Hoạt động của Zzz Review năm 2022
được sự hỗ trợ của Viện Goethe

Nói lên điều không thể biết: Hành động nói và nhận thức luận trong vở kịch “Antigone” của Sophocles

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 19 phút

 

Tóm tắt

Tiểu luận này xem xét sự hình thành hiểu biết và hành động nói trong vở kịch Antigone của Sophocles với giả định trong thế giới của vở kịch này, hiểu biết là điều bất khả minh định, đặc biệt là hiểu biết về cách cư xử đúng đối với thần thánh và thành bang. Sự bất định này thường trực ở thành Thebes trong vở kịch đến nỗi các nhân vật thấy khó khăn trong việc xác định giữa cái đúng và cái sai, giữa nhân và quả, giữa ý muốn của thần thánh và nguyện vọng của con người. Không thể xác nhận được niềm tin của mình, các nhân vật chính của vở kịch cố gắng biến chúng thành thực tại thông qua lời nói biểu hành. Những thất bại khi cầm quyền của Creon có liên quan tới việc ông không thể kiểm soát tác động của lời nói. Ngược lại, hành động nói của Antigone đã thành công trong việc tái tổ chức thực tại xã hội ở thành Thebes. Từ vị thế bên ngoài các hệ thống tự trình hiện và thẩm quyền ngôn ngữ, Antigone đã chọn lấy và giễu nhại lời nói của những người khác. Hành động tự tử của Antigone mang chức năng như một cách bác bỏ phép hùng biện của thành bang đã gạt nàng ra ngoài, và như một phương cách chẳng đặng đừng dùng bạo lực làm phương tiện biểu đạt.

 

 

Vệ binh: Thần có thể nói thêm không, hay chỉ cần quay đầu đi thẳng?

Creon: Ngươi không thấy lời ngươi đáng ghét lắm sao?

Vệ binh: Lời ấy làm rầy tai ngài hay tâm trí?

Creon: Sao ngươi phải gắng tìm nỗi đau của ta ở đâu như thế?

Vệ binh: Bởi kẻ hành động thì làm đau tâm trí, còn lời thần chỉ đau đến tai nghe.

Creon: Ngươi đúng là kẻ chỉ biết quang quác phiền hà.

Vệ binh: Nhưng dù thế nào, thần chẳng phải kẻ làm ra hành động ấy.

Antigone, 315-321

 

Trong đoạn trích trên, tên lính gác được Creon ra lệnh đứng canh thi thể của Polyneices vừa đến tâu rằng ai đó đã kháng lệnh Creon và làm tang cho kẻ phản bội. Đoạn trích trên cho thấy (ngoài việc rằng bi kịch cũng có thể khá hài hước), trong Antigone, lời nói và hành động không được phân định rạch ròi. Trong vở kịch này, lời được nói ra cũng là hành động được thực hiện. Khi tên lính canh báo tin về việc chôn cất, anh ta đã tạo ra thay đổi lớn trong tình trạng của không gian công. Lời tâu của anh ta là một hành động tác động đến nền chính trị thành Thebes qua việc loan tin rằng cái xác đã được chôn và rằng có kẻ kháng lệnh Creon. Những lời của tên lính canh – chỉ đơn thuần là lời nói – gây tổn hại đến không chỉ tai và mắt của Creon mà còn đến cả vị thế quyền lực của Creon trong ngày đầu tiên làm vua. Tên lính canh, khăng khăng rằng mình sẽ thông báo lại một cách khách quan và đầy đủ nhất, thực ra có bóp méo sự thật khi nói rằng mình “chẳng phải kẻ làm ra hành động ấy, bởi tại thành Thebes của vở kịch này, hành động nằm trong lời nói, và lời kể lại việc Antigone chôn cất Polyneices đã biến nó thành một hiện thực được công nhận. Hành động và lời tường thuật về hành động có thể được diễn giải theo nhiều cách đã khiến ngôn ngữ và trình hiện liên hệ với những vấn đề nhận thức luận chung hơn của vở kịch. Trong Antigone, hiểu biết về thế giới bị giới hạn bằng ngôn ngữ, và nhận ra rằng mỗi lập luận đối đầu nhau của các nhân vật đều thuyết phục theo cách riêng của chúng có nghĩa là tập trung vào không phải là ai đúng ai sai mà là xem liệu có thể biết được lối suy nghĩ và kiểu hành động nào là “đúng” trong thế giới của vở kịch, nơi các thực tại mà nhân vật nhận thức và những sự thật mà họ tin theo đều là điều bất khả minh định.

Một cách đọc như vậy dựa trên tiền đề rằng Antigone không chỉ là sự xung đột giữa các nguyên tắc trực tiếp đối đầu nhau thể hiện qua các nhân vật chính. Như nhận định của Charles Segal, “các vấn đề quá phức tạp không thể giản lược thành một công thức phản đề duy nhất. Chúng ta nên tránh cách nhìn nhận các nhân vật trong một thế đối lập đơn chiều: đúng với sai, lý trí với cảm tính, nhà nước với cá nhân, v.v.”[1] Cả hai nhân vật chính đều có cho mình những giá trị đáng ca ngợi, và cả hai đều đi đến bước phản bội lại chính những giá trị mà họ coi trọng và giữ gìn ấy. Antigone chính đính đối đầu với Creon là một hành động đầy tính đạo đức và đáng ngợi ca nhưng lại cố chấp tới mức dẫn tới hủy diệt; hành động này có vẻ ít nhất một phần bị thúc đẩy bởi sự tuyệt vọng và nỗi điên loạn muốn tự tử; cô vi phạm chính những luật mà mình bảo vệ, luật của đức hiếu, khi cô khẳng định rằng mình có thể để chồng và con, chứ không thể để anh trai, chết mà không chôn (905-907) trong khi xua đuổi người chị em duy nhất còn lại của mình, Ismene.[2] Creon là một người lãnh đạo xuất sắc khi cai trị công minh và đặt lợi ích của thành bang lên trên tham vọng cá nhân (182-183), tận tụy vì lợi ích chung dựa trên nguyên tắc bình đẳng và công chính (288), và khẳng định rằng trước luật pháp thì bản thân nhà vua cũng ngang với dân thường (559-665); nhưng lại phá vỡ lý tưởng của bản thân về cách cai trị tốt khi hành động theo ý mình chứ không phải vì lợi ích của thành bang. Cả hai nhân vật đều nỗ lực thực hiện theo những gì họ tin là đúng, và cả hai đều rơi vào những mâu thuẫn về giá trị.

Cũng không có gì lạ khi những cố vấn đáng tin cậy của hoàng gia cũng phải vật lộn để quyết định đứng về phía ai, Antigone hay Creon. Thực vậy, dàn đồng ca đã thay đổi ý kiến rất nhiều lần trong suốt vở kịch. Ban đầu, họ khẳng định rằng những hành động của Antigone là “hoàn toàn điên rồ” (383); “Cô gái này thật dữ dội… chắc chắn cô sẽ gây rắc rối” (471-472). Ngay sau đó, dàn đồng ca lại ngụ ý rằng định mệnh đã quyết là Antigone sẽ phải chịu đựng đau khổ, bởi “sẽ không thế hệ nào giải phóng được thế hệ sau” (596). Dàn đồng ca đứng về phía Creon (“những gì ngài nói thật sáng suốt và đúng đắn”, 681). Sau đó, họ lại đứng về phía Haemon (724-725). Cuối cùng, dàn đồng ca nói Creon đã sai. Chúng ta có thể coi sự thiếu quyết đoán của dàn đồng ca như một cách phê bình nền dân chủ non trẻ của thành Athen và sự thất thường của một hệ thống cai trị lấy tranh luận công khai làm cơ sở.[3] Đồng thời, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, việc dàn đồng ca dao động giữa Creon và Antigone cũng ngụ ý rằng cả Antigone và Creon đều hành động theo những nguyên tắc đúng đắn. Trong phần Tụng ca Con Người, dàn đồng ca thừa nhận rằng hành động tốt nhất là hành động tuân theo cả “luật nơi trần thế” lẫn luật cõi thánh thần (369-370), và chúng ta cần chú ý một điều vô cùng quan trọng rằng đây là quan điểm mà cả Antigone và Creon (và thực ra là tất cả mọi thần dân trong thành bang) đều có thể đồng ý. Vấn đề ở đây không phải là Antigone nêu cao lòng mộ đạo còn Creon khinh thường nó, mà là cả hai không thống nhất trong cách hiểu về ý chỉ của thánh thần và cách để hòa hợp hành động của thành bang, luật lệ nơi trần thế với luật cõi thánh thần.

Nói cách khác, vấn đề chính của vở kịch là sự thất bại về căn bản để hiểu biết, một thế bế tắc về mặt nhận thức, đặc biệt là trong những điều liên quan đến thánh thần. Cả Creon và Antigone đều cố gắng tuân theo những quy tắc của lòng mộ đạo nhưng lại sống trong một thế giới nơi ý chỉ của thánh thần được diễn giải nước đôi. Theo lời giải thích của Christiane Sourvinou-Inwood, “một trong những phạm trù trung tâm trong tôn giáo Hy Lạp là tính bất khả tri, tức niềm tin rằng hiểu biết của con người về thánh thần cùng cách hành xử đúng đắn với thánh thần là có hạn,” và ngay cả lời tiên tri cũng có thể bị bóp méo vì diễn giải của con người.[4] Dàn đồng ca còn đi xa hơn, cho rằng ý chỉ của thánh thần không chỉ không thể hiểu thấu mà còn thường lừa lọc, bởi “việc xấu trông lại hóa ra việc tốt trong mắt kẻ nào thần thánh muốn đẩy đến đường cùng” (620-622). Vì thế, những thông điệp, ý định và mong muốn của thần thánh không chỉ rất khó lý giải và dễ bị hiểu nhầm, mà để làm phức tạp hơn vấn đề, các vị thần còn có thể chủ tâm khiến ta lạc hướng ngay từ đầu. Thế giới của vở kịch là thế giới mà ở đó, ngay cả nhà tiên tri Tiresias cũng phải vật lộn mới hiểu được những điềm báo của các vị thần, và thấy tiếng chim – một chỉ dẫn của các thần, cũng khó hiểu, “rối rắm”, không thể “định rõ”, “như bị sự điên rồ sai khiến” (1001-1002, 1021). Ông lần gỡ từng điềm triệu và dự đoán sự suy tàn đang tới. Nhưng ngay ở thời khắc đọc điềm chính xác, bản thân nhà tiên tri lại làm dấy lên hoài nghi về khả năng thấu hiểu thánh thần của con người.

Tiresias phụ thuộc vào điềm báo như vậy giúp lưu ý ta rằng trong Antigone, hiểu biết thường chỉ được truyền đạt gián tiếp. Hiểu biết của nhà tiên tri có được đã phải trải qua hai bước: đầu tiên, ý chỉ của thánh thần được biểu hiện qua điềm báo; và sau đó, nhà tiên tri mù phải nhờ “cậu bé theo hầu” (1103-1104) miêu tả các điềm báo ấy cho ông, một hệ thống trung gian mà Tiresias hiểu là vẫn chưa hoàn thiện, nói rằng “cậu bé này dẫn lối cho ta, như ta dẫn lối cho kẻ khác” (1012-1014). Nhận xét này gợi ý rằng thế giới của vở kịch là nơi không có hiểu biết nào được tiếp thu mà không có trung gian; nó luôn được quy chiếu theo khung hiểu biết của người mô tả, giải thích và chỉ dẫn.

Trong trường hợp Tiresias, cái khung tất yếu có tính chủ quan của vai trò trung gian không ngăn ông tiếp thu sự thật, nhưng trong vở kịch, các nhân vật khác lại bóp méo sự kiện bằng hành động miêu tả chúng. Người đưa tin tự nhận khách quan “kể lại trung thực” (1293) về việc Haemon tự tử vẫn cứ làm méo mó lời kể đó khi kết lại bằng một lời răn đạo đức ngây thơ và nông cạn dành cho Creon rằng “từ chối lời khuyên can đúng đắn là một tội ác” (1242-1243), như thể toàn bộ cái bi kịch phức tạp này có thể được giải thích và giải quyết bằng một câu châm ngôn chung chung. Chính người đưa tin này, ngay ở mấy dòng sau đó, lại ngớ ngẩn mặc định rằng Eurydice, khi biết tin con trai tự tử đã bỏ đi mà không nói một lời, sẽ ổn thôi, sẽ “không làm gì sai” (1250). Rõ ràng, người đưa tin này không phải là một người phán quyết đáng tin cậy về tâm lý con người. Chúng ta không nên tin cách hiểu của anh ta về những sự kiện diễn ra xung quanh anh ta. Anh ta là ví dụ điển hình cho những vấn đề về nhận thức luận ở phạm vi rộng hơn trong Antigone: rằng một vài hiểu biết rất khó có được, rằng một người có thể tự mình diễn giải nhầm những sự kiện xung quanh; hoặc cũng có thể bị tác động bởi cách diễn giải nhầm của người khác.

Thực vậy, đối với các nhân vật của vở kịch, ngay cả nhân và quả cũng là điều khó xác định có tồn tại hay không. Dàn đồng ca không thể kết luận liệu chịu trách nhiệm cho những hành động của Antigone và hệ quả của nó là số phận, là lời nguyền mà gia đình phải chịu, hay là chính bản thân Antigone, thể hiện ở câu “có lẽ cô đang trả giá cho nỗi đau của cha mình” (856). Cũng tương tự như vậy, Antigone không thể tìm ra hành động của mình là do mình chọn lấy (904) hay là mọi sự kiện đều bị sắp đặt và thúc đẩy bởi sức mạnh khác như Creon (915-917), hay số mệnh (919) hay các vị thần (921), hay “định mệnh ám ảnh gia đình” (859-860) hay sự kết hợp của hai điều sau (1-3). Trong lần xuất hiện cuối cùng trước khán giả, Antigone vẫn còn băn khoăn, liệu bản thân cô có “lỗi” hay “lỗi sai là ở người khác” (925-927). Về cuối vở kịch, Creon cũng bộc lộ những bối rối tương tự, ban đầu tuyên bố rằng “một vị thần đã khiến ta cư xử điên cuồng và lạ lùng như vậy” (1272-1274) và sau đó lại khẳng định rằng “tội lỗi đó tất cả là do ta” (1319). Hoàn cảnh của các sự kiện trong vở kịch khiến các nhân vật không thể truy lại nguyên do của các sự kiện và vì thế, không thể xác định ai hay điều gì là thứ chịu trách nhiệm, và chịu trách nhiệm tới đâu, cho những đớn đau mà họ phải trải qua. Bi kịch càng có tác động sâu sắc bởi mỗi nhân vật đi tới cảnh tuyệt vọng hoặc tới cái chết đều trong tình trạng hoang mang và mất phương hướng, tự hỏi vì đâu mọi sự ra nông nỗi này. Khi dàn đồng ca hạ màn vở kịch với lời phán quyết rằng khôn ngoan sẽ đến với kẻ già khi đã trải qua thử thách và học được từ những sai lầm, chúng ta cần phải hoài nghi nhận định này. Tất nhiên thử thách đã diễn ra, nhưng liệu khôn ngoan và hiểu biết có đến cùng với chúng?

Ta khó mà nói rằng Creon lẫn Antigone đã đối xử với sự hoang mang bằng tấm lòng thành thật trong sáng, bởi thay vì làm sáng rõ cảnh bối rối, cả hai lại càng làm nó phức tạp lên và biến nó thành lợi thế cho mình. Creon lợi dụng việc thành bang không thể xác định được các nguyên nhân của sự việc. Thay vì dùng hình phạt ném đá tới chết (rõ ràng đây là hình phạt vốn dĩ đối với tội trái lệnh vua, dòng 36), Creon phủ một lớp mơ hồ lên việc xử tử Antigone, giam cô trong một “cái hang rỗng” khi cô vẫn còn đang “sống” và để cho cô “chỉ vừa đủ đồ ăn, để thành Thebes không chịu tội trước cái chết ấy” (774-776). Nói cách khác, Creon đã chọn một cách xử tử khiến nguyên nhân của (và trách nhiệm trước) cái chết của Antigone càng mơ hồ. Creon âm thầm đẩy gánh nặng cứu vớt Antigone từ phía nhà vua và thành bang sang bản thân kẻ chịu án và các thánh thần, bởi, như ông giải thích, luôn có khả năng Antigone có thể cầu nguyện xin được ân huệ của thánh thần và được “thoát khỏi cái chết” (778). Nếu Creon tận dụng sự mơ hồ nhập nhòa xung quanh tính nhân quả thì lập luận của Antigone cũng lại thực hiện những bóp méo khác. Như Sourvinou-Inwood chỉ ra, không ai ở thành Thebes có thể phủ nhận tuyên bố của Antigone rằng “phong tục lâu đời và được thánh thần bảo hộ cần phải được đặt lên trên hết” nhưng sự cố chấp của cô trong việc đề cao luật của thánh thần lại đánh lạc hướng khỏi vấn đề thực sự, đó là liệu “có đúng không khi một cá nhân tự phong mình thành khuôn mẫu cho giá trị tôn giáo mà không có thẩm quyền” và khi làm vậy, dẫn đến tình trạng vô chính phủ đe doạ trật tự xã hội.[5]

Những chiến lược diễn ngôn này khẳng định rằng vở kịch có bàn về lực biểu hành [performative] của ngôn ngữ, của lời nói – thứ thay đổi thực tại xã hội ngay trong việc miêu tả nó. Các hành động nói tác động lên cái nó miêu tả, đưa một thực tại thành hiện thực, chẳng hạn như lời cá cược, lời đe dọa, lời tuyên bố đôi bạn trở thành vợ chồng của linh mục. Trong những hoàn cảnh thích hợp, lời nói là hành động chứa trong nội dung của nó: khi nói “tôi cá là…” tức là người nói đã tham gia vào một thỏa thuận cá cược; khi nói một câu đe dọa tức là người nói cũng đang thực hiện hành động đe dọa; khi nói “tôi đồng ý” tức là người nói đã thực hiện hành động kết hôn. Lập luận của John Austin rằng “mỗi hành động nói chân chính” đều mang một lực biểu hành[6] đóng vai trò quan trọng để giúp chúng ta hiểu về hành động nói trong Antigone. Lý thuyết của Austin đã phản bác lại quan điểm của chủ nghĩa thực chứng, cho rằng một số lời nói thì có tính biểu hành và thay đổi hiện thực xã hội (ví dụ như một lời tuyên bố kết hôn), trong khi một số lời nói chỉ mang tính miêu tả và không tác động gì đến hiện thực. Với Austin, lời nói “chỉ” mang tính miêu tả cũng là hành động tác động lên và thay đổi thứ nó miêu tả. Luận điểm này liên quan tới các câu hỏi về nhận thức luận trong Antigone ở chỗ nó thách thức các quan điểm tư tưởng hệ khẳng định sự tồn tại của một sự thật thiết yếu, bền vững, minh định được và nằm ngoài ảnh hưởng của ngôn ngữ – một sự thật cố định và có thể xác minh, một sự thật có thể miêu tả nhưng không thay đổi bằng hành động miêu tả.[7] Trong Antigone, không có khả năng nắm bắt một sự thật như vậy, và các nhân vật chính ít nỗ lực tìm ra cách đúng đắn để tư duy và hành động mà đúng hơn là nỗ lực tạo ra sự thật ấy thông qua lời nói.

Thế giới của Antigone là một thế giới dệt nên từ các phát ngôn biểu hành. Trong Antigone, ngay cả hành động miêu tả cũng có lực biểu hành, hay là hành vi tại lời [illocutionary]: lời người vệ binh miêu tả việc chôn cất Polyneices, chẳng hạn, dẫn đến cuộc điều tra và bộ máy luật pháp chuẩn bị vào guồng. Hơn nữa, các nhân vật trong vở kịch nhận thức rằng lời nói thiết lập các điều kiện xã hội của thành bang và lời nói mang sức mạnh luật định. Khi Ismene bị buộc tội đã giúp Antigone chôn cất Polyneices, nàng đã đưa ra một phát ngôn biểu hành để trao quyền biểu hành sang cho Antigone: “tôi có làm việc ấy nếu chị ấy đồng ý rằng tôi làm” (536). Hành động trong môi trường chính trị cũng diễn ra ở cấp độ lời nói. Thực vậy, Creon coi lời nói của Haemon là một “hành động” (730) và như vậy là hợp lý: bởi Creon tìm cách thực hiện quyền lực qua ngôn ngữ và bị ngôn ngữ làm mất quyền lực. Lời lẽ xúc phạm của ông khiến Tiresias phải “nói điều không thể nói” (1060) và lời tiên tri của Tiresias lại thúc đẩy Creon ban cho dàn đồng ca quyền dùng hành vi tại lời: “ta phải làm gì? Các ngươi cứ nói và ta sẽ tuân theo” (1099).

Sự nhượng bộ này là tiêu biểu cho việc Creon đã đánh mất quyền lực ngôn ngữ, và đóng vai một lời thừa nhận rằng ông không thể kiểm soát tác động của ngôn ngữ. Creon bắt đầu ngày đầu tiên trên ngai vàng với sự tự tin rằng ông có thể khiến thần dân tuân mệnh thông qua lời nói của mình. Hành động nói chủ yếu của ông, và là hành động khơi mào cho mọi hành động khác, là mệnh lệnh không ai được chôn cất hoặc khóc thương Polyneices (203-205). Tất nhiên, trước cả khi nghe được mệnh lệnh đó từ chính miệng Creon, chúng ta đã nghe nó từ Antigone, người chỉ bằng hành động nói lời phản bác lại nó thôi đã phủ định sức mạnh của nó ngay từ đầu. Mỉa mai thay, Creon khẳng định mình hoan nghênh sự đối đầu thẳng thắn như thế. Trên thực tế, đó cũng là cơ sở cho cách hiểu của ông về cách cai trị tốt; ông phản đối bất kỳ thần dân nào “cứng lưỡi vì sợ hãi” và tự hào rằng mình “không thể yên lặng khi tai họa đang rình rập thành bang” (180-186). Khi phân tích đoạn này, Timothy Gould nhận xét rất sắc sảo rằng, Creon vừa kêu gọi sự can gián thẳng thắn vừa cấm đoán nó suốt vở kịch.[8] Càng về sau, vị vua mới càng mắc kẹt trong những mâu thuẫn của lời nói. Antigone tuyên bố rằng một vị vua có thể “nói như mình muốn” (507), nhưng Creon lại sập bẫy bởi chính mệnh lệnh của mình. Thực vậy, chỉ mình ông bị trói buộc vì lực hành vi tại lời của mệnh lệnh ấy, không thể thu hồi mệnh lệnh và “tuyên bố” mình là “kẻ nói dối” (657-658). Đối với người khác, những mệnh lệnh của Creon không có hiệu lực. Hành động nói thành công nhất và duy nhất của ông đến vào cuối ngày hôm đó, sau khi Haemon và Eurydice tự tử, khi ông cầu xin dàn đồng ca “hãy đưa ta đi ngay lập tức, kẻ điên rồ đã giết con mình, dù ý định không hề như thế, và cả nàng nữa, người vợ yêu quý” (1340-41). Hành động nói cuối cùng của ông là một chuỗi những từ bỏ: ông từ bỏ quyền ở lại thành Thebes, thừa nhận không thể kiểm soát “ý định” của bản thân, cắt đứt với kẻ điên rồ” mà mình đã trở thành.

Mệnh lệnh của Creon đã tạo ra điều kiện để hành động nói của Antigone đạt được sức mạnh gây ảnh hưởng tới chính sách của thành Thebes. Bởi ông đã cấm thần dân không được than khóc cho Polyneices, nên mỗi lời nói đau buồn của Antigone là một hành động chống lại nhà nước. Hành động phản kháng của cô thể hiện dưới dạng một lời thú nhận, khi cô bị buộc tội đã chôn cất và làm tang cho Polyneices, cùng lúc nhấn mạnh vào hành động phát biểu xác nhận đó, nói rằng “tôi nói tôi đã làm việc đó và tôi không phủ nhận nó” (443). Antigone hiểu rằng nói là làm, rằng lời nói ngon hành có thể thay đổi thực tại xã hội ở thành bang, và lời xác nhận của cô tước mất tính hợp pháp trong mệnh lệnh của Creon bằng việc phơi bày sự vô hiệu của mệnh lệnh đó. Nhưng thậm chí ngay từ trước khi Antigone hạ thấp Creon trước mắt thần dân như thế, cô đã không công nhận mệnh lệnh của ông bằng việc sử dụng ngôn ngữ rất khôn khéo. Creon muốn nâng mệnh lệnh của mình lên thành “luật định” (481), và đây là mong muốn mà Antigone đã chặn trước. Rất chú trọng đến sức mạnh làm luật của ngôn ngữ, cô gọi lời chỉ đạo của ông không phải là một “luật” mà chỉ là một lời bố cáo, một “lời tuyên bố” hoặc “lệnh” (8, 28, 31, 33), và gọi Creon không phải là “vua” mà chỉ là “người chỉ huy” (8).[9] Như thế, cô đã hạ bậc Creon và coi luật của ông là một tuyên bố mà bất kỳ thần dân nào cũng có thể đưa ra. Sau đó, cô mặc định một thế đứng ngang hàng với Creon, nói lên tuyên bố của chính mình rằng tuyên bố của ông không có thẩm quyền, và chính qua lời nói đó đã biến nó thành không có thẩm quyền, cô thúc giục Ismene “tuyên bố điều này với tất cả” (87), và làm như vậy ở không gian đã thiết chế hóa, nơi các tuyên bố được đưa ra hoặc thu hồi: ngay trước cung điện hoàng gia, nơi Creon sắp đưa ra bố cáo của mình.

Hành động nói của Antigone đã cho thấy giới hạn quyền lực ngôn ngữ của Creon. Cô có một mối quan hệ hai mặt với lời nói. Một mặt, cô là một nhân vật bị gạt ra ngoài lề, bị các thiết chế quyền lực buộc phải im lặng và nói thay, đó là Creon, là dàn đồng ca, hay thậm chí là người vệ binh đã bắt giữ cô; và cô tự đồng nhất mình với “người ở vị trí thiếu sự công nhận trong không gian công”.[10] Đồng thời, chính là vị trí tới hạn này, sự đồng nhất này với những kẻ không có tiếng nói, lại cho cô khả năng chiếm dụng và nhại lại lời nói của người khác. Cô chế nhạo và nhại lời của “Creon cao quý” (31); cô cũng châm biếm cả Ismene đã coi thường “dự định ngu ngốc của chị” (95) và khinh thường bóp méo lòng trung thành của Ismene khi bảo cô kia “hãy yêu lấy Creon, người họ hàng em, người em rất mực quan tâm” (549). Sử dụng những hành động nói tiếng bụng liên tục, cô không chỉ chế nhạo những ai phản đối mình mà còn mượn lời kẻ khác để biện hộ, bảo vệ mình. Khi Creon nói rằng chôn Polyneices là một tội ác, Antigone mượn lời người chết và đáp “xác chết dưới kia sẽ không bao giờ nói vậy” (515). Tương tự như vậy, cô cũng mượn lời dàn đồng ca khi nói rằng “tất cả những người ấy sẽ nói, rằng họ đồng tình với hành động của tôi/nếu chẳng phải họ đã câm lặng vì nỗi sợ” (504-505). Trong đoạn thoại nổi tiếng về “luật bất thành văn nhưng vĩnh cửu”, cô lại đóng vai trò của nhà tiên tri (450-457). Thậm chí xa hơn, cô còn tuyên bố mình có thể đại diện cho Hades, nói rằng “thần Chết cũng muốn luật lệ công bằng cho mọi người chết” (519). Trong lời thoại cuối cùng, cô gợi ra quan điểm của một nhóm tưởng tượng những kẻ phán xét sau khi cô chết: “người khôn ngoan sẽ hiểu, lựa chọn của tôi là đúng” (904). Trong mạng lưới những lời trích dẫn tự tạo này, thật khó mà nói được đâu thực sự là lời của Antigone. Nhưng chính nhờ căn cước và vị trí trong thành bang bất định và uyển chuyển như vậy, Antigone có thể hóa thân thành người khác và linh hoạt uốn chỉnh quan niệm của họ theo ý của mình. Bị tước mất giọng nói của chính mình, cô khôn khéo dùng giọng của người khác.

Cuối cùng, Antigone bỏ lời nói và chọn hành động, tuy nhiên đó là một hành động biết nói. Hành động tự tử của cô vừa là một cách chối từ lời nói vừa như một lời nói cuối cùng, về thực tế, nó là một dạng biểu đạt gợi ta nhớ về điều mà Margaret Rachel Kitzinger gọi là “truyền thống ở ngoài thể loại kịch là biểu diễn nghi lễ” của dàn đồng ca trong các ca khúc và điệu múa, là thứ giống như hành động tự tử của Antigone, dùng cơ thể như một nơi mã hóa [site of signification] và thiếu lòng tin vào chính trị của người trần cùng những kiến giải của thành bang về nguyên nhân và hệ quả.[11] Mô típ hoài nghi đối với lời nói và sự thuyết phục chạy xuyên suốt vở kịch. Haemon cảnh giác với những lời hoa mỹ (683-686) và Antigone coi trọng hành động hơn “lời nói suông” (543). Trong trường hợp Haemon, lời hoa mỹ anh hoài nghi lại là lời của cha mình, và đúng là nên thế: bởi chúng ta đã thấy Creon rất giỏi đặt ra một lời tuyên án tử hình làm mờ nguyên do của cái chết như thế nào. Mặc dù Antigone có thể mượn lời rất tài tình, hùng biện vẫn là phương tiện thuộc về thành bang. Bằng một “chữ giống như cái chết” (933), Creon đã đày cô vào một ngôi mộ sống. Hành động tự tử của cô như một cử chỉ cực đoan mang sức mạnh như một phát ngôn biểu hành, như một biểu đạt bác bỏ những hùng biện của thành bang và tước quyền tuyên phạt của Creon đối với cô qua một “chữ” quyết định cách thức và ý nghĩa cái chết của cô. Dù từ bỏ lời nói, hành động tự tử của cô cũng là một dạng phát ngôn, không chỉ kháng cự lại quyền lực của nhà nước đối với sự sống và cái chết, mà còn phủ nhận khả năng của nhà nước áp đặt giá trị và ý nghĩa lên các sự kiện và cá nhân. Tương tự như vậy, các hành động tự tử sau đó cũng bao hàm một sự khước từ lời nói, một sự phản kháng ngôn ngữ của thành bang. Ta được cho biết Eurydice đã nguyền rủa Creon trước khi tự sát, nhưng lần xuất hiện cuối cùng của bà trước khán giả được nhấn mạnh là “câm lặng” (1252): bà rời khỏi sân khấu “trong im lặng, không nói một lời” (1245). Tương tự như thế, Haemon từ chối nói chuyện với cha mình và tự sát bằng kiếm mà “không nói thêm lời nào” (1232). Trong những cảnh cuối đầy bạo lực của vở kịch, Antigone đã thể hiện một thành bang nơi phép hùng biện thất bại trong vai trò làm nguyên tắc tổ chức xã hội, và việc nhà vua xúc phạm thi thể Polyneices (biến nó thành một phương tiện giao tiếp, một thông điệp cho những kẻ phản bội) đã tạo ra một tiền lệ: bạo lực với thân xác trở thành một hình thức biểu đạt.

Kevin Hart

Chiêu Dương dịch

(Tranh: Antigone của Michel Lambert)


[1] Charles Segal, Interpreting Greek Tragedy: Myth, Poetry, Text (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1986), 137.

[2] Mọi trích dẫn văn bản được đánh số câu theo Antigone của Sophocles trong Greek Tragedies I, David Grene và Richmond Lattimore biên tập, Elizabeth Wyckoff dịch (Chicago và London: University of Chicago Press, 2013), 187-239.

[3] Xem phân tích về mối quan hệ phức tạp của Sophocles với nền dân chủ trong “Sophocles and Democracy” của Alan H. Sommerstein, Polis, The Journal for Ancient Greek Political Thought, 34 (2017), 273-287.

[4] Christiane Sourvinou-Inwood, “Assumptions and the Creation of Meaning: Reading Sophocles’ Antigone,” The Journal of Hellenic Studies, 109 (1989), 137.

[5] Sđd, 143.

[6] John Austin, How to Do Things with Words (Oxford: Clarendon Press, 1962), 146.

[7] Xem phân tích sâu hơn về lập luận của Austin rằng mọi lời nói đều sản sinh ra thực tại trong Eve Kosofsky Sedgwick, Touching Feeling: Affect, Pedagogy, Performativity (Durham và London: Duke University Press, 2003). Xem thêm Timothy Gould, “The Unhappy Performative,” Performativity and Performance, Andrew Parker và Eve Kosofsky Sedgwick biên tập (London, New York: Routledge, 1995), 19-44.

[8] Gould, “The Unhappy Performative,” 37.

[9] Xem một khảo sát kỹ lưỡng về luận điểm này trong Judith Fletcher, “Sophocles’ Antigone and the Democratic Voice,” Interrogating Antigone in Postmodern Philosophy and Criticism. S. E. Wilmer và Audronė Žukauskaitė biên tập (Oxford, New York: Oxford University Press, 2010), 168-184.

[10] Audronė Žukauskaitė, “Biopolitics: Antigone’s Claim,” Interrogating Antigone in Postmodern Philosophy and Criticism. Sđd, 80.

[11] Margaret Rachel Kitzinger, The Choruses of Sophokles’ Antigone and Philoktetes: A Dance of Words (Leiden, Boston: Brill Publishing, 2008), 5, 26.

Chấm sao chút:

Đã có 1 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Kevin Hart

Kevin Hart là Giảng viên của Đại học Fulbright Vietnam. Trước khi gia nhập Fulbright, ông là giảng viên thỉnh giảng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi đến Việt Nam, ông tham gia giảng dạy văn chương, khoa học nhân, và hùng biện tại trường Đại học California, San Diego, nơi ông làm luận án tiến sĩ trong lĩnh vực văn học so sánh, cũng như tại trường Đại học Fordham ở New York, nơi ông lấy bằng Thạc sĩ ngành Ngữ văn. Tại Fulbright, ông là điều phối viên chính chịu trách nhiệm phát triển chương trình Nghiên cứu Văn học. Nghiên cứu của ông tập trung vào tiểu thuyết của thế kỷ 20 cũng như sự giao thoa giữa nghiên cứu văn học với nghiên cứu xã hội học, nghiên cứu tự nhiên và các lý thuyết thiết kế kiến trúc. Ông cũng nghiên cứu về lý thuyết dịch thuật và ứng dụng, tập trung vào các tác giả viết bằng tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Pháp. Các công trình nghiên cứu của ông gần đây được đăng trên các tạp chí James Joyce Quarterly, The Journal of Studies in the English Language, và Irish Studies Review. Gần đây ông đã có tham luận trình bày tại Hội nghị của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) Conference cũng như tại Hội nghị của Trường đại học Leuphana University về chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa hiện đại. Ông còn tham gia dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bến Tre.

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: