học dịch lại bám lấy các quy phạm vừa bị loại bỏ hay từ lâu trước đó bởi trung tâm (mới) hình thành. Nó không còn duy trì những tương liên tích cực với tác phẩm gốc.

Một nghịch lý rất thú vị xuất hiện ở đây là: dịch, mà nhờ nó những ý tưởng, văn vựng, đặc tính mới có thể được dẫn nhập vào một nền văn học, trở thành phương tiện bảo tồn thị hiếu thẩm mỹ truyền thống. Sự khác biệt giữa văn học gốc trung tâm và văn học dịch có thể diễn tiến theo nhiều cách, chẳng hạn, khi văn học dịch đã đảm nhận vị trí trung tâm và thêm những hạng mục mới vào, nó nhanh chóng đánh mất liên hệ với nền văn học gốc quê nhà – nền văn học này thì tiếp tục biến đổi – và do đó trở thành một nhân tố bảo tồn văn vựng không bị thay đổi. Như vậy, một nền văn học từng xuất hiện mang đầy tính cách mạng có thể tiếp tục tồn tại như một système d’antan (hệ thống lỗi thời) cứng nhắc, thường được những đại diện của các mẫu hình thứ cấp cuồng nhiệt bảo vệ chống lại ngay cả những đổi thay nhỏ.

Những điều kiện cho phép trạng thái thứ hai này xảy ra dĩ nhiên đối lập hoàn toàn với những gì giúp văn học dịch vươn lên thành hệ thống trung tâm: hoặc không có thay đổi lớn trong đa hệ thống, hoặc những thay đổi này sẽ không được tạo ra nhờ sự can thiệp từ các quan hệ liên văn học dưới dạng các bản dịch.

4.

Giả thuyết rằng văn học dịch có thể hoặc là một hệ thống trung tâm hoặc ngoại biên không hàm ý rằng nó luôn chỉ là cái này hay cái kia. Là một hệ thống, văn học dịch tự nó phân tầng, và từ quan điểm phân tích đa hệ thống mọi quan hệ trong hệ thống được quan sát từ vị trí ưu thế là tầng trung tâm. Điều này có nghĩa là trong khi một bộ phận của văn học dịch có thể đảm nhận vị trí trung tâm thì bộ phận khác có thể khá ngoại biên. Trong phân tích trên, tôi đã chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa các tiếp xúc văn chương và vị thế văn học dịch. Với tôi, đây dường như là đầu mối quan trọng cho vấn đề này. Khi có sự giao thoa dữ dội thì chính phần văn học dịch nảy sinh từ một nền văn học gốc lớn khả năng cao sẽ đảm nhận vị trí trung tâm. Chẳng hạn, trong đa hệ thống văn học Hebrew giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, văn học được dịch từ tiếng Nga chiếm vị trí trung tâm hiển nhiên, trong khi các tác phẩm dịch từ tiếng Anh, Đức, Ba Lan và các ngôn ngữ khác chiếm vị trí ngoại biên rõ rệt. Hơn nữa, do các quy phạm dịch chính và mang tính cách tân nhất đều do các bản dịch từ tiếng Nga tạo nên, các loại văn học dịch khác tuân thủ các mẫu hình và quy phạm do các bản dịch đó tạo dựng.

Cho đến nay tư liệu lịch sử được phân tích trong phạm vi hoạt động đa hệ thống bị quá hạn chế nên không thể đưa ra bất kỳ kết luận toàn diện nào về khả năng văn học dịch chiếm một vị trí đặc biệt. Tuy nhiên, nghiên cứu mà nhiều học giả khác tiến hành trong lĩnh vực này, cũng như nghiên cứu của cá nhân tôi, cho thấy vị trí “thông thường” mà văn học dịch đảm nhận thường là ngoại biên. Về nguyên tắc, điều này hợp với suy đoán lý thuyết. Có thể giả định rằng về lâu về dài không một hệ thống nào ở trong tình trạng yếu kém, “điểm ngoặt” hay khủng hoảng mãi được, dù cũng không nên loại trừ khả năng một số đa hệ thống có thể duy trì tình trạng đó trong một khoảng thời gian khá dài. Hơn nữa, không phải tất cả đa hệ thống đều được cấu trúc theo cùng một cách, mà các nền văn hóa khác biệt đáng kể. Chẳng hạn, hiển nhiên là hệ thống văn hóa Pháp, đương nhiên bao gồm cả văn chương Pháp, cứng nhắc hơn nhiều phần lớn các hệ thống khác. Tình trạng này, cùng với vị thế trung tâm lâu đời của văn chương Pháp trong bối cảnh châu Âu (hoặc bên trong đa hệ thống vĩ mô châu Âu), đã khiến cho văn học dịch ở Pháp nằm ở vị trí cực kỳ ngoại biên. Tình trạng nền văn học Anh Mỹ cũng tương tự, trong khi về phương diện này văn học Nga, Đức, hay Scandinavia dường như lại cho thấy những mẫu hình hoạt động khác biệt.

5.

Vị trí văn học dịch đảm nhận có thể đem lại những hệ quả gì đối với các quy phạm, cách hoạt động và chính sách dịch thuật? Như tôi đã trình bày ở trên, sự khác biệt giữa một tác phẩm dịch và một tác phẩm gốc về mặt hoạt động văn chương là chức năng của vị trí mà văn chương dịch chiếm tại một thời điểm nhất định. Khi chiếm vị trí trung tâm, các ranh giới bị tán loạn, nên ngay cả phạm trù “tác phẩm dịch” cũng phải được mở rộng đến giả-dịch hay bán-dịch. Từ quan điểm lý thuyết dịch tôi nghĩ đây là cách xử lý thích hợp với những hiện tượng như vậy hơn là loại bỏ chúng vì coi dịch thuật là tĩnh và phi lịch sử. Vì hoạt động dịch tham dự vào – khi nó đảm nhiệm vị trí trung tâm – tiến trình tạo ra những mẫu hình chủ chốt mới, nên mối quan tâm chính của dịch giả ở đây không chỉ là tìm kiếm những mẫu hình sẵn có trong văn vựng bản quán của mình nơi các văn bản nguồn có thể được chuyển sang. Thay vào đó, trong tình huống như vậy, anh ta sẵn sàng vi phạm những quy ước bản quán của mình. Trong những hoàn cảnh như thế, khả năng bản dịch sẽ gần với bản gốc, ở mặt tương thích (nói cách khác, một phiên bản tái tạo các mối quan hệ văn bản ưu thế của bản gốc) sẽ lớn hơn những khả năng khác. Tất nhiên, từ quan điểm của nền văn học đích các quy phạm dịch được du nhập có thể quá ngoại lai và cách mạng trong một thời gian, và nếu xu hướng mới này bị thất bại trong cuộc chiến văn chương thì dịch thuật theo thị hiếu và quan niệm mới sẽ không bao giờ thực sự được chấp nhận. Song nếu xu hướng mới này chiến thắng thì văn vựng (bộ quy tắc) của văn học dịch có thể phong phú hơn và trở nên linh hoạt hơn. Các giai đoạn thay đổi lớn trong hệ thống sở tại thực tế là những giai đoạn duy nhất mà dịch giả được chuẩn bị để vượt ra khỏi những lựa chọn mà văn vựng có sẵn của bản quán đưa ra cho anh ta và sẵn lòng thử nghiệm một cách tạo văn bản khác. Chúng ta hãy nhớ rằng trong những hoàn cảnh ổn định các hạng mục còn thiếu trong một nền văn chương đích có thể vẫn không thể chuyển dịch được nếu tình trạng của đa hệ thống không cho phép cách tân. Song tiến trình khai mở hệ thống dần mang các nền văn học lại gần nhau hơn và về lâu về dài cho phép một tình thế khi mà những tương thích (dịch thuật) trong đòi hỏi và những tương đương trong thực tế có sự giao thoa khá lớn. Đây chính là trường hợp của các nền văn học châu Âu, mặc dù ở một số nền văn chương đó cơ chế loại bỏ mạnh đến nỗi những đổi thay mà tôi đang nói đến diễn ra ở một quy mô khá hạn chế.

Đương nhiên, khi ở vị trí ngoại biên, văn học dịch hành xử hoàn toàn khác. Ở đây, nỗ lực chính của dịch giả là tập trung xác định những mẫu hình thứ cấp sẵn có tốt nhất cho văn bản ngoại lai, và kết quả thường là bản dịch không thỏa đáng hay (như cách nói mà tôi thích hơn) là khác biệt lớn giữa sự tương đương đạt được và sự tương xứng được đòi hỏi.

Nói cách khác, không chỉ vị thế văn chương-xã hội của dịch thuật phụ thuộc vào vị trí của nó trong đa hệ thống mà ngay cả hoạt động dịch thuật cũng bị phụ thuộc nặng nề vào vị trí này. Và ngay cả câu hỏi tác phẩm dịch là gì cũng không thể trả lời được một cách tiên nghiệm khi xem xét trong một trạng thái được lý tưởng hóa tách ra khỏi bối cảnh và phi lịch sử: nó phải được quyết định dựa trên những hoạt động điều hành đa hệ thống. Theo quan điểm này, dịch không còn là một hiện tượng mà bản chất và ranh giới được định sẵn dứt khoát, mà là một hoạt động phụ thuộc vào các quan hệ bên trong một hệ thống văn hóa nhất định.

Trần Hải Yến dịch

 

(Dịch từ bản gốc tiếng Anh “The Position of Translated Literature within the Literary Polysystem” in trong Polysystem Studies in trên Poetics Today, International Journal for Theory and Analysis of Literature and Communication, Volume 11, number 1 (1990).

Một phiên bản của bản dịch này đã in trong Lý thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa, văn chương, cùng tác giả và dịch giả, NXB Thế giới, 2014.)

Chấm sao chút:

Đã có 0 người chấm, trung bình 0 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Trần Hải Yến

Trần Hải Yến là tiến sĩ Ngữ văn, nghiên cứu tại Viện Văn học từ 1983 đến nay.

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: