Nguyễn Hải Nhật Huy, Tôn Thất (trích)

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi
Thời gian đọc: 23 phút

Chương 2: Cỗ máy hành hương

Có những thứ tầm vóc quá vĩ đại đến nỗi ít ai nhìn thấy chúng. Phàm khi nói đến những vật to lớn sống ở biển, người ta nghĩ ngay đến cá mập, cá voi, hải cẩu, bạch tuộc khổng lồ, megalodon… Đầu óc con người hay ưu tiên những thứ một là toát ra vẻ mạnh mẽ bạo lực vô song khiến họ khiếp sợ, hai là rườm rà mỹ lệ, để họ thích làm gì thì làm. Trừ những người trí tuệ mẫn tiệp tinh tế ra, ít ai biết trầm trồ trước vẻ đẹp của những thứ đơn giản đến ngu ngốc nhưng lại hiệu quả phi thường.

Từ thời xa xưa, người Nhật đã biết ăn sushi. Người phương Tây và các phương khác dù đánh nhau với người Nhật suốt nhiều năm trong Đệ nhị thế chiến, vẫn không biết ăn cá sống, sự thật này kéo dài cho đến tận cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Năm 1970, ông Hidemi Kumai làm ở khoa ngư nghiệp đại học Kinki [1], vùng Kansai bắt đầu dự án để đời của mình, kéo dài hơn 30 năm: năm 2002 ông và các đồng nghiệp trở thành đơn vị đầu tiên trên thế giới nhân giống thành công trong điều kiện nuôi nhốt cá ngừ vây xanh, loài cá mà từ khoảng đầu cho đến giữa thế kỷ 20 tên tuổi gần như đi liền với món sushi. Chỉ cần thêm ba năm nữa, cá từ trại của ông đã bắt đầu xuất hiện trên thực đơn sushi nhiều nơi ở Nhật, qua đó và về một mặt nào đó đã hé ra một tia hy vọng cho sự tồn tại lâu dài của cá ngừ vây xanh, vốn bị săn bắt quá mức bởi con người, nhất là người Nhật. Kể cũng phải thôi, vì thịt loài cá này vốn là một trong những thứ thơm mát nhất mà con người từng biết cách bỏ vào mồm.

Lờ đi tầm quan trọng của công trình của ông Kumai đối với ngành thủy hải sản và ngư nghiệp thế giới, người ta vẫn phải trầm trồ về độ khó của nó. So với bò và gà thì cá ngừ khó thuần hóa hơn rất nhiều. Cá ngừ vây xanh, trung bình dài trên 02 mét khi trưởng thành, là loài có tính di cư cực cao: cuộc đời của một con cá đồng nghĩa với việc bơi; vừa nứt mắt ra nó đã bơi xuyên đại dương để kiếm sống, tới tuổi lại bơi ngược trở về để sinh sản [2]. Để dụ cho cá ngừ quan hệ tình dục trong lồng nhốt, người ta phải giả lập môi trường trong lồng sao cho giống với quê nhà của chúng nhất, bao gồm ánh sáng, nhiệt độ, nồng độ muối… đồng nghĩa với việc các trang trại phải được đặt xa bờ, môi trường phải được kiểm soát chặt chẽ bằng máy móc tối tân [3]. Một con cá ngừ thở bằng cách bơi: nước phải đi qua miệng nó để đi qua mang, từ đó nó lọc lấy oxy, càng bơi nhanh, thở càng mạnh, thở càng mạnh, càng bơi nhanh, bơi đi liền với thở, thở đi liền với bơi, ở trong lồng cũng phải bơi vòng quanh liên tục để thở. Cá ngừ vây xanh có thể đạt tốc độ lên đến 80km/h, hoặc thấp hơn một chút nhưng trên một quãng đường rất rất dài. Cả thân hình nó, như một quả banh bầu dục nhẵn bóng gắn thêm vây và đuôi, chỉ chừa một tí cho nội tạng và não, còn lại toàn là các bó cơ bện chặt. Bền bỉ, đơn giản và gần như tuyến tính, nó là cỗ máy hành hương đúng nghĩa, là tạo vật độc đáo thuộc dạng bậc nhất của đại dương.

Sở dĩ phải nhắc đến những chuyện vừa rồi là bởi vì từ bãi biển Mỹ Khê, thành phố Đà Nẵng, đi về phía Nam khoảng gần hai cây số, rẽ phải rồi rẽ trái, đi thêm một đoạn lại rẽ trái, bắt đầu từ năm 2015, ta thấy sự xuất hiện của quán bar mang tên Tôhô. Quán cũng nhỏ nhưng mà tươm tất chỉn chu, giá nước khá cao: vài ba bộ bàn ghế đặt rải rác trong vườn cây xanh mát, trong góc vườn có một quầy bar làm từ thép cắt ra từ các thùng container cũ được sơn lại, ghế cao và ly thủy tinh lớn. Rồi thì dọc theo hai hàng rào trang trí rất nhiều ván lướt sóng cũ, ngụ ý là quán có phong cách bãi biển, dành cho các beach boy và beach girl ở worldwide đổ về. Thật vậy, ở thời điểm quán bar ra đời, thành phố duyên hải vốn trước đây là căn cứ lớn nhất của quân đội Mỹ ở miền Trung Việt Nam đã chuyển mình nhanh chóng. Bãi biển T20 trước kia vốn toàn phi lao và khu doanh trại quân đội nay đã mọc lên những khách sạn nguy nga tráng lệ, sáng bừng trong đêm nếu ta ở trên một chiếc thuyền buồm đâu đó giữa vịnh nhìn vào bờ. Khách du lịch quốc tế đi theo đoàn, khách du lịch balô lữ hành có bằng thạc sĩ, các em út Đại Hàn Seoul Busan… dần dần chiếm đa số ở một vài khu vực của thành phố. Quán bar Tôhô chỉ là một trong số hàng ngàn hàng ngàn quán xá mới được mở ra hàng năm để phục vụ kịp thời nhu cầu vui chơi giải trí của họ.

Coi, mới một tuần sau khai trương, quán đã có kỷ niệm đáng nhớ đầu tiên khi hai cô Kim Yeo-jeong và Choi So-dam uống bia xỉn đến nỗi đã leo thẳng lên phòng riêng trên lầu của chủ quán để ngủ mà không báo trước, làm người ta tưởng các cô bùng bill [4]. Ngồi ở quầy bar người ta thấy ở sau lưng bartender có một bộ xương cá khổng lồ, treo kiêu hãnh trên tường: xương sườn của nó có chỗ bị gãy phải dán lại bằng keo, có đốt bị mất, phần xương cấu tạo nên mang cá bị biến dạng như thế ai đó đã dùng vật cứng nạy nó lên. Hai tháng sau ngày khai trương, đội ngũ phục vụ và pha chế của quán đã phải đón tiếp một nhà làm phim Youtube tên Ocean Adam đến để phỏng vấn về bộ xương này, tuy nhiên, chủ quán đã hết mực từ chối. Lý do được viện đến là bộ xương cá đó mang ý nghĩa rất riêng đối với anh và gia đình, nên anh chỉ mong bày ra cho người ta nhìn thấy chứ không muốn ai biết gì về nó; lên phim, đánh bóng danh tiếng để người ta đến xem nườm nượp, lại càng không. Tuy nhiên, anh chị em thân quen của quán [5], những người đủ thân cận để được ngồi hoặc nằm bên cạnh anh chủ quán những lúc trạng thái của anh ít bình thường nhất, ai cũng bảo rằng đó chính là bộ xương cá ngừ định mệnh của cậu Tôn. Người chủ quán bar đấy không ai khác chính là Trần Đình Tú, anh em hay mến gọi là Tú Đĩ, là con trai độc nhất của bà Nguyễn Phúc Ánh Phượng và là cháu gọi cậu Tôn là cậu ruột. Bộ xương đó vốn là của một con cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương dài 5m2, khi còn sống nặng đến hơn 900kg, là cá thể vây xanh Thái Bình Dương lớn nhất mà con người từng bắt được. Như một dũng sĩ giết rồng, chính cậu Tôn là người đã săn thành công con cá đó.

Chuyện này quan trọng không phải vì nó hội đủ các yếu tố của một kỷ lục Guinness bị bỏ quên, mà bởi vì nó là một trong những cột mốc chính trong cuộc đời kỳ lạ của cậu Tôn, mà bản thân cậu lại là đầu mối chính chỉ dẫn về sự tồn tại của một vật báu mà chúng ta sẽ nói đến sau. Lịch sử của nhân loại dài bao nhiêu, truy ngược về được đến tận đâu, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể có kết luận thống nhất. Phần lịch sử được ghi lại có thể kiểm chứng được chỉ gói gọn trong vài ba ngàn năm trở lại đây, và chủ yếu chỉ quan tâm những chuyện có dính dáng đến tầng lớp quý tộc, những người biết chữ, nắm trong tay đao kiếm và giấy bút. Ngoài những thứ đó là ngổn ngang và chập chùng huyền thoại truyền miệng, phần nhiều có tính siêu nhiên, là hư hư thực thực, phản ánh đời sống và mơ ước của hàng triệu triệu con người vô danh hằng ngày lao động và học tập vì miếng cơm manh áo và vì tương lai của thế hệ sau. Tìm kiếm căn nguyên, bằng chứng cho những chuyện đó, nhiều người sẽ cho rằng thật sự phí công vô ích. Tuy nhiên, cổ nhân đã nói, có lửa thì mới có khói, người đời biết bới lông tìm vết, biết truy vấn cổ kim, đó là điều đáng quý vậy.

Cậu Tôn là con trai cả của nhà Tôn Thất đường Hoàng Văn Thụ. Cậu ra đời vào đêm Giáng Sinh năm 1971, sau kỳ mang thai mà mẹ cậu quả quyết là kéo dài hơn 10 tháng. Chồng bà thì, như một số người đàn ông khác, không thể tin vào sự thật hiển nhiên rằng vợ mình là một dạng thánh nữ: ông về đến nhà một tháng sau khi con trai mình ra đời, với một bộ mặt lạnh lùng cáu kỉnh. Ông đã ngồi hàng giờ liền ở phòng khách, ông uống trà, hút thuốc, chân mang ủng nhà binh đầy bùn đất cũng không thèm rửa; sau đó ông tiến hành uống rượu, mà không đoái hoài gì đến vợ con ở nhà dưới. Ông đã không còn hành xử như người đàn ông vui tính, hào sảng và ân cần mà bà Tôn Nữ từng biết đến, kể từ thời điểm hay tin cái bụng của bà bắt đầu phình ra. Cũng không trách ông được, bởi từ lần cuối ông quan hệ tình dục với bà cho đến hôm mà bà hộ sinh ở bệnh xá thề với ông rằng đó là lúc con trai ông, tức cậu Tôn, ra đời, là đúng 10 tháng 11 ngày. Không có ai mang thai dài như thế cả, ông Mạnh Cường nghĩ vậy. Chứng tỏ bà Tôn Nữ đã tư thông với người khác trong phạm vi một tháng rưỡi kể từ khi ông ra đi [6]. Chỉ một tháng rưỡi thôi, rất có thể thủ phạm là thằng nhạc sĩ Trần Vũ. Về phía bà Tôn Nữ, bà phủ định một mực, bà cũng cho rằng đã 2 năm nay không nhìn thấy mặt Trần Vũ đâu; càng khiến mọi chuyện trở nên mông lung, dù bao nhiêu năm có trôi qua, cũng không có tí sự thật nào được hé lộ, không ai biết chuyện gì đã xảy ra. Chuyện này thuộc loại chuyện không thể giải thích nổi, bởi nó có quá nhiều điểm mông lung, trong cái giai đoạn lịch sử cậu Tôn ra đời, giữa một cuộc chiến, thông tin truyền từ người này qua người kia, những bộ óc bấn loạn, thì khó mà kiểm chứng cho được, sai số rất lớn. 10 tháng hay 9 tháng thì cũng có tí. Dù sao thì, cuộc xung đột này làm rúng động mối quan hệ của hai ông bà, dẫn đến việc hai ông bà không quan hệ tình dục trong hơn một năm và bà Tôn Nữ thề độc rằng từ thằng Tony trở đi tất cả con cái đều mang họ Tôn Thất nhà bà. Bà Tôn Nữ là một người đàn bà cứng rắn và quả quyết, bà nói là làm. Chế độ một-đàn-con-hai-họ được áp dụng từ đó.

Tuy nhiên, để giải thích cho cái tên kỳ khôi của cậu Tôn là Tôn Thất Tôn ta phải đi sâu hơn nữa vào thói quen uống rượu của ông Mạnh Cường và ông già vợ của ông là ông Tôn Thất Châu: cả hai đều thích uống rượu gạo và không ưa lẫn nhau cho lắm. Bà Tôn Nữ sau khi đẻ cậu Tôn được mới có 3 tháng, bị chồng bỏ bê, đã lặn lội về Huế đến bẩm với cha bà rằng bà mong muốn được đặt tên con theo họ mẹ là Tôn Thất Quang. Ông Bửu Châu lúc đó đang say rượu, nên không đồng ý, mà thật ra có tỉnh ông cũng không đồng ý. Ông dạy rằng:

“Thằng cu là con nhà Nguyễn Văn, thằng cha hắn muốn nhận sang mà đổi thành Nguyễn Phúc, hắn phải mang họ Nguyễn Phúc. Tốt nhất là đặt tên hắn là Nguyễn Phúc Ngụy. Họ chớ có phải cái nồi đâu mà ưng đem đưa cho ai thì đưa… kể cả nồi cũng không phải cứ muốn đưa là đưa… Răng không đặt cho hắn là Nguyễn Phúc Phúc Phúc Phúc Phúc… 10 tháng hay 9 tháng thì cũng có tí ti, không phải nhiều chuyện lên làm chi…” [7]

Ông Mạnh Cường khi nghe được những lời kể trên, lúc đó cũng đang uống rượu, bèn tức tối, suy nghĩ lệch lạc, dẫn tới kết cục đặt tên con trai là Tôn Thất Tôn Tôn, chỉ để trả đũa ông già vợ. Dù bà Tôn Nữ có ngồi ngoài sân cả buổi, trằn trọc cả đêm thì chồng bà cũng không nghe theo. Cuối cùng đi đăng ký khai sinh thì người ta rút gọn lại cho một chữ Tôn, thành Tôn Thất Tôn. Có kẻ am hiểu triết học đã gọi cậu là “cậu bé Thái cực”, vì trong tên cậu có một đồ thị hình sine vậy [8]. Về sau tiền lệ này cũng đã được áp dụng cho đứa con gái kế tiếp của hai người, là cô Hy Hy. Ngày sắp đẻ bà Tôn Nữ có nói bà cảm thấy Hy chính là một cái tên hay cho một đứa con gái, nếu thứ trong bụng bà là một đứa con gái. Ông Mạnh Cường nhượng bộ bà Tôn Nữ trong chuyện này vì ông linh cảm kiểu gì cũng một thằng cu nữa. Cuối cùng thì khi bà Tôn Nữ đòi đặt tên con gái là Tôn Nữ Thị Hy thì chồng bà cho rằng ông nghĩ rằng Vĩnh Hương thì hay hơn cả. Sau đó họ nhất trí rằng tên con vẫn là Hy nhưng vẫn tuân theo phong cách ông Mạnh Cường đã vạch ra từ thời đẻ cậu Tôn. Thỏa thuận này lại là một thua thiệt nữa của bà Tôn Nữ, nhất là khi bà khóc hơn nửa tiếng và lặp đi lặp lại hơn trăm lần câu “ai mà tên Hy Hy, người ta cười cho”.

Nhưng dù sao thì cậu Tôn cũng đã ra đời. Rạng sáng ngày 25 tháng 12 năm 1971, lẽ ra chỉ việc đón Giáng Sinh như mọi năm, năm nay bà Tôn Nữ thấy mình nằm trên bàn đẻ, hai chân vắt cao, bên cạnh là mẹ bà, hớt hơ hớt hải, mắt thâm quầng; cha bà thì vẫn còn đang ở Huế, con gái lớn của bà thì đang ngủ ở nhà, chồng bà thì cách trăm cây số. Bà Tôn Nữ nhớ lại:

“Trời gần sáng thì Tony mò ra, trời mưa như trút, nước hắt vô tới tận mặt mẹ, bà ngoại không biết đi đâu mất rồi, chỉ còn bên cạnh mẹ chị y tá…”

Như nhiều nhân vật lỗi lạc khác, cũng có nhiều ý kiến và chuyện kể xoay quanh sự ra đời của cậu Tôn. Có một nữ giáo dân Thiên Chúa sống ở gần chợ Hàn sau khi thấy cậu bơi hồi năm 1977 đã cho rằng cậu là hiện thân của Chúa, là con Chúa, là Jesus Christ xuống trần thế một lần nữa, và bài hát Mary’s boy child / Oh my lord của ban nhạc disco huyền thoại Boney M. đã được viết ra để chào mừng sự ra đời của cậu. Ý kiến này có vẻ rất vô lý khi ta biết rằng bài hát kể trên phát hành lần đầu tiên năm 1978, tức là 7 năm sau khi cậu Tôn ra đời. Tuy nhiên bà giáo dân kể trên đã lập luận, cũng không phải là không thấu đáo, rằng Frank Farian, người nhạc sĩ thiên tài đứng sau Boney M. đã thấy một luồng ý tưởng chạy xẹt qua não đúng lúc đang uống ly rượu mừng Giáng Sinh năm 1971 [9]. Dù gì thì ví von cậu Tôn với Jesus Christ cũng không phải là điều chỉ có những con chiên của Chúa mới nghĩ đến, vì cả hai đều sở hữu những thiên tài đặc biệt liên quan đến nước.

Từ xa xưa, gây dựng một mối quan hệ chu toàn với môi trường nước bao quanh mảnh đất sinh sống của mình luôn là một trong những điều quan trọng nhất mà con người phải để ý đến. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở Bắc Phi những họa đồ hang động có từ thời đồ đá, vẽ cảnh con người đang bơi ếch. Những người đàn ông khỏe mạnh và can trường nhất là những người đàn ông bơi qua sông. Các đảo phía Nam Thái Bình Dương đầy rẫy các bộ tộc sống dựa vào việc săn bắt hái lượm trên biển, họ bắt cá dựa vào việc lặn xuống nước hàng 5-6 phút liền, dùng ná cao su phóng lao bắt từng con một hoặc mang tính trình diễn hơn: có những bộ tộc chuyên bắt cá bằng phi lao từ trên phóng xuống vô cùng chính xác. Thế kỷ 19, Matthew Webb mới còn bơi ếch qua eo biển Manche thì đầu thế kỷ 21, những vận động viên bơi tự do nhanh nhất đã đạt được đến vận tốc gần 9km một giờ, còn cái eo biển kể trên thì đã trở thành mục tiêu trong tầm mắt của bất kỳ người yêu bơi lội có tiền và có thời gian nào. Những cuộc thi bơi từ nghiệp dư cho tới chuyên nghiệp được mở ra liên tục ở khắp nơi trên thể giới, cự ly cứ thế dài lên, 10km, 25km, 40km; có người bơi mấy trăm cây số không nghỉ; cho thấy con người có thể bơi được bao lâu và bơi trong những điều kiện khắc nghiệt như thế nào: nước lạnh gần như đóng băng vẫn bơi được, dù không có lông và lớp mỡ dày để giữ ấm. Con người cũng cho thấy mình có thể bơi được cả trong môi trường mà không loài động vật lưỡng cư hay sống dưới nước nào thích bơi: bể bơi nước clo. Cũng ở đầu thế kỷ 21, người ta đã có thể lặn xuống độ sâu trên 120m dưới biển mà không cần bất kỳ trang thiết bị hỗ trợ nào khác ngoài máy quay GoPro. Nhưng dù nói gì đi nữa thì con người vẫn mãi mãi không thuộc về thế giới nước trong vai trò làm chủ, vì kể cả những cá nhân xuất sắc nhất kể trên cũng phải ngủ trên cạn. Chỉ có cậu Tôn là có thể ngủ dưới nước. Chỉ có cậu Tôn là đâu đó cho ta thấy le lói cái hy vọng về viễn cảnh của con người trong vai trò của một loài có vú sống dưới nước.

Ông Mạnh Cường dù lòng mang nhiều hoài nghi và ấm ức, vẫn không thể nào bỏ vợ được, vì ông cũng chẳng có bằng chứng nào khác ngoài chuyện 9 hay 10. Ông đi lính thêm một năm nữa rồi lấy lý do vết thương ở đầu gối, ông ở nhà với vợ con và toan tính chuyện gây dựng một sự nghiệp. Hai năm đầu đời, “con trai ông” chẳng có biểu hiện gì đặc biệt: cậu Tôn có hai năm hoàn toàn bình thường, có chăng chỉ là cậu hơi quấy một chút, khóc to một chút, và cậu cắn bầm núm vú bà Tôn Nữ rải rác suốt giai đoạn bú mẹ.

“Cho Tony bú là công việc đau đớn và gian nan…” bà Tôn Nữ vẫn thường hay nói thế.

Dù không thật sự quá nổi trội, nhưng cũng cần phải nhắc đến chuyện cậu Tôn đặc biệt có năng khiếu Anh ngữ, và cậu nói được thứ tiếng này từ khá sớm. Mới có chưa đầy 03 tuổi, không hiểu học được từ đâu, cậu đã chạy quanh nhà không ngớt đọc to “Satan is my name” đúng lúc một người Mỹ bạn cũ ông Mạnh Cường hồi còn đi lính đến chào từ biệt về nước, làm ông này sợ xanh mặt, rút thánh giá ra phòng vệ, vừa huơ trước mặt vừa đi giật lùi ra cổng [10]. Nhưng phải đến mùa hè năm 1974, chỉ chưa đầy một năm trước khi chiến tranh kết thúc, thì những chuyện kỳ lạ về cậu mới bắt đầu nảy sinh, lại một lần nữa đẩy ông già cậu vào một đường hầm tăm tối đầy những ngờ vực và phỏng đoán kéo dài đến tận mấy chục năm sau mới phai nhạt dần.

Mùa hè năm đấy, ông Mạnh Cường sau vài tháng nghỉ ngơi xả hơi gột rửa hết bụi đường quân ngũ, đã bắt đầu sang nhà ông Phúc học nghề in lụa. Bà Tôn Nữ ở nhà trông con một mình; nấu cơm xong, đang bế cậu Tôn từ trong nhà đi ra ngoài hiên hóng mát thì bà vấp té làm rơi cậu xuống giếng. Khỏi phải nói, rơi con xuống giếng là chuyện không bà mẹ nào muốn làm. Bà Tôn Nữ té mặt vừa sấp xuống đất đã nghe một tiếng “chũm” gọn gàng, nước bắn lên mát lạnh cả lưng bà. Bà choáng váng trong tâm khảm, vừa thảm thiết gào “con ơi” vừa bò bằng cả hai chân hai tay về phía cái giếng, quên cả đứng lên cho nó đàng hoàng. Nhưng trái với khung cảnh hãi hùng mà bà mường tượng trong đầu, con trai bà không chìm nghỉm mất dạng xuống đáy giếng mà ngược lại đang bơi thong dong trong làn nước xanh như ngọc, như một con cá koi trong bộ đồ thun nhuốm màu gỉ mũi. Bà Tôn Nữ không biết bơi nên không có cái não trạng cần thiết để miêu tả chính xác kỹ thuật bơi tự nhiên của cậu Tôn khi lần đầu được thả xuống nước. Bà chỉ kể lại như sau:

“Cái mỏ hắn nhô lên trên nước đớp đớp khí trời… Ối chu cha là dễ thương… Hắn cứ bò bò lật lật y chang như đang ở trong nôi…”

Ông hàng xóm Lê Minh Ngộ khoảng vài phút sau mới nghe tiếng cầu cứu của bà Tôn Nữ mà chạy sang giúp vớt cậu Tôn lên. Mặc dù là người biết bơi, ông cũng không thể nhớ rõ cách bơi của cậu lúc đó do quá bận chú ý vào cái cổ trắng nõn đeo sợi dây chuyền vàng mỏng như sợi chỉ của bà hàng xóm. Dù vậy, ta có thể nói với mức tự tin khá lớn rằng chắc hẳn lúc đó cậu đang bơi đúng cái kiểu gợn sóng nhẹ nhàng như không mà những người về sau có diễm phúc được bơi cùng cậu tả lại trong niềm hân hoan trầm trồ khôn xiết. [11]

Ông Mạnh Cường, như thường lệ, có những phản ứng khó lường khi hay tin con trai 3 tuổi của mình bơi như cá và điều này thì được phát hiện ra bởi vì vợ mình làm rơi nó xuống giếng. Ông bỏ bữa tối mà ngồi một mình trong phòng khách hút thuốc uống rượu cả đêm, vợ đi ngủ trước ông cũng chẳng màng. Người ta nghĩ rằng ông giận vợ, nhưng chỉ có ông và con cái trong nhà qua năm tháng mới biết, rằng ông giận con. Rồi một tuần sau người ta thấy ông đem về một tấm lưới thép và mấy thanh gỗ, đóng đóng gõ gõ cuối cùng cho ra đời cái nắp giếng. Ông Lê Minh Ngộ vẫn còn nhớ cái cảnh ông hàng xóm của mình giữa trời trưa nắng cầm búa quai lên quai xuống, bà Tôn Nữ thì bồng cậu Tôn đứng xem, sợi dây chuyền lấp lánh trong nắng. Đứa con trai bà thì, theo lời bà Phu bán quán nước đầu xóm, suốt ngày đòi được mẹ thả xuống giếng cho nó bơi, có lẽ chính vì thế mà giếng từ đây phải có nắp. Lại thêm một tuần nữa, ông Mạnh Cường cho mời về một thầy cúng, mặc áo dài đỏ rõ ràng là mượn của ai đó trong đoàn hát bội, đốt giấy linh đình, tàn tro che phủ mặt trời, cả xóm sống trong quang cảnh như nhật thực. Thế nhưng nào là nắp, nào là bùa phép, không thể khiến ông Mạnh Cường an lòng. Ông sẽ phải sống trong cái tâm trạng nơm nớp đó thêm một thời gian dài nữa, không ai hiểu, chỉ có mình ông và chúng ta hiểu. Chuyện về người đàn ông này, ta sẽ bàn đến sau, bây giờ hãy tiếp tục nói về chuyện con trai ông bơi ra sao.

Kể từ sau vụ “tai nạn” té giếng đó, cậu Tôn liên tục đòi bà Tôn Nữ cho cậu xuống giếng bơi. Cậu khóc lớn tiếng và đập phá nhiều đồ đạc, trong đó có cả bộ ấm chén yêu thích của ông Mạnh Cường, cậu sẽ phải trả giá cho tội lỗi này, nhưng để sau. Bà Tôn Nữ cả ngày không nấu nướng gì được vì phải trông cậu. Cô Ánh Phượng lúc đó đang học lớp 3 cũng cả ngày không học hành được vì phải canh cậu, không cho cậu nhảy xuống vùng nước còn lại chưa được bảo vệ trong nhà là cái ảng; về sau mỗi khi bực tức chuyện thế sự, cô hay trách móc gia đình rất nhiều về những năm tháng trông em này đã khiến cô thi trượt trường Y. Chẳng bao lâu sau ông Mạnh Cường lại phải về nhà với một tấm lưới sắt và mấy cây gỗ: cái ảng từ đây trở đi cũng phải mang nắp. Nhưng rồi ông bà cũng phải chiều theo nguyện vọng của đứa con trai độc nhất của mình, vì nó khóc quá. Chuyện này đồn ầm lên bà con lối xóm ai ai cũng biết, có người nói thằng bé là hiện thân của Thủy Tinh trở về báo thù, có người nói Tony lớn lên sẽ làm thuyền trưởng… Mùa hè năm 1975, chiến tranh kết thúc, chẳng ai rảnh hơi đâu mà tắm biển, ông Mạnh Cường vẫn phải lấy Honda 67 chở con đi bơi, ông không còn lựa chọn nào khác. Trẻ con chơi đánh đáo, bắn bi, trốn tìm, có đứa cầm cái bơm ngồi ở góc đường kiếm ít tiền mua gạo, còn cậu Tôn thì chỉ có bơi. Những ai đam mê bơi lội khi nghe chuyện này sẽ nói “ơ thế thì có gì đặc biệt đâu, tôi thì tôi cũng bơi hằng ngày, con người tự nhiên nổi trong nước, trẻ con có bản năng bơi lặn ngay từ trong bụng mẹ, chẳng qua là từ nhỏ không tập, lớn lên sẽ bị sợ…” Họ nói thế cũng không sai, chứng tỏ họ có kiến thức căn bản vững chắc và tập luyện chăm chỉ, nhưng đó chẳng qua là bởi vì họ chưa được thấy cậu Tôn bơi. Muốn cho chắc thì hãy đi mà hỏi người thầy dạy bơi đầu tiên của cậu.

Đại úy Nguyễn Anh Tuấn gốc Hà Tĩnh, người thấp bé như Hobbit, đen trùi trũi, nghiện thuốc lá nặng; thời niên thiếu từng cõng bạn đi học. Ông từng tham gia vào những giải bơi đầu tiên của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới: giải bơi Sông Hồng 12km từ sông Hồng ra sông Đuống năm 1977, giải bơi Huế mở rộng năm 1979 7km dọc theo sông Hương… Năm 1976 ông được cử phụ trách CLB Bơi lặn của tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng vừa được thành lập, lấy nòng cốt là các thành viên CLB bơi Quân khu V bổ sung một vài người từ đội bơi thị xã Đà Nẵng cũ, có người vừa đi cải tạo về, có người được miễn vì được dân chúng khen là đứng đắn. Công tác tuyển chọn và phát triển tài năng trẻ trong dân cũng được chú trọng. Ông Tuấn bồi hồi nhớ lại quá trình đưa cậu Tôn ra ánh sáng:

“… Nhận được tin quần chúng báo ở khu vực I có một thần đồng bơi lội mới lên 5, tôi khẩn trương xuống địa bàn ngay. Cháu là con ông Phúc Mạnh Cường, trước có đi lính cho Ngụy. Phải rất kiên trì đấu tranh thuyết phục thì gia đình mới chịu để cho cháu tham gia bộ môn, phát triển năng khiếu. Lần đầu tôi tiếp cận, ông Mạnh Cường không nhất quán trong lời nói… Có lúc nói với tôi rằng con trai ông từ khi mới sinh ra chỉ bơi trong cái thau giặt đồ. Một lúc khác ông lại quả quyết nhà ông không có con trai nào cả. Về sau, ông Mạnh Cường được cho đi học tập cải tạo, tôi mới có dịp tiếp cận cháu, sau khi rình đón đầu mẹ cháu là bà Tôn Nữ trong lúc bà đang đi chợ… Một sáng mùa hè năm 1977, tôi lần đầu tiên được bà cho phép dẫn cháu Tôn ra sông bơi, trong đời tôi chưa từng thấy bất kỳ thứ gì bơi như cháu…”

Kể từ đó cậu Tôn cứ một tuần 3 lần ra sông [12] bơi cùng ông Tuấn, sau tăng lên một tuần 5 lần. So với mặt bằng chung ở thời điểm đấy, ông Nguyễn Anh Tuấn sở hữu kỹ thuật bơi sải rất tân tiến: chân ông đá nhanh, biên độ ngắn, và chỉ đá khi cần. Kết hợp với hai tay vung nhẹ và tiếp nước sớm, cách bơi này giúp ông tiết kiệm được rất nhiều sức do góc của cơ thể luôn được chú tâm điều chỉnh, nằm ngang trên mặt nước như một chiếc lá vàng, dẫn đến giảm đáng kể lực cản của nước, giúp ông bơi nhẹ nhàng và hiệu quả hơn nhiều so với những đối thủ bơi sải cùng thời, trong khi vẫn nhanh hơn kha khá so với những ai bơi ếch [13].  Cậu Tôn chắc chắn đã học được rất nhiều điều nhờ những năm tháng tập luyện cùng ông Tuấn, dù cũng như với phần lớn mọi người, mối quan hệ của cậu với người thầy đầu tiên là một con đường khúc khuỷu; và cũng như phần lớn những người yêu mến cậu, mỗi lần tiếp xúc với cậu là một lần ông Tuấn phải vận dụng 120% lượng bao dung và nhẫn nhịn mà ông mang theo được bên mình. Ban đầu ông Tuấn để cậu Tôn bơi như thế nào tùy cậu thích, sau đó ông bơi cùng cậu, gợi ý cho cậu thông qua các động tác ông làm. Ông cứ làm một động tác mới thì mươi bữa sau cậu sẽ bắt chước làm theo, nhưng nó luôn là cái gì đó hơi khác một chút, tức là cậu không bơi sao chép, mà cậu áp dụng dựa vào cách cậu hiểu.

Sông Hàn năm 1976 vẫn còn bóng dáng những chiếc thuyền buồm tam bản, thường sử dụng hai cái buồm căng ra như mảnh trên một bộ bikini táo bạo; về sau được thay thế hoàn toàn bởi các ghe gắn máy. Những buổi sáng và những buổi trưa, mặt nước sông Hàn lấp lánh ánh bạc, những người ở trên thuyền nhìn thấy hai thầy trò cậu Tôn bơi qua bơi lại hai bên bờ sông, dòng chảy đẩy họ ra phía biển lớn, đường zig-zag của họ kéo dài từ chỗ bãi cạn gần chân cầu De Lattre [14] ra tới Bến Cá ông Tuấn mới kêu lên về nghỉ. Kiểu luyện tập như thế này kéo dài suốt một năm đầu, sau đó ông Tuấn mới dần dần dỗ ngon dỗ ngọt để cậu chịu khó tập luyện các động tác chuyên biệt. Nên nhớ rằng cậu Tôn bơi kiểu cá heo một cách tự nhiên mà không cần tập tành gì cả, trong khi theo như ký ức của ông Tuấn thì bản thân ông phải mất đến hai tháng mới nhận ra tầm quan trọng của vùng xương chậu [15].

Năm cậu Tôn 12 tuổi, trong một trưa nắng nóng, nhân lúc ông Mạnh Cường đưa bà Tôn Nữ đi khám thai, cô Ánh Phượng thì sang nhà bà Tám Ụt hái trứng cá, cậu Tôn đã lấy được cái chìa khóa quý báu mở toang cánh cửa xuống giếng. Ông bà già cậu vừa về tới cổng thì thấy cô con gái lớn của họ, người chỉ một năm nữa thôi là lấy chồng, đang chúi đầu xuống giếng cười nắc nẻ, tiếng cười va vào nước va vào thành giếng tạo ra dải âm thanh du dương mà các nghệ sĩ nhạc ambient trên Youtube sau này sẽ ngây người ra mà thưởng thức. Thì ra cậu Tôn đang tập ngủ trong nước. Cô Ánh Phượng nhớ lại:

“Tony qua nhà bà Năm Trâm tự tiện mở tủ sách ra lấy xuống cuốn sách lớn lắm, cũ lắm rồi. Tiếng Pháp chi đó. Hắn mở ra coi thấy hình ba bốn con cá voi đang ngủ, ngủ mà ngủ đứng dưới nước á [16]. Rứa là hắn về hắn tập. Chớ thời gian đi tập bơi thì thầy bắt tập không cho ngủ. Rứa là hắn lấy cái thau ra đổ nước vô rồi úp mặt vô đó ngủ. Rồi hắn kêu hắn phải nhảy cả người xuống nước coi thử ra răng, hắn đòi ra sông… Chu cha, tui đâu có cho hắn đi, tui đi chơi tui cũng khóa cổng lại mà. Rứa mà hắn tìm ra được cái chìa khóa ông già giấu dưới cái hộp Phước-Lộc-Thọ. Khôn lắm…”

Thử nghiệm ngủ dưới nước của cậu Tôn thoạt đầu thất bại trong nhiều năm ròng, bởi vì cậu dù có cố gắng mấy, vẫn phải đá chân để giữ mình nổi, mũi trồi lên khỏi mặt nước. Cứ hễ thiếp đi là cậu lại ngừng đá chân, dẫn đến sặc nước, choàng tỉnh giữa cơn mê. Tư thế này được Tú Đĩ chứng kiến rất nhiều lần mãi về sau này, lúc cậu dạy bơi cho anh. Tú Đĩ cho biết cậu Tôn có thể đứng nước trong tư thế Oscar, tức là bức tượng vàng Oscar được trao hàng năm ở Mỹ, hai tay khoanh trước ngực, hai chân thẳng, trông có vẻ như đang không làm gì cả nhưng thực ra là đang đá chân rất nhẹ, rất chậm, rất vi tế thôi. Tư thế đứng nước kể trên đi ngược lại hoàn toàn các quy tắc thông thường vận dụng lực đẩy của nước, ấy thế mà vẫn nổi được, nói vậy để thấy trình độ siêu đẳng của cậu Tôn và những ảnh hưởng của ông Tuấn lên kỹ thuật bơi của cậu. Mãi đến tuổi thanh niên cậu Tôn mới phần nào thành công trong chuyện ngủ nghê dưới nước, chuyện này ta sẽ bàn đến sau, nhưng có thể cho rằng những năm tháng cậu trăn trở với khát vọng này đã giúp cậu hiểu về nước hơn rất nhiều, ở mức mà ta có thể nói là tiệm cận một con hải cẩu hoặc rái cá. Ta cũng có thể thấy qua chuyện này bản chất kiên định và ý chí sắt thép của cậu, mãi về sau này, dù cho Tú Đĩ nhiều lần gợi ý “cậu chỉ việc nằm phè trên mặt nước là xong”, nhưng cậu chỉ coi anh là đồ trẻ con, lờ đi. Vấn đề, không phải ở chỗ có ngủ được không, mà phải là ngủ đứng, như những con cá nhà táng năm xưa.

Cuối năm 1979, ông Tuấn được điều về công tác ở Cần Thơ, chấm dứt 4 năm ông huấn luyện cậu, dù vậy, thâm giao bất đoạn: họ hẳn là có liên lạc qua lại bằng thư từ và telephone. Đối với ông Tuấn, có một người học trò như vậy thật đã là một vinh dự lớn trong đời, một thứ vinh dự nằm sâu trong nội tâm, như một mề-đay chứng nhận bạn đã từng có lần bước qua mặt bên kia của hiện thực cuộc sống. Bốn năm huấn luyện cậu, tự thân ông cũng đã học được nhiều điều về con người và về nước. Hai mươi bốn năm sau, ông giới thiệu cậu về làm giáo viên dạy bơi ở trường THPT Phan Châu Trinh, trường trung học lớn nhất thành phố, lúc đó đã tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam được 7 năm. Đó là một chuyện dài mà cũng như bao chuyện khác về cậu Tôn, rất rắc rối, nhất là khi nó liên quan đến ngành giáo dục.

Huấn luyện viên của cậu Tôn ở CLB Bơi Quảng Nam-Đà Nẵng kể từ năm 1980 là ông Huỳnh Hải, một thái cực đối lập với người tiền nhiệm: ông to con và bơi thô bạo. Ông Hải trước học ở Liên Xô, chuyên bơi bể, phải phụ trách CLB bơi ở một nơi không có bể bơi đối với ông là điều nhột nhạt vô cùng. Ta có thể phỏng đoán ông đã góp một cánh tay rất hăng hái cho cuộc vận động xây dựng cái bể bơi ở Trung tâm thể thao quốc phòng III mãi tận sau này. Với tầm nhìn của mình, ông muốn góp vài sải đưa bơi lội nước nhà ra đấu trường khu vực và quốc tế, mà muốn được như thế thì phải có một cái bể, phải có một cái tường để bơi 50m lại đạp vào một cái [17], vì “nước ngoài họ toàn bơi như thế”. Và cũng như bao nhiêu người biết bơi khác, khi thấy cậu Tôn bơi, trong đầu ông nảy ra biết bao viễn cảnh tươi đẹp, những núi huy chương, rừng vàng thành tích, rồi đây ông sẽ đi Olympic [18], rồi đây ông sẽ đi SEA Games, rồi đây ông sẽ là huấn luyện viên bơi vĩ đại nhất thế giới; cái từ “vĩ đại”, nó là một từ có tính thôi miên, đặc biệt nguy hiểm. Bởi vì ở thời điểm đó, 9 tuổi, cậu Tôn đã bơi sải ở tốc độ hơn 9km/h, và cậu có thể giữ vận tốc đó ở quãng đường trên 200m [19].

Tuy vậy, nếu nhìn vào bảng thành tích của SEA Games, dù là SEA Games 1989, khi ông Huỳnh Hải được tháp tùng đoàn bơi lội Việt Nam đi tham dự, hay bảng thành tích của Olympic 1988, cũng có mặt ông Hải, ta không hề thấy cái tên Tôn Thất Tôn. Bởi cuộc đời đâu đơn giản đến vậy, mà nếu nó đơn giản đến vậy, thì ta đã phải ngồi đây mà nói về cậu Tôn theo một cách hoàn toàn khác, có khi là nhàm chán hơn nhiều.

Nguyễn Hải Nhật Huy

[1] Đến 2014 mới chịu đổi tên thành đại học Kindai.

[2] Có hai loại cá ngừ vây xanh chính là cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương và cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương. Cả hai loài đều đã bị bắt ăn gần hết. Với số liệu cho thấy 80% lượng cá ngừ vây xanh bắt được trên thế giới bị ăn ở Nhật, ta có thể nói rằng các ngư dân ở vùng Địa Trung Hải và mũi Florida bắt cá ngừ vây xanh chủ yếu chỉ để bán qua bên kia Địa Cầu.

[3] Ngược lại, bò và gà quan hệ tình dục ở mọi nơi.

[4] Ông chủ quán đã có chỉ thị rằng chuyện đó “không thành vấn đề”.

[5] Cùng với hai cô Yeo-jeong và So-dam.

[6] Ông Mạnh Cường từng là sĩ quan quân đội VNCH, vì nhiệm vụ, ông có nhiều chuyến công tác lên miền núi tỉnh Quảng Nam kéo dài nhiều tháng. Cuối năm 1976 ông bị bắt đi cải tạo 6 năm, đến đầu năm 1982 mới trở về.

[7] Mặc dù trong tên có “Nguyễn Phúc”, ông Mạnh Cường thực tế không hề liên quan gì đến dòng dõi các chúa Nguyễn. Cha ruột ông tên Nguyễn Văn Tí, là một nông dân sinh ra ở một làng nhỏ không tên gần làng Đồng Dương, hay gọi đơn giản là làng nhỏ. Làng này được thành lập khá muộn, các gia phả còn lưu giữ được cho thấy nó xuất hiện sớm nhất khoảng cuối thế kỷ 17, rất có thể là kết quả sự mở rộng của ngôi làng nổi tiếng bên cạnh do quá trình Nam tiến theo chân Nguyễn Hoàng của những người đến từ đâu đó phía Bắc Nghệ An và Nam Thanh Hóa ngày nay.

[8] Theo nhiều người thì tất cả đường chỉ tay của cậu cũng đều vẽ đồ thị hình sine luôn, tuy nhiên chi tiết này cho đến nay vẫn chưa ai kiểm chứng được.

[9] Frank Farian là người Đức, thời khắc Giáng Sinh ở Đức tức là 5 giờ sáng ngày 25 tháng 12 giờ Việt Nam, đúng thời điểm cậu Tôn ra đời. Tuy nhiên nếu sành nhạc thì có thể dễ dàng chỉ ra điểm sai của thuyết này. Phần đầu của bài hát thật ra là cover lại bản hit của Harry Belafonte ra mắt công chúng năm 1956.

[10] Cô Ánh Phượng, nhờ giỏi Anh ngữ, vẫn còn nhớ những lời ông người Mỹ này đọc lên để bảo vệ bản thân trước quyền phép của em trai cô: ma An Nam không phạm vào miền quỷ dữ của người phương Tây, hãy đi đi, trở về nơi ngươi đã đến. (Ghosts of An Nam do not participate alongside Evils of the West, return to where you came from!)

[11] Miêu tả chính xác cách cậu Tôn bơi là việc rất khó, vì thời đấy người ta chưa có thói quen upload video lên Youtube, bình quân tỉ lệ người sở hữu camera trên tổng dân số cũng rất thấp. Những ai may mắn từng được chứng kiến cậu bơi cũng không đủ trình độ để mô phỏng lại, cho nên những kiến thức này có thể xem như đã thất truyền. Qua đây ta cũng cần phải nhìn nhận rằng từ khi biết số hóa, con người đã gìn giữ kiến thức tốt hơn rất nhiều so với trước.

[12] Không thể tìm thấy bất cứ thông tin nào về các bể bơi ở Đà Nẵng trong giai đoạn này. Theo phỏng đoán, bể bơi thể thao đầu tiên tại thành phố có lẽ là bể nằm trong khu Trung tâm thể dục thể thao quốc phòng III, đơn vị được thành lập năm 1994. Bể bơi thành tích cao Đà Nẵng nằm trên đường 2/9 được xây dựng rất muộn, năm 2002.

[13] Trong những cuộc đua mà ông Tuấn tham gia ở thời kỳ đó, vẫn còn những vận động viên sử dụng kiểu bơi ếch trong thi đấu bơi tự do hoặc bơi việt dã, do kỹ thuật bơi sải vẫn chưa quá thịnh hành ở Bắc Việt, cộng thêm vì hoàn cảnh mà có nhiều vận động viên không được qua huấn luyện chuyên nghiệp mà các giải bơi thì thường mang tính phong trào, các đội bơi đại diện cho tỉnh thành đi tham dự nhiều khi cố gắng lấy thêm người cho đủ quân số. Có một vài chạm khắc Ai Cập cổ niên đại khoảng những năm 2000 trước CN thể hiện cảnh con người đang bơi sải. Kỹ thuật này nhìn chung không được biết đến bởi người da trắng, những người có thói quen lấy lịch sử của mình làm lịch sử chung cho toàn nhân loại, mãi cho đến tận cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Năm 1926, Gertrude Ederle trở thành phụ nữ đầu tiên bơi xuyên eo biển Manche, chỉ mất 14 tiếng 36 phút, nhanh hơn kỷ lục cũ khoảng 2 tiếng đồng hồ nhờ bơi sải. Nhờ vậy cả châu Âu mới sáng mắt ra mà bắt đầu tập bơi sải, trước đó họ cho rằng kiểu bơi này thô lỗ vì khuấy động nước quá nhiều so với bơi ếch. Có những người khi thua kém người khác thì không chịu nhận mà lấy hình thức và lễ nghĩa ra để bào chữa, thật đáng thẹn lắm thay.

[14] Tức là cầu Nguyễn Văn Trỗi, theo cách gọi cũ của dân địa phương.

[15] Điều này được các HLV bơi hiện đại dạy rất kỹ, tuy nhiên ông Tuấn đã tự học bơi sải bằng cách copy các VĐV Liên Xô mà không thông qua bất kỳ sự giúp đỡ hoặc chỉ dẫn trực tiếp nào từ bất kỳ ai.

[16] Đây hẳn là cá nhà táng, loài cá voi lớn nhất có răng, chuyên lặn sâu hàng nghìn mét để săn mực khổng lồ.

[17] Bơi 10km việt dã (open water) chỉ được đưa vào nội dung thi đấu của Olympic kể từ năm 2008.

[18] Đoàn bơi lội Việt Nam có tham dự Olympic 1980 nhưng ông Huỳnh Hải không góp mặt.

[19] Kỷ lục thế giới năm 2018 là 8,9km/h trên cự ly 50m.

Chấm sao chút:

Đã có 2 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

đã xuất bản 2 tiểu thuyết

Theo dõi Zzz Review năm bữa nửa tháng của chúng tôi

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: