Đánh giá trong nghiên cứu dịch thuật (2020)

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Trong xưởng vẽ của Marie Bashkirtseff (1858-1884)
Thời gian đọc: 21 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 2021: Về sự dịch, ngày 30-11-2021)

Thực ra, đánh giá dịch là vấn đề gây tranh cãi không phải chỉ ở Việt Nam và nó cũng chẳng phải là vấn đề mới mẻ gì. Đây là vấn đề “cũng to to mà cũng lại cũ cũ”, có khi thiên hạ nghe cũng nhàm tai bởi chưa nghe cũng sẽ biết rồi cuộc luận bàn sẽ chẳng đi đến đâu cả. Đâu là bản dịch tốt, thế nào là bản dịch hay – vẫn cứ sẽ là một dấu chấm hỏi to đùng.

 

1. Bốn câu hỏi lớn

Luận bàn một vấn đề nào đó, thường sẽ xoay quanh năm câu hỏi lớn mà trong tiếng Anh hay gọi là 5W1H: Vì sao phải đánh giá (Why)? Ai đánh giá (Who)? Đánh giá cái gì (What)? Đánh giá khi nào (When)? và Đánh giá như thế nào (How)? Tuy nhiên vì câu hỏi “Khi nào?” tương đối dễ trả lời (đương nhiên là sau khi có bản dịch, và đặc biệt khi bản dịch gây xì-căng-đan) nên trong phần này, tôi chỉ xoay quanh bốn câu hỏi lớn còn lại mà thôi.

1.1 Vì sao phải đánh giá?

 Phê bình dịch thuật là một cấu phần thiết yếu trong một khoá học dịch; trước tiên, vì nó sẽ cải thiện năng lực dịch của bạn một cách nhẹ nhàng; thứ hai, vì nó mở rộng tri thức và hiểu biết của bạn về ngôn ngữ mẹ đẻ và thứ ngôn ngữ ngoại quốc kia, cũng như, có lẽ là cả về chủ đề [dịch] nữa; thứ ba, vì khi đưa cho bạn các lựa chọn, nó sẽ giúp bạn sắp xếp được các ý kiến của mình về dịch thuật.

Newmark, P. (1995:185, dịch và chữ đậm của người viết)

Hiện tại, trong các tài liệu nghiên cứu về dịch, có ít nhất bốn thuật ngữ liên quan tới “đánh giá” thường được nhắc tới: translation evaluation, translation criticism, translation analysis translation assessment. “Translation evaluation” thường liên quan tới cấp độ văn bản vĩ mô (macro-textual level) nhằm định cho bản dịch một giá trị nào đó (điểm) dựa trên một thang chấm. “Translation criticism” áp dụng cho từ cấp độ từ vựng tới cấp độ văn bản, nhằm nêu lên tính phù hợp (the appropriateness) của một bản dịch, ngầm thể hiện sự định giá trị nhưng không nhất thiết phải lượng hoá. “Translation analysis” quan tâm tới mối quan hệ giữa bản dịch và các yếu tố liên quan trong quá trình làm ra bản dịch đó, gồm cả bản gốc, không có tính đánh giá về giá trị. “Translation assessment” bao hàm cả ba quy trình trên.

Nếu đặt trong bối cảnh đào tạo dịch thuật, thứ tự các quy trình sẽ là (1) analysis -> (2) criticism -> (3) evaluation. (1) sẽ thực hiện qua bài kiểm tra đầu vào nhằm xác định các phương pháp dịch mà người học áp dụng, để từ đó đưa ra phản hồi và nhận xét cho họ (2) nhằm cải thiện những điểm chưa được rồi chấm điểm thành quả của họ (3). Một chương trình đào tạo dịch thuật, do đó, phải có khả năng đánh giá được sản phẩm của người học để đưa ra một giá trị có tính dự đoán về năng lực chuyên môn của họ. Nôm na là, nếu bản dịch của anh liên tục bị dưới trung bình thì tốt nhất, anh không nên hành nghề dịch.

Mục đích đánh giá (bản) dịch ngoài môi trường đào tạo, theo tôi, hoặc chả có gì hoặc rất hệ trọng. Nói chả có gì là vì, có khi thích thì đánh giá thôi. Nó là câu chuyện phiếm giết thời gian khi uống nước hay lướt facebook của những con người không chuyên, không biết gì về dịch thuật, có khi không biết cả ngôn ngữ gốc còn ngôn ngữ đích thì cũng chỉ ở mức đủ dùng. Họ nhận xét đầy cảm tính và bâng quơ. Nói rất hệ trọng là vì, nó liên quan tới việc kiểm soát chất lượng của bản dịch và của dịch giả, là bộ mặt của các đơn vị xuất bản và các đơn vị hành chính khác liên quan trong ngành xuất bản; nó gióng lên hồi chuông báo động về chất lượng đào tạo ngoại ngữ, đào tạo tiếng Việt, về mức thù lao rẻ mạt cho dịch giả, vân vân và mây mây.

1.2. Ai đánh giá?

Trong môi trường đào tạo, người đánh giá là giáo viên. Họ sẽ đánh giá bản dịch của học viên theo một số tiêu chí mà hiện giờ tại Việt Nam vẫn chưa có trường nào hoàn thiện. Ngoài ra, các học viên cũng sẽ đánh giá chéo bản dịch của nhau và tự đánh giá bản dịch của chính mình. Thông thường, chí ít là ở các lớp tôi đã từng giảng dạy trước đây, mỗi học viên học dịch sẽ có một portfolio, chính là một bộ hồ sơ, lưu lại các bản dịch của mình có nhận xét và gợi ý chỉnh sửa của bạn bè và giáo viên nhằm tiện theo dõi tiến bộ.

Ngoài môi trường đào tạo, một bản dịch có thể được đánh giá bởi vô số những người có thẩm quyền: (a) người đọc soát của công ty dịch thuật; (b) trưởng bộ phận/trưởng phòng của công ty dịch (na ná bộ phận Kiểm soát chất lượng); (c) khách hàng; (d) người phê bình chuyên môn; (e) độc giả của bản dịch được phát hành (Newmark 1988: 185). Tuy nhiên, như đã nói ở trên, nhiều người điểm sách cho những cuốn sách dịch còn chả biết nguyên tác hay ngôn ngữ gốc, và vì thế, họ sẽ thường chỉ đánh giá bản dịch dựa trên sự trôi chảy (smoothness), sự tự nhiên (naturalness), đọc xuôi (easy flow), dễ đọc (readability) và không trúc trắc (no interference). Nabokov gọi đây là “false standards” – những tiêu chuẩn giả. Tại sao một bản dịch lại không nên giống như một bản dịch trong khi độc giả thừa biết nó là một bản dịch? (Newmark 1988:185-86).

1.3. Đánh giá như thế nào?

Câu hỏi “Như thế nào?” luôn là câu hỏi khó. Tuy luôn tự nhận là nghề cổ xưa thứ hai của loài người nhưng phải đến đầu thế kỷ 20, dịch mới trở thành một ngành học thuật và từ đó mới được nghiên cứu tỉ mỉ với các khung lý thuyết dựng nên có tính đặc thù. Do vậy, câu chuyện phương pháp đánh giá (bản) dịch sẽ có tính “chín cha ba mẹ”, tùy thuộc vào người đánh giá và mục đích đánh giá.

Trong bối cảnh đào tạo dịch, bảy cách đánh giá một bản dịch do Larson (1984) đề xuất thường được nhắc đến:

  1. So sánh với (văn) bản gốc (đánh giá hồi cứu)
  2. Dịch ngược (back-translation) và so sánh với bản gốc
  3. Đo độ hiểu (đánh giá tương lai) (của người đọc)
  4. So sánh với các văn bản song song không phải là bản dịch (non-translated parallel text)
  5. Đo độ tự nhiên (naturalness)
  6. Đo độ dễ hiểu (readability)
  7. Đo tính nhất quán (consistency)

Trong đó, cách 3, 5, 6 và 7, Larson có khuyến nghị nên đọc bản dịch thành lời cho một người không biết bản gốc (và thậm chí không biết ngôn ngữ gốc thì càng tốt) nghe hoặc để người này đọc bản dịch, sau đó yêu cầu người này kể lại và/hoặc trả lời câu hỏi về nội dung bản dịch. Ông cho rằng phản ứng của khán giả sẽ giúp người dịch xác định được bản dịch của mình có dùng được hay không.

Có lẽ vì Larson chú trọng tới yếu tố nghĩa của dịch (meaning) và các tương đương dịch thuật giao văn hoá hơn là hình thức của dịch (form) nên bảy cách mà ông đưa ra đánh thẳng vào việc bản dịch được tiếp nhận ra sao. Bản dịch tốt theo Larson là khi ý nghĩa của bản gốc được bảo toàn và người đọc không gặp cản trở gì khi tiếp nhận ý nghĩa đó bằng ngôn ngữ đích.

Điều này gợi nhắc tôi tới quan điểm về đánh giá chất lượng bản dịch mà tôi tâm đắc của Julianne House viết trong cuốn A Model for Translation Quality Assessment:

Đánh giá chất lượng bản dịch phụ thuộc vào một quan điểm lý thuyết dịch. Do đó, quan điểm dịch thuật khác nhau sẽ dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng dịch thuật, và vì thế những cách đánh giá dịch thuật khác nhau.

House J. (1997:1, dịch và chữ đậm của người viết)

Vậy là, chuyện đánh giá bản dịch cần bắt đầu từ khái niệm dịch thuật hay “translation”. Nói cách khác, để trả lời câu hỏi “Đánh giá cái gì?”, ta sẽ cần quay ngược lại thời gian để nhìn lại lịch sử của dịch thuật.

 

2. Ngược dòng quá khứ

Thực ra, nghiên cứu dịch thuật (translation studies) mới trở thành một ngành học từ những năm 1970 và từ đó mới có các lý thuyết riêng bàn về dịch thuật. Trước đó, chỉ là các quan điểm mơ hồ giữa hai quan điểm: dịch bám từ (word for word) hay dịch lấy ý (sense for sense).

2.1. Dịch thơ văn La Mã = dịch thoát

Theo Steiner (1998), lý luận dịch của phương Tây bắt đầu từ thời của Marcus Tullius Cicero (106-43 TCN) và Horace (65-8 TCN). Cicero được coi là nhà hùng biện vĩ đại nhất của La Mã cũng như một dịch giả các tư tưởng và văn bản từ tiếng Hi Lạp sang tiếng La-tinh. Bàn về chuyện dịch, Cicero đã viết, “Tôi không nghĩ rằng mình cần phải dịch sát như đếm từng đồng cho độc giả, mà là trả cho họ một sức nặng tương đương.” (“De optimo genere oratorum” (On the Best Type of Orator”) trích theo Robinson 1997:9). Tuy không nói hẳn ra cụm từ dịch thoát hoặc dịch ý theo ý (sense-for-sense) nhưng có thể thấy Cicero quan điểm giữ tinh thần của ngôn ngữ gốc và dùng từ phù hợp với ngôn ngữ đích khi dịch. Tương tự, Horace khi bàn về dịch thơ cũng bác bỏ phương pháp dịch từ theo từ (word for word) (Robinson 1997:15). Có thể do hoạt động dịch thuật ở thời của hai ông này chủ yếu là dịch văn chương, thơ phú cho các độc giả trí thức, biết cả tiếng Hi Lạp và tiếng La-tinh, dịch không phải để giới thiệu tác phẩm mới cho công chúng mà là để so sánh và bình luận và làm phong phú thêm tiếng La-tinh.

2.2. Dịch văn bản tôn giáo = dịch sát

Nói đến lịch sử dịch thuật thì không thể không nói tới dịch Kinh Thánh của Ki-tô giáo. Khác với việc dịch thơ văn của thời La Mã chú trọng ý tứ, dịch Kinh Thánh chú trọng việc chuyển ngữ sao cho thật sát. Bởi lẽ, Kinh Thánh là lời răn của Chúa, là “sacred texts” linh thiêng và cần phải được truyền tải trung thực mới giữ được phép nhiệm màu. Thánh Jerome (340-420), dịch giả Kinh Thánh lừng lẫy, chính là người cổ suý cho phương pháp dịch sát này với dịch Kinh thánh (Robinson 1997:23-30).

Tuy nhiên, vẫn là dịch Kinh Thánh, Martin Luther (1483-1546) lại có quan điểm dịch hoàn toàn khác. Luther là người đầu tiên dịch bản Vulgate (Kinh Thánh bằng tiếng Latin do Thánh Jerome dịch) sang tiếng Đức, và ông cho rằng người dịch phải diễn tả và truyền đạt sao cho hấp dẫn với người đọc. Tức là, Luther chọn lối dịch vị độc giả nên có thể bỏ qua văn phong của bản gốc. Quan điểm dịch Kinh Thánh này tuy bị phê phán và cấm đoán (có những dịch giả bị kết tội dị giáo và bị thiêu) nhưng nó đã thực sự ảnh hưởng tới các thế hệ dịch Kinh Thánh sau này, trong đó có Eugene Nida (1914-2011), nhà ngôn ngữ học Hoa Kỳ chuyên dịch Kinh Thánh trong thế kỷ 20. Một ví dụ nổi tiếng của Nida thường được trích dẫn trong các sách dạy dịch là “lamb of God” (con chiên của Chúa), được dịch thành “seal of God” (con hải cẩu của Chúa) trong bản dịch dành cho người Eskimo do ở Bắc Cực, họ không có cừu để hình dung nổi từ “lamb” cũng như có liên hệ về tình cảm. Hơn nữa, sắc thái ý nghĩa “thơ ngây, trong trắng” trong ngôn ngữ Eskimo không gắn với hình tượng “con chiên”. Nida gọi cụm “seal of God” là “dynamic equivalence” (tương đương chủ động) tương phản với “formal equivalence” (tương đương nguyên mẫu). Và cặp phương thức dịch thuật này cũng phần nào thể hiện hai quan điểm dịch thoát và dịch sát đang được luận bàn từ đầu tới giờ.

Khi nói về dịch văn bản tôn giáo, cũng nên nhắc tới một nhân vật khác, có lẽ là quen thuộc hơn hẳn với người Việt Nam, chính là Huyền Trang pháp sư (602-664). (Vị này, cứ mỗi độ hè về, sẽ hiện diện trên một hay hai kênh ti vi trong bộ phim truyền hình Trung Quốc Tây du ký – vâng, chính là Đường Tam Tạng). Vị này, như nhiều người đã biết, là có thật và ông tây du thật. Sau khi thỉnh kinh từ Ấn Độ về, ông đã dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang Hán ngữ. Ông đã đưa ra năm trường hợp không nên dịch ra Hán ngữ (Ma 1998). Đó là: trang trọng bất phiên (giữ theo tiếng Phạn cho trang trọng, không dịch), đa hàm bất phiên (từ nào có nhiều nghĩa thì không nên dịch vì có thể được nghĩa này mà mất nghĩa kia), bí mật bất phiên (mật ngữ như thần chú thì không dịch), thuận cổ bất phiên (theo người xưa nên không dịch), và thử thương bất phiên (do ngôn ngữ đích không có nghĩa như ngôn ngữ gốc nên không dịch) (Cheung 2010:157 trích theo Pan 2019, Hồ 2012:48-49). Có thể thấy, khi bàn về dịch văn bản tôn giáo, tuy sống khác thời và chẳng hề liên quan về phông văn hoá, quan điểm dịch của Thánh Jerome và Huyền Trang pháp sư lại có những điểm tương đồng rất rõ ràng.

2.3. Thế kỷ 16-17: dịch thoát và sự sáng tạo của người dịch

Cùng với sự phổ biến của Kinh Thánh, sự phát triển của ngành in ở châu Âu và thời kỳ Phục Hưng thế kỷ 16-17, dịch thuật không còn chỉ để truyền giáo và văn chương. Nó trở thành một hoạt động thiết yếu trong đời sống tri thức và người dịch thậm chí còn được coi là nhân tố cách mạng (Bassnett 2014).

Một thập kỷ sau Martin Luther, Etiene Dolet (1509-1546), nhà thơ kiêm dịch giả, vào năm 1540 đã xuất bản La manière de bien traduire d’une lange en autre (Làm thế nào dịch tốt từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác), trong đó ông có đưa ra năm nguyên tắc mà một người dịch tốt cần lưu tâm. Theo Dolet, “[n]ếu tác giả mập mờ thì người dịch có thể dễ dàng khiến ông ta rõ ràng và dễ hiểu” (Robinson 1997:95), ngầm cho thấy quyền của người dịch khi xử lý văn bản gốc rằng người dịch có thể thay đổi trật tự từ, thêm từ vốn không có trong văn bản gốc – tất thảy để giúp làm sáng ý của tác giả. Những nguyên tắc của Dolet sau này được George Chapman (1559-1634) nhắc lại. Theo Chapman, nếu muốn truyền tải được cái hồn của văn bản gốc thì người dịch phải có khả năng đảm nhận trách nhiệm và nghĩa vụ tương đương với tác giả. Tức là, không cần dịch sát mà linh hoạt chuyển ngữ cho đúng ý và tinh thần của bản gốc.

Vào thế kỷ 17, quan điểm dịch ý/dịch thoát tiếp tục được đẩy mạnh và tích cực cổ suý nhất cho quan điểm này là nhà thơ John Dryden (1631-1700). Ông đã đưa ra ba cách dịch cơ bản để xử lý các vấn đề trong bản dịch:

    1. Metaphrase: dịch sát, từ theo từ, dòng theo dòng từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích.
    2. Paraphrase: dịch có biên độ thay đổi, theo quan điểm dịch của Cicero, ý theo ý.
    3. Imitation: người dịch có thể bỏ phần văn bản gốc theo ý muốn.

Dryden chọn cách số hai là cách dịch cân bằng nhất (Bassnett 2014). Có thể thấy quan điểm dịch thuật này đã được ông thực hành khi dịch thơ của Virgil, một nhà thơ cổ của La Mã (The Works of Virgil). Ông không dịch thẳng thơ Virgil sang tiếng Anh mà có chỉnh sửa, thêm thắt để phù hợp với đối tượng độc giả Anh cuối thế kỷ 17: “Tôi muốn làm cho Virgil nói ‘thứ ngôn ngữ mà ông ấy có thể sẽ viết nếu là một người Anh đương thời.’ ”

2.4. Thế kỷ 18: Đại luận về dịch của Tytler

Nghĩa vụ đạo đức của người dịch đối với bản dịch và đối với độc giả được đẩy mạnh vào thế kỷ 18, tức là độc giả sẽ là quan trọng nhất. Dịch làm sao để người đọc hiểu đúng, hiểu đủ mới là dịch hay, dịch tốt. Lý luận gia tiêu biểu thời kỳ này có Alexander Tytler (1747-1813). Vào năm 1791, ông đã công bố “Đại luận về dịch thuật” (“The Essay on the Principles of Translation”) trong đó nêu ba nguyên tắc cơ bản của dịch: (1) Bản dịch nên là một sao chép hoàn hảo ý tưởng của bản gốc, (2) Văn phong và kiểu viết trong bản dịch nên giống với bản sắc của văn phong và kiểu viết trong bản gốc; (3) Bản dịch có sự trôi chảy như nguyên tác. Ba nguyên tắc này bổ sung cho nhau chứ không phải chọn cái này, bỏ cái kia. Tuy nhiên, nếu buộc phải lựa chọn, Tytler nhấn mạnh không bao giờ được hi sinh ý chính hay “cái hồn của nguyên tác” để giữ văn phong.

Lại nói qua một chút về quan niệm dịch thuật của phương Đông, cụ thể là Trung Quốc. Nói đến tiêu chuẩn bản dịch tốt, ba từ “Tín – Đạt – Nhã” rất hay được nhắc đến. Nghiêm Phục (Yan Fu, 1853-1921) chính là người đầu tiên nêu ra ba từ này để nhắc tới ba cái khó mà người dịch khó lòng đạt được. Nếu đọc kĩ lại, có vẻ như Nghiêm Phục cũng có chút học hỏi quan điểm từ Tytler.

2.5. Thế kỷ 19: nội hoá và ngoại hoá

Cuối thế kỷ 18 bước sang thế kỷ 19, phương Tây bước vào thời kỳ Lãng mạn, và chính trong thời kỳ này, lý thuyết và thực hành dịch cũng trải qua sự thay đổi sâu sắc. Nửa đầu thế kỷ 18, với sự cổ suý của Tytler, mục tiêu của bản dịch không chỉ là chuyển ngữ nguyên tác sao cho gần gũi với ngôn ngữ đích mà còn phù hợp với cả những kỳ vọng văn hoá đích về văn phong và yếu tố thẩm mỹ. Tuy nhiên, thế kỷ 19 lại đưa ra các tiêu chuẩn mới cho tính trung thành và văn phong của bản dịch. Với tính chính xác, bản dịch phải bám sát vào nguyên tác, không tác động vào văn bản. Với văn phong, mục tiêu là liên tục gợi nhắc độc giả rằng họ đang đọc một tác phẩm nước ngoài. Nói cách khác, dịch vị tác giả, vị nguyên tác. Có lẽ sự thay đổi này bắt đầu từ việc các nhà bác ngữ học thời này cảm thấy lo lắng trước việc ngôn ngữ thi ca thời trước như Beowulf, Iliad, Odyssey hay gần hơn là Shakespeare đang dần biến mất do phương pháp dịch vị độc giả (Burwick 2007:68).

Lý thuyết dịch vị tác giả được đưa ra đầu tiên trong thời kỳ này bởi nhà thần học và triết gia người Đức Friedrich Schleiermacher. Trong bài tiểu luận “Über die verschiedenen Methoden des Übersetzens” (Về các phương pháp dịch thuật) (1813), Schleiermacher đã phân biệt giữa những phương pháp dịch thuật đưa tác giả tới với độc giả, với những phương pháp dịch thuật đưa độc giả tới tác giả. Bản thân Schleiermacher cổ suý cho cách thứ hai. Bài viết của ông đã truyền cảm hứng cho những lý thuyết gia nổi bật của thế kỷ 20, điển hình như Lawrence Venuti với cặp thuật ngữ đã thành kinh điển “nội hoá” (domestication, đưa tác giả gần với độc giả) và “ngoại hoá” (foreignization, đưa độc giả gần với tác giả).

 

3. Tạm dừng để nhìn lại

Dài dòng như vậy từ đầu, bày đặt chia theo các thời kỳ để mọi người thấy rằng thực ra các quan điểm và khuynh hướng dịch thuật tự cổ chí kim, bắt đầu từ thời Cicero cho tới thời Schleiermacher đều chỉ xoay quanh hai hướng chính: dịch từ (word for word) hay dịch ý (sense for sense), đưa nguyên tác tới với độc giả (domestication/nội hoá) hay đưa độc giả tới với nguyên tác (foreignization/ngoại hoá).

Ngoài ra, chúng ta cũng nhận thấy, dịch thuật cho đến thế kỷ 19 (1) vẫn gắn liền với tôn giáo và văn chương; (2) đánh giá bản dịch đều lấy văn bản gốc làm nền tảng so sánh (Schaffner 1997:1); (3) quá trình tư duy của người dịch, những yếu tố văn hoá-lịch sử-xã hội của người dịch gần như bị bỏ qua, và (4) nhà lập thuyết đều là triết gia, tác gia, hay thần học, tức là quan điểm về ngành nghiên cứu của họ sẽ chi phối quan điểm của họ về dịch thuật và vì thế, sẽ không được bao quát và toàn diện cho thực hành dịch thuật vốn dĩ đa dạng hơn nhiều.

Nhìn tiếp sang thực tế đánh giá bản dịch ở Việt Nam, hoàn toàn là một tấm gương phản chiếu chính xác những gì đã vận động tại phương Tây trước thế kỷ 20. Phê bình hay đánh giá dịch thuật hiện tại vẫn chủ yếu đánh vào các tác phẩm văn chương được dịch và phát hành tại Việt Nam. Cơ sở và phương pháp đánh giá cũng vẫn là so sánh và đối chiếu bản dịch và bản gốc. Người dịch vẫn bị coi là vô hình. Theo Venuti (1995), sự vô hình của người dịch được thể hiện ở chỗ (1) vô hình với tư cách là đồng tác giả của văn bản – ý là, chả mấy ai quan tâm tới dịch giả là ai, hiếm sách dịch có phần giới thiệu dịch giả, bài điểm sách rõ là viết về bản dịch (trích đoạn đều lấy từ bản dịch cả) nhưng lại chỉ ngợi ca tác giả; (2) vô hình ngay trong chính bản dịch do sự yêu cầu “trôi chảy”, “xuôi tai” cố hữu khi đánh giá bản dịch; và (3) sự vô hình của quá trình dịch như một thực hành văn hóa và sản phẩm của quá trình đó cũng vô hình. Với điểm thứ ba, Venuti muốn bàn tới chuyện trong bối cảnh tiếng Anh thống trị thế giới, văn học Anh-Mĩ được chuyển dịch sang bản ngữ áp đảo chiều ngược lại dẫn đến xâm lăng văn hóa, và khi được chuyển ngữ sang tiếng Anh, văn học ngôn ngữ khác vì phải “xuôi tai” nên bản dịch mất hết sự đặc trưng ngôn ngữ. Người dịch có lẽ sẽ chỉ hữu hình khi nào họ mắc lỗi và thiên hạ lúc đó sẽ nhảy vào mổ xẻ bản dịch và thậm chí cả đời tư, thành tích học hành, lịch sử công tác của dịch giả… cũng sẽ được lên thớt. Tuy nhiên, cũng cần phải nói là đánh giá dịch thuật ở đâu cũng chịu cảnh chín người mười ý và vẫn có những câu chuyện, tuy bản dịch bị chê lên bờ xuống ruộng, dịch giả gom đủ gạch để xây nhà nhưng tác phẩm vẫn bán đắt như tôm tươi, hay ngược lại, bản dịch được đánh giá là dịch đúng, dịch đủ nhưng người đọc vẫn nói, tôi thích bản khác hơn vì “ra chất hơn.”

Nên nhớ, khái niệm “translation” thực chất có hai nghĩa, một là hành vi dịch và hai là sản phẩm của hành vi đó, tức bản dịch. Vì thế, khi ta nói đến “đánh giá dịch thuật” nên chăng ta cần xem xét các yếu tố liên quan tới hành vi dịch gồm người làm ra hành vi đó, tự thân hành vi đó và cuối cùng mới là sản phẩm của hành vi và những người tiêu thụ sản phẩm đó.

 

4. Lý thuyết Skopos và lỗi trong dịch thuật

Khi xem xét dịch thuật như một hành vi, có một trường phái dịch thuật nổi lên. Đó là skopos theory hay lý thuyết chức năng trong dịch thuật, do Hans Vermeer khởi xướng ở Đức vào cuối thập niên 1970. Skopos theo tiếng Hy Lạp nghĩa là “mục đích”, do đó, trường phái dịch thuật này chủ trương dịch tùy mục đích (Hatim 2001:74).

Nền tảng của thuyết Skopos gồm hai điểm chính: (1) dịch phải có mục đích (translatum), và (2) tùy đối tượng người đọc, người dịch quyết định cách dịch cho phù hợp. Như vậy, chính mục đích dịch, bao gồm ý định của người dịch và mục đích của bản dịch, mới là cơ sở cho phương pháp dịch, chứ không nhất thiết phải áp dụng các quy tắc về ngôn ngữ hay văn hoá tương đương như vị nguyên tác (ngoại hoá) hay vị dịch phẩm (nội hoá).

Trên nền tảng thuyết chức năng, Nord (1997:73-75) đã định nghĩa “lỗi dịch” là “sự thất bại trong việc thực hiện các chỉ dẫn được nêu trong yêu cầu dịch (translation brief)”, hay cụ thể hơn, “[n]ếu mục đích của bản dịch là để đạt được một chức năng cụ thể cho đối tượng người đọc mục tiêu, bất kể thứ gì ngăn cản việc đạt được mục đích này sẽ là lỗi dịch”. Định nghĩa này được củng cố bằng mô hình chức năng các lỗi dịch chia thành bốn nhóm (Nord 1997:75-78). Mô hình của Nord, đặc biệt được áp dụng cho các bản dịch văn chương, chính là một thách thức cho tiêu chí truyền thống dùng để đánh giá lỗi trong dịch văn chương, ấy là, bất cứ điều gì trong bản dịch không “trung thành” với bản gốc thì sẽ được coi là lỗi.

Bốn nhóm lỗi mà Nord đã nêu ra gồm:

  1. Lỗi dịch ngữ dụng: gây ra do “các giải pháp không phù hợp với các vấn đề dịch có tính ngữ dụng như thiếu định hướng người tiếp nhận.” Hậu quả của những lỗi này là nghiêm trọng vì khán giả đích thường sẽ không biết họ đang nhận được thông tin không chính xác. Để nhận diện lỗi này, thường sẽ cần một người có năng lực so sánh bản gốc và bản dịch, đối chiếu cùng với yêu cầu dịch (Nord 1997:75-76).
  2. Lỗi dịch văn hoá: các lỗi này liên quan tới vấn đề liệu các quy chuẩn văn hoá nguồn có nên được chuyển hoá theo tiêu chuẩn văn hoá đích hay không (Nord 1997:77). Thuyết Skopos về cơ bản là hướng đích và việc chuyển hoá văn bản nguồn theo chuẩn của văn hoá đích là “một phần công việc thường ngày của mọi dịch giả chuyên nghiệp” (Nord 1991b:28). Khi bản dịch mâu thuẫn với, ví dụ, văn hoá đích, và người đọc có thể thấy không hiểu được hoặc không chấp nhận được thông điệp truyền tải, đó là khi lỗi dịch văn hoá xảy ra; bản dịch không đạt được mục đích và chức năng của mình.
  3. Lỗi dịch ngữ nghĩa: được gây ra bởi “bản dịch không hợp lý về các cấu trúc ngôn ngữ” (Nord 1997:75). Lỗi này thường xảy ra do “năng lực ngôn ngữ đích hoặc nguồn của dịch giả yếu” (Nord 1997:77) hoặc những dịch giả tuy năng lực ngôn ngữ tốt nhưng tiêu chuẩn đạo đức nghề lại thấp.
  4. Lỗi dịch theo văn bản: các lỗi này thường liên quan tới các vấn đề dịch theo loại văn bản cụ thể (ví dụ: văn bản thông tin, văn bản diễn cảm, …) và thường có thể đánh giá từ góc độ chức năng hoặc ngữ dụng học (Nord 1997:76). Nếu, ví dụ, một bản dịch cho báo chí – văn bản thông tin – cần ưu tiên và đạt được chức năng thông tin, nếu không, nó sẽ mắc lỗi dịch theo văn bản.

Cũng theo mục đích và chức năng của bản dịch, các hiệp hội chuyên môn cũng nỗ lực xây dựng ra hệ thống các lỗi thường gặp trong dịch thuật các văn bản phi văn chương. Có thể tham khảo khung phân loại lỗi dịch do Hiệp hội Dịch thuật Hoa Kỳ (ATA) gồm 22 loại lỗi được dùng làm tiêu chí chấm điểm bản dịch của các dịch giả chuyên nghiệp: https://www.atanet.org/certification/aboutexams_error.php. Có điều, tuy danh sách lỗi có gắng liệt kê chi tiết những lỗi đã xảy ra trong cộng đồng dịch nhưng nó vẫn thiên về khía cạnh ngữ học của việc dịch, tập trung nhiều vào các lỗi ở cấp độ câu thay vì cấp độ văn bản. Do đó, nó chỉ có thể dùng cho những người dịch để học ngôn ngữ hơn là dành cho những người làm dịch chuyên nghiệp.

Vậy túm lại, đánh giá theo quy chuẩn của nguyên tác và ngôn ngữ gốc không ổn; đánh giá theo chức năng của hành vi dịch và mục đích của bản dịch cũng có vẻ chưa thật tốt chuẩn. Liệu có mô hình nào hay khung nào để đánh giá bản dịch toàn diện hơn không?

 

5. Đánh giá bản dịch theo lý thuyết Dịch thuật miêu tả (DTS)

Holmes (1924-1986), nhà thơ và dịch giả người Mỹ, đã trình bày mô hình của ông tại Hội nghị Quốc tế lần thứ ba về Ngữ học Ứng dụng (Copenhagen 1972). Tham luận của ông về danh xưng và bản chất của dịch thuật học đã gây tác động lớn trong giới học giả và được coi là tuyên ngôn ra đời của ngành dịch thuật học (translation studies). Theo Holmes, dịch thuật học có hai mục đích chính: (1) mô tả các hiện tượng dịch thuật và lý thuyết dịch, và (2) thiết lập các nguyên tắc chung để giải thích và dự đoán các hoạt động liên quan đến dịch thuật. Từ cách đặt vấn đề trên, ông đã tổng kết các hoạt động của ngành dịch thuật học vào hai phạm vi chính: dịch thuật học thuần tuý (pure translation studies) và dịch thuật học ứng dụng (applied translation studies). Với dịch thuật học ứng dụng, Holmes muốn đề cập tới việc ứng dụng các lý thuyết và thành tựu của ngành dịch thuật học và các ngành khác vào thực hành dịch (ví dụ, giảng dạy – ứng dụng lý thuyết dịch và lý thuyết giáo dục, phát triển công cụ hỗ trợ dịch thuật – ứng dụng lý thuyết dịch và công nghệ, toán học, v.v, phê bình dịch thuật – ứng dụng lý thuyết dịch và lý thuyết ngôn ngữ học, lý thuyết xã hội học, tâm lý học, v.v). Trong phạm vi bài viết này, tôi sẽ chỉ tập trung vào phạm vi thứ nhất, dịch thuật học thuần tuý và cụ thể là dịch thuật học miêu tả (descriptive translation studies/DTS).

Theo bản đồ Holmes/Toury (1995) (sở dĩ có hai tên vì Holmes chỉ mô tả chứ không vẽ bản đồ, chính Toury sau này mới sơ đồ hoá lại), có thể thấy hoạt động dịch thuật được Holmes phân loại thành ba hình thức:

  1. Nghiên cứu và mô tả tập trung vào sản phẩm dịch (product-oriented): ví dụ, so sánh chiến lược dịch thuật được sử dụng bởi hai (hay nhiều) dịch giả ở cùng một thời kỳ hay nhiều thời kỳ khác nhau để dịch một nguyên tác.
  2. Nghiên cứu tập trung vào quá trình dịch (process-oriented): tức là tìm hiểu về hoạt động trí óc của người dịch trong quá trình chuyển ngữ. Có điều gì tác động tới người dịch: độc giả? Trải nghiệm chuyên môn/cá nhân của người dịch? Tính cách của người dịch? Trường phái lý thuyết người dịch theo đuổi?
  3. Nghiên cứu tập trung vào vai trò, chức năng của dịch thuật (function-oriented) trong văn hoá đích: ví dụ, tác dụng của dịch phẩm đối với văn hoá đích.

Nếu quy chiếu sang bối cảnh Việt Nam, ta có thể thấy ví dụ thực tiễn của cả ba hình thức này, trong đó, có lẽ hình thức 1 là thường xuyên được thực hành hơn cả. Ví dụ, chúng ta so sánh bản dịch Bố già của Ngọc Thứ Lang và Đoàn Tử Huyến, bản dịch Trại gia súc của Phạm Nguyên Trường và Chuyện ở nông trại của An Lý.

 

Tạm kết

Vì sao lại là DTS trong cuộc luận bàn về đánh giá dịch thuật? Thực ra, đây là lựa chọn của riêng cá nhân tôi chứ cũng chưa có nghiên cứu nào cho rằng DTS sẽ là mô hình hoàn hảo cho việc đánh giá dịch thuật. Có điều, từ trải nghiệm khi làm nghề dịch và khi thử nghiệm mô hình DTS này cho các sinh viên “tập” đánh giá dịch thuật, tôi thấy nó hiệu quả. DTS chọn bối cảnh văn hoá – xã hội đích làm cơ sở đánh giá thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm. Dịch thuật, dù là sản phẩm hay quá trình, đều mang tính động. Do đó, khi phân tích và đánh giá bản dịch, một người cần cân nhắc mọi khía cạnh khả thi thay vì chỉ nhìn vào những con chữ được viết ra hay in ra rồi nêu ý kiến. Đó là sự chính xác mang tính ngữ dụng (pragmatic accuracy). Bên cạnh đó, đánh giá đòi hỏi tính linh hoạt cao. Một bản dịch hoàn toàn có thể phù hợp về mặt chức năng (functionally appropriate) trong một bối cảnh cụ thể cho dù văn phong của nó không sát được như bản gốc. Ngược lại, chúng ta cũng có những bản dịch nhận được sự chú ý nhiều hơn cả nguyên tác – vậy trong trường hợp này, đó là bản dịch tốt hay không? Ai hay điều gì đã dẫn đến điều đó? Suy cho cùng, đánh giá là để biết được điểm mạnh và khiếm khuyết, từ đó hoặc tìm ra được giải pháp chuyển ngữ thích hợp (với những người nghiên cứu dịch hay làm nghề dịch) hoặc biết trân trọng hơn những nỗ lực dịch tử tế và cái đẹp của ngôn từ (với độc giả nói chung).

Ngô Hà Thu

 

Tài liệu tham khảo

American Translation Association. https://www.atanet.org/certification/aboutexams_error.php.

Bassnett, S. 2014. Translation Studies (4rd). New York/London: Routldege.

Burwick, F. 2008. Romantic Theories of Translation. The Wordsworth Circle, 39(3), 68-74. Retrieved May 15, 2021, from http://www.jstor.org/stable/24045752.

Hatim, B. 2001. Teaching and Researching Translation. Essex: Pearson Education Limited.

House, J. 1997. Translation Quality Assessment: A Model Revisited. Gunter Narr Verlag.

Hồ, Đ.T. 2012. Dich thuat & Sang tao. HCMC: PNC.

Larson, L. M. 1984. Meaning-based translation: A guide to cross-language equivalence. New York: University Press of America.

Ma, Z.Y. 1998. A Brief History of Translation in China Before 1911, (2nd). Beijing: Translation and Publishing Corporation.

Newmark, P. 1995. A Textbook of Translation. Phoenix ELT/Prentice Hall International.

Nord, C. 1997. Translating as a Purposeful Activity: Functionalist Approaches Explained. Manchester: St. Jerome.

Pan, L.F 2019. Traditional Chinese Translation Discourses in Translation of Buddhist Texts—A Case Study on the Sürangama Sütra. Cultural and Religious Studies. August 2019, Vol. 7. No. 8. 433-445. Retrieved May 15, 2021, from https://core.ac.uk/download/pdf/228062502.pdf.

Robinson, D. (ed.). 1997. Western Translation Theory from Herodotus to Nietzsche. Manchester: St. Jerome Publishing.

Steiner, G. 1998. After Babel: Aspects of Language and Translation. (3rd ed). Oxford, New York: OUP.

Toury, G. 1995. Descriptive Translation Studies and Beyond. Amsterdam and Philadelphia: John Benjamins Publishing Company.

Venuti, L. 1995. The Translator’s Invisibility: A History of Translation. London/New York: Routledge.

 

Tranh: Trong xưởng vẽ của Marie Bashkirtseff (1858-1884)

Chấm sao chút:

Đã có 7 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Ngô Hà Thu

Ngô Hà Thu từng giảng dạy ở bộ môn Biên - Phiên dịch, khoa SPTA, ĐHNN, ĐHQGHN; đã, đang và chắc sẽ vẫn làm biên phiên dịch tự do.

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: