Thuận: “Chỉ có viết và viết thật nhiều, mới hy vọng làm được cái gì đó” – Một cuộc trò chuyện

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Chinatown ở Cộng - Ảnh Nguyễn An Lý
Thời gian đọc: 13 phút

Chị trở thành nhà văn như thế nào?

Hồi bé, tôi từng mơ ước trở thành nghệ sĩ dương cầm hay họa sĩ, nhưng giấc mộng văn chương đã nhanh chóng chiếm ưu thế. Có lẽ bởi tính gần gũi của nó, thậm chí còn như phản xạ tự nhiên của một người đọc sách: những tác phẩm thú vị bao giờ cũng mang đến hứng khởi cầm bút. Tuy thế hứng khởi thôi chưa đủ. Tôi không trở thành nhà văn ngay cả sau này, ở tuổi hai mươi, khi đã viết được một số truyện ngắn. Cho tới khoảng những năm 97, 98, không hiểu từ đâu mà hình thành trong tôi ý định viết tiểu thuyết, nhưng tôi còn nhớ những ngày kỳ cạch gõ Made in Vietnam với câu mở đầu: “Cuối cùng Hà Nội cũng đến được năm 2000”. Tiểu thuyết đầu tiên hay được ví với mối tình đầu, còn tôi nghĩ nó giống nồi lẩu, thực phẩm thì ê hề mà người nấu còn vụng. Tôi vung tay quá trán và sau nửa năm, xuất xưởng một bản thảo dài gấp đôi bản đã được in sau đó. Bây giờ nhìn lại chỉ thấy một tình trạng thừa năng lượng.      

Chị từng nói dự định cứ 2-3 năm ra một cuốn sách như vậy và chị thực sự đã làm như thế, không biết thời khóa biểu và kỷ luật lao động của chị thế nào?

Tôi không kỷ luật lắm đâu. Từ lâu, tôi đã bắt đầu tránh tự ép mình vào khuôn khổ. Nhưng muốn hay không thì thời gian có bản thảo, ngày nào của tôi cũng bị xáo trộn, chữ nghĩa khiến tôi mất ăn mất ngủ. Lần cuối, mới gần đây thôi, một câu hỏi bỗng nhiên rơi xuống: Phải chăng tôi đang tàn phá sức khỏe? Nhưng cuối cùng thì ham hố có lẽ vẫn vượt lên. Tôi gọi là “ham hố” vì đó không đơn thuần là say mê. Đúng ra là tôi rất muốn biết xem năng lực của mình đến đâu. Tôi theo chủ nghĩa hoài nghi và ngờ vực nhiều thứ trên đời, đặc biệt là nguồn năng lực đang tồn tại đâu đó bên trong tôi nhưng lại có cơ tan biến bất cứ lúc nào.  

Tác phẩm đầu tay Made in Vietnam được in ở nước ngoài nên không quá nhiều độc giả trong nước đọc nó. Chị có muốn một ngày nào đó xuất bản nó ở Việt Nam?

Tôi từng tự dịch Made in Vietnam sang tiếng Pháp. Bây giờ người ta cũng đang muốn xuất bản bên này. Nhưng theo tôi, nó cần được thổi một luồng khí mới trước khi đem trình diện.

Trong các tiểu thuyết của chị, chị có coi tác phẩm nào là thất bại không?

Tôi hầu như không muốn nhắc đến Vân Vy và không hiểu tại sao nhiều độc giả lại bảo rằng họ rất thích Paris 11 tháng 8. Ngoài ra, tôi đang thu xếp thời gian để tinh chế Thư gửi Mina như tôi đã làm với bản dịch Lettres à Mina. Còn Thang máy Sài GònChỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư có những đoạn mà nếu viết bây giờ, tôi sẽ bỏ hoàn toàn. 

Các tiểu thuyết của chị đều nằm ở quãng 200-300 trang (~60.000 chữ), trừ Thư gửi Mina thì dài hơn hẳn. Chị có chủ động chỉ viết ngắn, hay giới hạn số lượng chữ không? Có lúc nào chị có ý định viết một tác phẩm đồ sộ (về mặt độ dài, hẳn nhiên) hơn?

Có lẽ tạng tôi không nên viết quá 200 trang để có thể quán xuyến mọi thứ.

Chinatown, Paris 11 tháng 8, Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư đều là những tác phẩm có nhịp rất mạnh như cuốn phăng độc giả theo. Chắc hẳn chị đã luôn suy nghĩ về vấn đề tạo nhịp trong văn chị? Cái gì là yếu tố chủ chốt trong văn chương chị, theo chị?

Tôi vẫn tự kiểm tra sức khỏe qua nhịp điệu của tác phẩm, như thể đó là cách để xem tim đập như thế nào trong lồng ngực. Tôi thích mường tượng mỗi tiểu thuyết như một bài thơ dài, với một nhịp xuyên suốt, hối hả, những câu chữ rõ ràng, những chi tiết có thực, được sắp xếp trong những trật tự đặc biệt. Ý tưởng đầy ắp trong đầu, nhưng thể hiện chúng dưới hình thức nào, đó là việc lấy của tôi nhiều công sức nhất mà không phải bao giờ cũng mang lại kết quả như mong đợi. 

Mối quan tâm trong văn chương của chị có thay đổi và phong cách viết của chị đã phát triển như thế nào trong hơn 20 năm cầm bút qua của chị?

Sau nhiều năm giao du với chữ nghĩa thì đầu óc có sắc bén hơn. Một câu văn vụng, tôi nhận ra ngay. Nhưng cũng vì thế mà một câu văn hay lại trở nên ngày càng khó khăn. Không còn trông đợi ở bản năng hay may rủi. Nếu muốn tạo cảm giác tươi mới thì vất vả hơn xưa nhiều. Được cái trời phú cho tôi tính hài hước nên viết mà như đùa nghịch. Những ngày này, mối quan tâm của tôi là tiếng Pháp: tôi bị hấp dẫn bởi những thứ không tồn tại trong tiếng Việt, ví dụ như thời và thể, hay cách đảo chủ ngữ – vị ngữ, nhưng có lẽ cái tôi khoái nhất là khả năng tổng hợp và logic của tiếng Pháp, nó chính là phương tiện giúp tôi nhận ra và lược bỏ những gì không cần thiết, những lặp lại vô tình. Nó cũng khiến các câu văn của tôi trở nên ngắn gọn, gợi mở và đa nghĩa hơn. Mỗi khi viết xong một câu, tôi thường đọc lên thành tiếng, điều mà trước đây tôi chẳng bao giờ làm trong tiếng mẹ đẻ. Tôi từng quan niệm song ngữ chỉ đơn giản là làm chủ hai thứ tiếng, nhưng rồi tôi tự hỏi tại sao tôi không tìm cách để chúng bổ sung cho nhau.

Toàn bộ các xuất bản của chị đều là tiểu thuyết, chị có bao giờ định thử ở một thể loại khác? Truyện ngắn chẳng hạn?

Có thể một ngày nào đó.

Nước Nga nơi chị đã du học đóng vai trò gì trong văn chương chị?

Với một người viết văn thì ngày nào cũng là trải nghiệm quý nếu biết khai thác. Nước Nga của Cải tổ, Perestroika và Gorbachyov dường như là bước đệm, một kiểu transit, để tôi chuyển từ Việt Nam sang phương Tây mà không bị rơi vào tình trạng hụt hẫng hay phấn khích. Được chứng kiến những ngày Liên Xô tan rã cũng giúp tôi hiểu thêm những cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, hệ tư tưởng mà tôi cho rằng, ngược với dự đoán của nhiều người, vẫn đang vùng vẫy dưới những vỏ bọc khác nhau để dẫn đến những kết quả rất khó lường. 

Ngoài ra thì mùa thu vàng không để lại mấy ấn tượng trong ký ức tôi. Cũng như trứng cá đen và quảng trường Đỏ. Nhưng tiếng Nga vẫn khiến tim tôi loạn nhịp. Đó là một ngôn ngữ giàu có, phóng khoáng và vần điệu đến nỗi tôi luôn có cảm giác người Nga ở tuổi nào cũng mang trong mình những trái tim thanh tân. Tiếng Nga không ít lần vẫn hiện ra khi tôi viết bằng tiếng Pháp hay tiếng mẹ đẻ, có lẽ chỉ cần xin được một phần trăm vẻ đẹp của nó là cũng đủ may mắn lắm rồi. 

Nhân vật Thụy trong Chinatown có vẻ mãi là một bí ẩn. Chị nghĩ sao dưới một góc đọc có người cho rằng Thụy là gay?

Tôi không cố tình. Nhưng nếu nhìn theo cách ấy thì cũng bí ẩn thật.

Trong các truyện của chị có rất nhiều chi tiết về cảnh sống của tạm gọi là người cùng khổ dưới đáy xã hội ở Pháp, đặc biệt là dân nhập cư (Việt cũng như các dân tộc khác) thì đây là kết quả của tưởng tượng, hay là trải nghiệm và quen biết, hay chị chủ động đi “tìm kiếm tư liệu”?

Khoảng năm 2000, tôi xin làm giáo viên thay thế trong một trường cá biệt của ngoại ô “nóng” Paris mà học trò phần lớn là con cái di dân Hồi giáo. Tôi đã “diễn” hết mình, nên hết hạn 3 tháng, ban giám hiệu muốn giữ tôi lại. Tôi từ chối và ngồi nhà viết. 6 tháng sau thì được Chinatown trong đó nhân vật chính làm cái nghề tôi vừa làm xong. Đó là tiểu thuyết thứ 2 của tôi, đó cũng là lần duy nhất tôi chủ động đi “thực tế”. Về sau tôi chủ yếu viết qua quan sát và phân tích. Bây giờ thông tin không thiếu.  Khi không sáng tác thì tôi ngồi dịch. Dịch cũng là một cách trau dồi ngôn từ, logic, trí tưởng tượng, khả năng cảm thụ… Rồi tôi đọc báo, đọc truyện… Tuy thế, tôi luôn tự nhủ rằng trải nghiệm lớn nhất của người viết chính là viết. Chỉ có viết và viết thật nhiều, mới hy vọng làm được cái gì đó. Sartre nói “tác phẩm hay nhất là tác phẩm mà ta đang viết”. Không theo chủ nghĩa hiện sinh, nên tôi nghĩ một cách tự nhiên rằng mọi thứ vẫn nằm ở phía trước và tôi không được bỏ cuộc.

Mặc dù chị lựa chọn nhân vật Thụy là Hoa kiều cốt để kể một chuyện tình nhưng sau mười mấy năm chị có thấy bỗng dưng lịch sử lặp lại trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc bây giờ không? Đôi tình nhân Romeo Juliet của chị có nhận được sự đồng cảm nào từ phía bạn đọc không?

Một người như tôi không viết chuyện tình suông. Bằng chứng là tôi không bao giờ muốn lấy nước mắt của độc giả, ngay cả khi xây dựng những hoàn cảnh éo le. Nếu nhân vật Thụy không xuất thân Hoa kiều thì có lẽ tôi sẽ không bao giờ viết nổi Chinatown. Mới đây một độc giả người Pháp cho tôi xem bài báo về cộng đồng Hoa kiều ở Xi-bê-ri và hỏi làm cách nào mà ngày ấy tôi đã hình dung ra một Chinatown chạy một mạch từ châu Âu sang châu Á, qua cả thành trì của hậu Nga Xô-Viết. Lúc đó người ta chỉ thấy buồn cười khi nhân vật cậu bé Vĩnh nói rằng lớn lên nó muốn mang 3 quốc tịch – Việt Nam, Pháp và CHND Trung Hoa – để có thể nhảy dù xuống Trung-Cận Đông. Tinh thần bành trướng của Bắc Kinh thì phương Tây có qua mấy cuộc chiến tranh lạnh cũng chẳng thể ngờ hết. Nhưng quả là khi viết Chinatown, tôi không hề nghĩ đến mối quan hệ Việt-Trung. Có thể vì đã bị nhiều tác giả khai thác, thường xuyên trở thành mục tiêu cho các loại bóng gió, ám chỉ, nên đề tài này không còn cuốn hút tôi nữa.

Chị có hay đọc các bài phê bình viết về tác phẩm của chị không? Chị có học được gì từ phê bình không?

Những bài phê bình đến tay tôi thì tôi có đọc chứ, nhưng học được gì không thì tôi không chắc lắm. Cái câu “văn mình, vợ người” không thể áp dụng trong trường hợp của tôi. Với bản thân, tôi khắt khe hơn bất kỳ một biên tập viên nào. Nhiều khi tôi nghĩ, tôi buộc phải viết cuốn này để sửa lại những nhược điểm đã mắc phải ở những cuốn trước. Có lẽ vì thế mà cứ viết mãi không dừng.

Đọc một số tác phẩm của chị thấy có dấu ấn nhẹ của Milan Kundera, điều này có đúng không và ngoài ra có tác giả nào mà chị thấy có ảnh hưởng đến chị không?

Với tôi, Milan Kundera là một tượng đài. Nếu tôi có ảnh hưởng ít nhiều từ ông thì cũng không có gì ngạc nhiên. Ngoài ra, Duras, Camus, Sartre, Proust, Sarraute hay Modiano đều là những người thầy thầm lặng mà tôi vô cùng biết ơn. Tôi chọn ra những tác phẩm mà tôi thấy thú vị nhất ở họ và đọc đi đọc lại nhiều lần. Mỗi khi tìm được một điều gì mới, tôi thường có cảm giác họ đã viết cho chính tôi, như thể họ đã thả một cái chai xuống biển mấy chục năm trước và tôi là kẻ may mắn vớt được.

Làm con dâu của Trần Dần có phải là áp lực với chị không?

Không bao giờ. Trần Dần là tấm gương sống động nhất với tôi về văn cách.

Khi đọc tuần tự các tiểu thuyết của chị, độc giả có cảm giác như T mất tích là một cú quặt cả về nội dung lẫn về phong cách viết, không biết cảm nhận này có đúng không?

T mất tích có lẽ là tác phẩm mà đôi khi đọc lại, tôi vẫn còn giật mình ở một số đoạn. Nhưng đó lại là bản thảo mà tôi dường như không đổ nhiều công sức. Tôi còn nhớ tôi đã viết nó đều đặn mỗi ngày, ít khi phải thức khuya, dậy sớm. Tôi chỉ cố tập trung, làm sao trở nên thật logic và lạnh lùng, để có thể hóa thân làm “một người chồng vô cảm”, một người đàn ông hoàn toàn bình thản khi phát hiện vợ bị mất tích và quyết định tự mình mở một cuộc điều tra, nhưng có vẻ như không phải để tìm lại vợ mà chủ yếu là để giải khuây. 

Nhà văn, người kể chuyện trong Chinatown nói mình không thể viết về tình dục, nhưng các cuốn sách khác kể từ Made in Vietnam lại có nhiều đoạn nói về tình dục rất thẳng thắn hoặc đặc tả. Nhà văn Thuận thì có thái độ thế nào với đề tài này? Đặc biệt VânVy có phải là bài tập viết về tình dục của chị?

Tình dục là một đề tài có nhiều lợi thế, viết cách nào cũng hấp dẫn, nhiều khi chỉ cần đưa đẩy vài từ mà tác phẩm đã có thêm sinh lực. Nhưng ở đây, văn chương có vẻ giống đời thực: nếu bạn có một cái đầu tốt thì không cần phải khoe thân. Cũng đừng ảo tưởng rằng tình dục đồng nghĩa với dũng cảm. Thế kỷ 21, chiếc áo nữ quyền đã lỗi thời lắm rồi. Hình như từ VânVy tôi bắt đầu viết về tình dục, đó có thể vì tôi thấy buồn cười trước những thắc mắc như thể tôi mắc bệnh vô cảm.   

Nhân vật của chị đi khắp mọi nơi và thuộc đủ mọi xuất thân, chị có nghĩ mình là nhà văn toàn cầu hoặc nhà văn của di dân toàn cầu không?

Nhân vật của tôi tình cờ mà xuất thân tứ xứ, chứ tôi không cố tình. Tôi sợ những cụm từ vô nghĩa có gắn mấy chữ “toàn cầu”, chúng ngớ ngẩn và nông nổi chẳng kém gì những kể lể tâm tình của dân du lịch.

Làm thế nào chị giữ liên lạc với cuộc sống trong nước để viết những câu chuyện rất thời sự như trong Thang máy Sài Gòn?

Người ta đâu cần phải chết để có thể viết về cái chết, hay phải trải qua chiến tranh mới viết được về chiến tranh, hay là đàn ông mới có những nhân vật nam, là đàn bà mới có những nhân vật nữ… Nhưng rất có thể nếu không nhờ đã sống ở Việt Nam thời bao cấp cho đến năm mười bảy tuổi, tôi sẽ khó mà nắm được những mã số của xã hội Việt Nam đương đại.

Chị thường xuyên nói là tác phẩm của mình nhấn mạnh vào “nghệ thuật tiểu thuyết” (chữ của Milan Kundera) hơn là nội dung cốt truyện, nhưng người đọc và nhà phê bình vẫn ưa đọc chị và nói về sách của chị như một bức tranh hiện thực xã hội Pháp, Việt Kiều… chị cảm thấy như thế nào về chuyện này?

Tôi không chú ý lắm. Việc của tôi là viết, còn những người khác cảm nhận thế nào là vấn đề của họ, phụ thuộc vào năng lực đọc của từng người. Nếu tôi có hay nói về nghệ thuật tiểu thuyết thì bởi vì đó là điều mà cá nhân tôi quan tâm, tôi bàn về công việc viết trong tư cách của một người thực hành. Nhưng có vẻ như bạn đã hiểu rằng trong cái gọi là “nghệ thuật tiểu thuyết” không có chỗ cho nội dung ? Theo tôi thì có chứ. Ngay cả cái mà bạn tưởng là không nội dung lại chính là nội dung đấy. Ngoài việc xây dựng cấu trúc hay văn phong độc đáo, thì chọn chi tiết này, bỏ chi tiết kia, nhấn mạnh chi tiết khác, cũng là một việc không hề dễ, nó giống như dựng phim, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức của tác phẩm.       

Chị có theo dõi văn học đương đại Việt Nam không? Tác phẩm/tác giả nào gây ấn tượng với chị?

Nguyễn Viện, Trà Đóa, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Nguyên Phước, Vũ Đình Giang, Lê Minh Hà, Đỗ Phấn, Lê Anh Hoài, Đặng Thân, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Huỳnh Trọng Khang, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Danh Lam, Dạ Ngân, Nguyễn Việt Hà… khiến tôi không bi quan về văn học Việt Nam đương đại. Vượt lên những điều kiện xuất bản chật hẹp, không khí xã hội bưng bít và trình độ dân trí giới hạn, họ đã lao động nghiêm túc và kết quả đạt được, theo tôi, hoàn toàn ngang tầm các tác phẩm của những nền văn chương tiến bộ. Chết trong ngày Chúa nhật của Nguyễn Nguyên Phước mà tôi mới có dịp đọc, là một ví dụ. Ở đây, mọi thứ đều khác thường đến kinh ngạc, ngay từ cách chấm câu. Phản tiểu thuyết, phản nghệ thuật, phản anh hùng, phản tự sự, nó một mực phản lại tất cả những gì bạn có thể hình dung. 600 trang liên tục khiêu khích, liên tục tấn công, liên tục viết và “xóa”, tác giả chứng tỏ một bút lực đáng ngưỡng mộ.

Chị có thể tiết lộ một chút về cuốn tiểu thuyết vừa mới hoàn thành của chị?

Sài Gòn những năm 2000, một cô gái xách va-li về nước sau mười năm du học, chẳng vì một lý do nào cả. Nhưng 3 thập kỷ trước thì cha cô cũng xách va-li về nước sau nhiều năm du học, với lý tưởng là xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhanh chóng vỡ mộng để bắt đầu cuộc sống lưu vong trên chính quê hương của mình. Công viên những cây sậy đặt vào trung tâm tiểu thuyết một vài cá nhân vô danh bị cuốn đi trong guồng quay của lịch sử. Nó vẫn nằm trong dòng chảy của những gì tôi đã viết. Nếu có khác thì chỉ là ở đây, tôi đặt thêm các nghi vấn về niềm tin và cái giá phải trả. Bên cạnh đó, việc viết song ngữ đã cho tôi cơ hội tiếp cận, theo một cách khác, chủ đề tha hương và câu hỏi “Sống thế nào giữa hai nền văn hóa?” vốn thường trực trong các tác phẩm trước đây của tôi.  

Talk ở Montfort l’Amaury, ngoại ô Paris. Ảnh do nhà văn Thuận cung cấp.

Chị được dịch khá nhiều sang tiếng Pháp, chị có độc giả không? Được biết tác phẩm của chị đang được mua bản quyền để dịch ra tiếng Anh, chị có kế hoạch gì để tiếp cận thị trường quốc tế không hay không quan tâm đến vấn đề đó?

Tính từ Chinatown đến Thư gửi Mina thì tôi có 6 tiểu thuyết xuất bản ở Pháp, nên tôi đoán là cũng có những độc giả ở đây quan tâm xem tôi viết thế nào. Nhưng số đó không đông, hẳn là vậy. Mỗi năm có vài nghìn đầu sách văn học xuất hiện ở Pháp khiến cho ngay cả một vài tác giả đã đình đám như Michel Houllebecq mà vẫn cần phải gây tai tiếng để bán sách cho chạy. Ngoài ra thì nhiều người Pháp chọn văn chương Việt Nam hay châu Á vì muốn tìm thấy ở đó một tinh thần hoài cổ êm ái, những ý tưởng đã được đúc sẵn về tình yêu, tình mẫu tử, đạo lý làm người, truyền thống dân tộc… Đương nhiên là họ thất vọng khi phải đọc tôi. Ví dụ, họ không thể tưởng tượng nhân vật chính của T mất tích, một phụ nữ gốc Việt, có thể bỏ lại chồng con, từ giã mái ấm gia đình, để một thân một mình đến nơi nào đó, sống đời tự do. Giá cô ta là người phương Tây thì họ sẽ đỡ bị shock ! 

“Tiếp cận thị trường” không bao giờ xuất hiện trong đầu tôi. Sau Seuil, tôi phó mặc Riveneuve nhà xuất bản đã theo tôi lâu nay và có vẻ vẫn  tiếp tục hợp tác. Cho đến năm vừa rồi, một agency đã liên lạc với tôi, nói là đã tìm thấy một nhà xuất bản Luân Đôn cho ChinatownThang máy Sài Gòn. Họ thuyết phục tôi ký hợp đồng 10 năm để họ giới thiệu các tác phẩm của tôi ra ngoài Pháp. Tôi đã đồng ý, tôi chỉ muốn rảnh rang để ngồi viết.    

Được biết khi Thư gửi Mina dịch ra tiếng Pháp chị đã có chỉnh sửa lại, và trên blog chị cũng từng nói sẽ sửa lại Paris 11-8 trước khi công bố; chị có thường sửa lại các tác phẩm đã viết không và nếu giờ viết lại những tác phẩm cũ chị có nghĩ mình sẽ thay đổi chúng thế nào?

Bản dịch Thư gửi Mina đầu tiên là một bản dịch tốt, không có gì phải phàn nàn, nhưng giống như mọi khi, tôi xin phép được là người biên tập lần cuối. Sau nhiều do dự, tôi đã bỏ đi khoảng 1/4 và chỉnh sửa nhiều đoạn, khai thác khả năng súc tích và tổng hợp vượt trội của tiếng Pháp. Thế là ra đời một version khác, theo một tinh thần khác, gây bối rối hơn. Tôi gửi lại cho dịch giả và hỏi ý kiến. Yves Bouillé trả lời là thấy rất hay và hào hứng. Sau đó, chúng tôi hội ý với nhau và chỉnh sửa thêm một vài chi tiết nữa. Đó là một bản dịch công phu, tổng cộng thời gian chắc khoảng 1 năm. Tôi dự định sẽ làm như thế với nguyên bản nếu có dịp tái bản Thư gửi Mina.

Với các tác phẩm trước, tôi ngại chỉnh sửa. Có lẽ do không tìm lại cảm hứng và muốn viết hẳn những thứ mới.   

Các tác phẩm của chị được viết bằng một thứ tiếng Việt rất thuần Việt, lại thêm những chi tiết mang đậm tính văn hóa bản địa, mà ắt hẳn sẽ không dễ dàng chuyển ngữ, song chị vẫn được dịch rất nhiều ra tiếng Pháp. Chị có phải trao đổi nhiều với các dịch giả để làm rõ những điều này không?

Tôi luôn xin phép được làm biên tập viên cho chính tôi. Đọc bản dịch trước khi xuất bản, tôi phải giữ thái độ khách quan hơn bao giờ hết, để nhận thấy những điều tôi từng viết trong tiếng Việt đã trở nên không còn thú vị, hoặc ngược lại có khả năng sẽ độc đáo trong tiếng Pháp. Người Pháp cười không giống người Việt, khóc không giống người Việt, và cách tư duy thì hầu như khác hẳn. Tôi luôn cố đặt mình vào vị trí độc giả Pháp và đặt tác phẩm của tôi trong mối tương quan với các tiểu thuyết Pháp. Như tôi đã trả lời bạn ở phần trên, với Thư gửi Mina tôi đã cắt đi một phần tư. Ngoài ra còn phải điều chỉnh, thậm chí đi tìm một nhịp điệu mới hoàn toàn cho bản dịch. Từ đó dẫn đến việc ngắt lại câu, bố cục lại các cụm từ, gia cố từng đoạn cho chặt chẽ… Số phận một tác phẩm dịch khác với số phận một di dân. Di dân chỉ cần hòa nhập. Tác phẩm dịch đòi hỏi cá tính, nhưng để tạo được cá tính phải hiểu rõ đối phương. Không gì sợ bằng bị xếp vào loại văn chương thiểu số và hương xa. Ơn trời, độc giả Pháp vẫn phàn nàn văn phong của tôi quá phức tạp.

Quá trình làm việc của chị với các NXB/BTV Việt và Pháp có gì khác nhau không? Hay chị có thấy phong cách làm việc ở Việt Nam và Pháp khác nhau không?

Xuất bản ở Việt Nam thì vấp phải chiếc kéo kiểm duyệt, còn ở Pháp thì đau đầu vì thị trường và cạnh tranh. Nhưng ngay từ đầu tôi đã xác định sẽ không thỏa hiệp. Không có sự vội vàng nào cả. Tôi chỉ chấp nhận hợp tác với những nơi biết trân trọng bản thảo của các nhà văn.

Chị có bao giờ sinh hoạt ở các sự kiện văn chương Pháp, hay người Việt ở Pháp, hay người Việt trong nước không?

Mỗi khi có sách xuất bản, tôi cũng tham gia giới thiệu, hay đi ký ở hội chợ sách Paris hoặc vài sự kiện văn chương. Gặp độc giả Việt Nam dĩ nhiên nhiều thú vị, nhưng không có nhiều cơ hội vì vài năm tôi mới về Việt Nam một lần.

Cảm ơn chị.

Zét thực hiện

Chấm sao chút:

Đã có 2 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Thuận

Tốt nghiệp Khoa văn trường ĐH tổng hợp Sorbonne. Sống và làm việc tại Paris. Tác giả của 8 tiểu thuyết và dịch giả của một số tác phẩm.

trên đỉnh cao tuyệt vọng

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: