HỘI THẢO ĐỌC LẠI “TRUYỆN KIỀU”

Lời nói đầu

Truyện Kiều – Lời hứa về sự phục hồi

Truyện Kiều là một phần thiết yếu của di sản văn hóa Việt Nam. Tác phẩm này nổi tiếng vì vẻ đẹp ngôn ngữ, cùng một loạt cảnh huống cùng cực trong đời sống, và sự cứu chuộc kì diệu đối với Kiều. Hai trăm năm sau khi tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên, những bản dịch đã lan truyền truyện thơ này rộng khắp. “Nàng Kiều” đã chinh phục vị thế của mình trên tủ sách của văn học thế giới. Tác phẩm thu hút ngay cả những độc giả không biết mấy về con người hay lịch sử Việt Nam.

Nếu một thủ thư định chọn một từ khóa cho truyện thơ này cho một danh mục của thư viện, anh ta không thể không ấn định từ khóa “buôn người”. Nhưng đối nghịch với những tác phẩm khác cùng chủ đề, Truyện Kiều đã thể hiện sự xuất sắc trong cách xử lý trọn vẹn và khéo léo chủ đề này.

Câu chuyện xuất phát từ một nguyên mẫu ở Trung Quốc cuối thế kỷ 16. Thậm chí trước đó, dòng tự sự ấy hẳn đã xuất hiện từ lâu, như một câu chuyện không hồi kết về sự đau khổ của những người phụ nữ bị người khác chà đạp. Nguyễn Du đã biến câu chuyện u sầu này thành một truyện thơ hiện đại về nỗi đau và niềm hy vọng.

Truyện Kiều là câu chuyện về một người phụ nữ mất đi địa vị và đặc quyền của một thành viên trong xã hội dưới những hoàn cảnh dị thường. Bất thình lình, cô nằm dưới quyền sinh quyền sát của bạo lực không bị kiểm soát, dưới sự thay đổi thất thường của hoàn cảnh bên ngoài, và âm mưu của những mạng lưới hiểm ác và những kẻ xấu xa. Điều này khiến cho câu truyện thành một bản cáo trạng về sự bất công của thế giới.

Truyện Kiều cũng là cuộc tìm kiếm tình yêu đích thực và một ý chí bất khuất để giành lại phẩm giá con người. Kết thúc truyện, Kiều đạt được điều này bằng cách chọn một cuộc sống khổ hạnh dành cho thơ ca và đàm luận, một quyết định thể hiện sự kiên cường của nàng vượt lên mọi thách thức và hoàn cảnh. Hai cốt truyện được đan xen một cách khéo léo nơi Kiều vừa bị đẩy tới tuyệt vọng vừa thu mình khỏi thứ định mệnh luôn lặp lại khi bị đối xử như một thứ hàng hóa từ chủ này tới chủ khác. Nàng tự tử. Sự kỳ diệu của câu chuyện, cũng chính là cái lý tưởng của tác phẩm nghệ thuật này, là ở chỗ nó đã đưa ra các phép biện chứng của việc vứt bản ngã đi mà lấy lại cuộc đời và nhân phẩm.

Vì thế, ngày nay khi đọc Truyện Kiều, ta bị thách thức phải đặt cho chính mình câu hỏi về sự quan yếu của nó đối với đời sống và môi trường xã hội của mình. Thúy Kiều liên hệ như thế nào đến cảm xúc, kinh nghiệm và khát vọng của nam giới và phụ nữ ngày nay? Và lịch sử cũng như bối cảnh xã hội và chính trị thay đổi tác động đến cách chúng ta đọc, hiểu, và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, cách ta thưởng thức hay chối bỏ Truyện Kiều như thế nào?

Trên đây là những câu hỏi thôi thúc các đạo diễn sân khấu tìm tòi những cách thức mới trình hiện Kiều trên sân khấu. Những câu hỏi này tạo nên một cơ sở chung cho cả độc giả quen thuộc với ngôn ngữ và văn hóa Việt cũng như những người đến từ bối cảnh văn hóa khác. Các câu hỏi này cung cấp bối cảnh cho những bài tiểu luận này, những bài viết khởi nguồn từ một cuộc hội thảo về Truyện Kiều vào mùa hè năm 2019.

Những bài tiểu luận này góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau về bối cảnh văn hóa và xã hội của một nhân vật nữ chính chống lại áp bức xã hội có hệ thống – một tình huống được mô tả đầy thi vị là nghiệp chướng. Những bài luận và phỏng vấn phản ánh một nỗ lực thành công của những trí thức tinh hoa để đọc lại, diễn giải lại di sản văn hóa với mong muốn kéo dài tính chân thiện mỹ của tác phẩm.

Hội thảo và sự chọn lọc các bài viết này sẽ không thể thực hiện được mà không có sự đóng góp miệt mài của Đỗ Tường Linh, đồng biên tập với Nguyễn Quyên.  Xin gửi tới cả hai lời cảm ơn sâu sắc và chân thành của tôi.

Ấn phẩm này bầy tỏ sự tôn kính tới cả đại thi hào Nguyễn Du và hai dịch giả đã dịch Truyện Kiều ra tiếng Đức là Irene và Franz Faber.

Wilfried Eckstein, Viện trưởng Viện Goethe tại Việt Nam

  

Mục lục

ĐỌC LẠI TRUYỆN KIỀUTrần Đình Sử

NGHIỆP HAY LÀ HÀNH ĐỘNG THEO NIỀM TIN VỀ SỰ KIỂM SOÁT TRONG CÁC TÌNH HUỐNG KHỦNG HOẢNG – MỘT CÁCH HIỂU KHI ĐỌC KIỀU – Đặng Hoàng Ngân

MINH HOẠ TRUYỆN KIỀU TRONG NGUYỄN DU VĂN HOẠ TẬP – Hoàng Minh Phúc

Đọc lại Truyện Kiều từ truyền thống văn hóa Việt Nam – Bùi Trân Phượng

TÌM HIỂU NGUYỄN DU VÀ SƯU TẦM TRUYỆN KIỀU ĐỂ HƯỚNG TỚI PHỤC NGUYÊN VĂN BẢN TRUYỆN KIỀU Nguyễn Khắc Bảo

TRUYỆN KIỀU: CUỘC HÀNH TRÌNH TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA – Vũ Đức Liêm

Self-portrait/Chân dung tự họa: Sự phân phối cảm quan nữ trong phim tài liệu sáng tạo Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ 21Ngô Thị Thanh

Sử dụng Kiều như một tấm gương giáo dục phụ nữ: Yêu nhau thế bằng mười phụ nhau? – Đinh Thị Nhung

 

Những người tham gia

 Nguyễn Khắc Bảo Phó chủ tịch hội Kiều Học Việt Nam, Ủy viên thường vụ BCH Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Bắc Ninh, Hội Viên Hội Đông Y Việt Nam, Hội Viên Hội Ngôn Ngữ Học Việt Nam, Hội Viên Hội Nhà Báo Việt Nam. Đến nay ông đã kì công sưu tập được 68 bản Kiều Nôm cổ, trong đó có 17 bản chép tay, còn lại 51 bản khắc in các lần khác nhau. Sau hai mươi năm bền bì khảo cứu Truyện Kiều, ông đã sửa 918 chữ ở 701 câu so với bản Kiều phổ biến nhất hiện nay của Đào Duy Anh (1979) và đề xuất một bản Kiều gần với nguyên tác nhất. Những kiến giải của ông đã được Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản thành sách vào tháng 8 năm 2009.

 

Vũ Đức Liêm Giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; hiện đang hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh ngành Lịch sử Đông Nam Á tại Đại học Hamburg (CHLB Đức), học bổng của Quỹ Trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD); giai đoạn 2010-2012, nhận học bổng của Quỹ Rockefeller cho chương trình Thạc sĩ Nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Chulalongkorn (Thái Lan), và thực tập sinh sau đại học tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Lĩnh vực nghiên cứu chính: Lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á sơ kì hiện đại, với các công trình được xuất bản trên tạp chí và sách biên tập như tạp chí Cross-Currents (Đại học California, Berkeley), và nhà xuất bản NIAS (Đan Mạch), BpB (CHLB Đức), và Manchester University Press (sắp in).

 

Đặng Hoàng Ngân nhà tâm lý, giảng viên tâm lý học chuyên ngành lâm sàng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Cô nghiên cứu và xuất bản các bài báo khoa học về những chủ đề: cảm nhận kiểm soát, cảm nhận hạnh phúc, Phật giáo trong sự giao thoa với khoa học tâm lý. Cô hợp tác với các chương trình về phát triển tâm lý trong y tế, giảng dạy tại Việt Nam do các tổ chức ADEPASE (Pháp), Santé Sans Frontière (Pháp), WBI (Bỉ) khởi xướng. Bên cạnh đó, cô hứng thú với việc thực hiện các bài viết phân tích về những tình huống xã hội thường ngày và về một số sản phẩm điện ảnh, văn chương dưới góc độ tâm lý học.

 

Đinh Thị Nhung đã tham gia vào chuỗi dự án “không thẳng” trong một thời gian dài ở Miến Điện, Serbia, Cambodia, Nga và Việt Nam từ năm 2014 đến đầu năm 2017. Tại Hà Nội, cô là một trong những trưởng giám tuyển và người tổ chức của triển lãm “Những ngăn tủ” về cuộc sống của những cộng đồng đồng tính Việt Nam. Cô là người sáng lập và giám tuyển của dự án Bàn Lộn – Vagina Talks – một dự án nghệ thuật và giáo dục cộng đồng. Nhung đồng tổ chức Festival Mãi Mãi Queer (QFF) 2013, QFF 2015 và chuỗi Chợ Queer tổ chức hàng tháng tại Nhà Sàn Collective từ tháng 3 đến tháng 6, năm 2017. Triển lãm gần nhất của Nhung mang tên “Lip Xinh” trong QFF 2017 tại Nhà Sàn Collective và Khách sạn Nấp ở TPHMC vào tháng 4 năm 2018. Hiện tại Nhung tập trung vào dự án phim cá nhân của cô liên quan đến kí ức, giới, bệnh tật, mất mát và một dự án nhiếp ảnh về những người đàn ông Việt khoả thân trong tự nhiên ở Bãi giữa Sông Hồng, Hà Nội.

 

Hoàng Minh Phúc tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Đồ Họa tại Đại Học Mỹ Thuật Việt Nam năm 2003 và Tiến sĩ Nghệ thuật học tại Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia năm 2012. Hoàng Minh Phúc hiện là giảng viên Trường Đại học Mỹ Thuật TPHCM và thực hành sáng tác tranh khắc gỗ. Chị đã nhận được nhiều giải thưởng về nghệ thuật và nghiên cứu trong nước. Một số công trình nghiên cứu đã xuất bản: Đô Thị Việt Nam từ những Mảnh Ghép Đa Chiều (NXB Thế giới, 2019) (đồng tác giả), Nghiên cứu mỹ thuật 2017-2018, Đồ Họa In Khắc Gỗ Hiện Đại Việt Nam (NXB Thế Giới, 2015) và nhiều bài báo nghiên cứu khoa học khác.

 

Bùi Trân Phượng là nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học Việt Nam, nguyên là hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Sen. Tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Lịch sử Đại học Paris I, Pháp (1972); tốt nghiệp Thạc sĩ tại Đại học Paris VII, Pháp (1994), Tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh Doanh UBI (2003) và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Đại học Lyon 2, Pháp (2008). Trong vai trò nghiên cứu khoa học, từ năm 1975 đến 1992, các công trình nghiên cứu của bà tập trung vào lịch sử cận hiện đại Việt Nam; từ 1992 đến nay, nghiên cứu lịch sử văn hóa và lịch sử phụ nữ Việt Nam. Đề tài luận án tiến sĩ của bà là: “Việt Nam 1920-1945, giới và hiện đại: sự trỗi dậy những nhận thức và trải nghiệm mới.” Những công trình nghiên cứu của bà luôn được các nhà khoa học quốc tế đánh giá là có cái mới về tri thức cũng như phương pháp.Trong vai trò hiệu trưởng của Trường Đại học Hoa Sen, bà đã vạch ra nhiều hướng đi đúng đắn để không ngừng phát triển nhà trường. Bùi Trân Phượng tập hợp được một tập thể sư phạm đa dạng từ nhà giáo, doanh nhân, đến giáo sư quốc tế, Việt kiều và những bạn trẻ vừa du học về… Là một người quan tâm đến cải cách giáo dục, TS Bùi Trân Phượng tham gia nhiều diễn đàn cũng như cho tổ chức nhiều chương trình giao lưu, tọa đàm giữa sinh viên với văn nghệ sĩ, trí thức tại Đại học Hoa Sen. Bà được trao tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh Hiệp sĩ do Tổng thống nước Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh cho những đóng góp trong việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Pháp và Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục năm 2014; Huân chương Quốc công bậc Hiệp sĩ, bởi những đóng góp của bà trong việc phát triển ngôn ngữ và văn hóa Pháp năm 2012 và Giải thưởng “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vì những hoạt động hiệu quả trong nhiều năm qua góp phần đổi mới giáo dục Đại học và Cao đẳng tại Việt Nam năm 2013.

 

Trần Đình Sử giáo sư, tiến sĩ lí luận văn học, Nhà giáo Nhân dân, giảng viên Đại học Sư phạm Vinh, Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại học khác ở Việt Nam. Ông là một trong những nhà lí luận văn học hàng đầu của Việt Nam và có nhiều đóng góp trong việc làm thay đổi diện mạo nền lí luận, phê bình văn học của Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI. Đóng góp lớn nhất trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của ông tập trung vào hai lĩnh vực chính là lí thuyết và nghiên cứu văn học Việt Nam.Trong đó ở mảng lí thuyết, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực thi pháp học và tự sự học. Một số công trình nghiên cứu đã xuất bản: Thời gian nghệ thuật trong “Truyện Kiều” và cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Du (1981), Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1982), Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Một số vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam (1998), Thi pháp Truyện Kiều (2002).

 

Ngô Thị Thanh sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Hoạt động chính mà cô theo đuổi dài lâu là viết lách, làm phim, nói năng về/cùng/với văn chương, nghệ thuật, điện ảnh. Hiện nay cô thực hành viết phê bình, giám tuyển cũng như làm phim độc lập. Mối quan tâm chính chủ yếu xoay quanh bình đẳng, thẩm mỹ, chính trị.

 

Bản quyền bản tiếng Việt © Viện Goethe và Các tác giả

Toàn bộ các bài viết có thể được download ở đây

viện gớt logo

 

 

 

 

 

 

 

 

Bạn nghĩ sao?