“Sci-fi đưa ra các khả thể tương lai”: Trò chuyện với Trần Tiễn Cao Đăng

(Bài viết thuộc Zzz Review số 7, 21-1-2020)

Trong danh sách dịch phẩm của Trần Tiễn Cao Đăng, bạn có thể thấy một phần quan trọng là sách khoa học viễn tưởng (sci-fi) hoặc họ hàng của nó: Xứ Cát của Frank Herbert, Mãi đừng xa tôi của Kazuo Ishiguro, Biên niên ký Chim vặn dây cót của Murakami Haruki, hay mới tái bản gần đây là Từ điển Khazar của Milorad Pavić. Đây không phải chuyện tình cờ nếu bạn biết anh vốn là một fan cứng của thể loại giả tưởng, và còn là tác giả cuốn tiểu thuyết Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian (2016) mang đầy đủ đặc trưng của dòng: dày, một bữa tiệc của trí tưởng tượng, và kén người đọc (uyển ngữ). Zzz Review đã có cuộc trò chuyện có phần lan man với người đọc-người dịch-người viết hiếm hoi trong thị trường sách vốn không mặn mà với sci-fi này.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Anh đọc và thích sci-fi từ bao giờ?

CAO ĐĂNG

Thời tôi còn trẻ, từ lúc phổ thông cho đến những năm đầu đại học, lúc đó thời bao cấp, văn chương khoa học giả tưởng được dịch rất nhiều. Phần lớn được dịch từ các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Hungary, Romania, tuy nhiên cũng có một số truyện của phương Tây, chủ yếu là Mỹ, được dịch qua tiếng Nga. Tác phẩm nước ngoài hồi đó phần lớn được dịch từ tiếng Nga chứ không phải tiếng Anh như bây giờ. Hồi đó, tôi mê khoa học giả tưởng qua những tập truyện ngắn dịch của nước ngoài, và tôi đích thực là fan của sci-fi.

Thời đó người ta đọc sách nhiều hơn bây giờ. Thời đó không có game, không có mạng xã hội nên phần lớn thời gian rảnh người ta không biết làm gì khác ngoài đọc sách. Trong số sách người ta đọc hồi ấy có khoa học giả tưởng. Niềm đam mê khoa học giả tưởng của tôi xuất phát từ thời đó. Có những truyện khoa học giả tưởng tôi đọc từ hồi đó nhưng đến bây giờ vẫn nhớ rất rõ, dù đã quên tên tác giả, vì nó đánh mạnh vào mình, nó khiến mình suy nghĩ một số điều sâu sắc về bản chất của thực tại.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nếu nói về những kiến giải sâu sắc về bản chất của thực tại thì có lẽ điện ảnh hay game cũng có thể làm được. Thời nay có thể số người đọc sách ít hơn, nhưng số người xem phim thì rất nhiều, bản thân anh cũng là một con nghiện phim sci-fi?

CAO ĐĂNG

Tôi đồng ý rằng một số phim sci-fi dựng từ tác phẩm văn học có thể nói là thành công hơn bản gốc. “Hay hơn” bản gốc hay không thì khó nói, vì điện ảnh và văn chương là hai thứ khác nhau. Nhưng tác phẩm điện ảnh thì gây tiếng vang lớn hơn. Hoặc nếu qua tay một đạo diễn lớn, bộ phim sẽ mang tầm triết lý cao hơn.

Một trong những nhân vật tôi quan tâm là Andrei Tarkovsky. Ông ấy không phải là đạo diễn chuyên về sci-fi. Phim ông ấy mang đậm tính triết lý và thơ. Triết lý và chất thơ, đó là hai đặc trưng lớn nhất của phim Tarkovsky. Thật ra Tarkovsky không làm nhiều phim. Cả đời ông chỉ làm tổng cộng bảy phim, song các phim đó đều là kiệt tác, ví dụ như Nostalghia. Phim tôi muốn nhắc đến ở đây là Solaris, một trong hai bộ phim khoa học giả tưởng của ông – phim thứ hai là Stalker. StalkerSolaris là hai bộ phim dựa trên văn chương khoa học giả tưởng, nhưng khó có thể nói đó là hai bộ phim khoa học giả tưởng. Tarkovsky chỉ mượn mô típ và bối cảnh của sci-fi để triển khai cách nhìn và cách nghĩ của riêng ông về thế giới.

Đằng Đẵng Quy Tiên - 5
Đạo diễn Andrei Tarkovsky

Một bộ phim sci-fi đỉnh cao khác mà không một fan cứng sci-fi nào không biết là 2001: A Space Odyssey của Stanley Kubrick. Ông cũng không phải là nhà làm phim sci-fi theo nghĩa hẹp. Sự nghiệp điện ảnh của ông rất đa dạng. Mỗi bộ phim của ông thuộc một thể loại khác nhau, và hầu như phim nào cũng là kiệt tác. Nếu nhắc đến phim kinh dị thì khó phim nào qua được The Shining. Nếu nói về phim lịch sử, Spartacus của ông là siêu phẩm. Ổng cũng là người đầu tiên dựng phim dựa trên tiểu thuyết Lolita, một kiệt tác điện ảnh khác. Hoặc một tác phẩm nữa cũng dựa trên tác phẩm văn học, A Clockwork Orange, một tuyệt tác của quái kiệt điện ảnh này. Nói vậy để biết rằng 2001: A Space Odyssey chỉ là một trong nhiều kiệt phẩm của Stanley Kubrick. Cũng như trường hợp của Tarkovsky, ông dựa vào chất liệu sci-fi và nâng tầm nó lên thành một bài thơ triết học.

Nếu đã xem 2001: A Space Odyssey, bạn sẽ thấy nó là một bộ phim rất lạ. Nó có vẻ bề ngoài rất khoa học, thực tế, lạnh lùng, nhưng tôi luôn cảm thấy có một bề ngầm triết lý rất sâu chảy phía dưới – khác hẳn các bộ phim sci-fi khác. Đã xem nhiều phim sci-fi, tôi có thể nói 2001: A Space Odyssey ở một đẳng cấp khác hẳn so với các siêu phẩm Hollywood có context sci-fi và mô típ sci-fi. Loại phim đó thì vô số, ví dụ như loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao hoặc Pacific Rim. Những phim kiểu này, nói thẳng ra, ở một tầm thấp hơn rất nhiều và không khiến đọng lại trong ta một chút gì. Nó tuyệt không “thought-provoking” theo cách nói của phương Tây. Xem xong Pacific Rim, bạn sẽ quên nó ngay lập tức, và có quên cũng chẳng làm sao cả.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Anh có thể nêu rõ thêm sự khác nhau giữa hai “đẳng cấp” đó nằm ở chỗ nào không?

CAO ĐĂNG

Khác biệt ở chỗ những bộ phim của Tarkovsky tôi vừa nhắc đến và 2001: A Space Odyssey không hề có người hùng nào, không hề có sứ mạng giải cứu thế giới nào. Không có cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, không có kẻ phản diện, không có âm mưu nào cả.

Khi xem 2001, tôi không bao giờ có thể quên trường đoạn cuối cùng. Tôi có cảm giác rằng từ đầu phim đến đoạn đó, Kubrick đã chơi hết cuộc chơi của mình rồi nhưng ông ấy chưa “đã”. Ông nhìn thấy được một điều gì đó về bản chất của thế giới nhưng vẫn chưa nói hết được. Đến đoạn cuối, ông quyết định tạo ra một chuỗi hình ảnh mang tính trừu tượng cao độ đến nỗi những người xem như mình tha hồ tưởng tượng, diễn giải kiểu gì cũng được. Trong khung cảnh một căn phòng hết sức siêu thực, có một ông già nằm trên giường, sau đó các vật trong phòng trải qua một số chuyển hóa, lúc thì chỗ này lúc ở chỗ khác. Cuối cùng thì chúng ta thấy cảnh một đứa bé sơ sinh, nhưng đứa bé sơ sinh đó lớn bằng cả bầu trời, cả không gian vũ trụ. Những hình ảnh như vậy tạo ra một cảm giác như điện giật mà người xem cảm nhận được tức khắc và không thể quên. Đó là dấu ấn của nghệ sĩ lớn. Chỉ một nghệ sĩ lớn mới có thể đưa cho ta những hình ảnh như vậy và khiến ta dù không hiểu vẫn thấy bứt rứt và ám ảnh. Ta có thể đưa ra lý giải cho những hình ảnh đó, một số lý giải nghe có vẻ có lý, nhưng ta phải hiểu rằng đó không phải là lý giải duy nhất. Tác giả cố tình để mở cho nhiều cách lý giải khác nhau, vậy không có lý gì ta đòi đóng hết lại.

Còn một bộ phim tương đối mới mà nhiều người đã xem là Arrival. Nó cũng có một bề dày triết lý nhất định. Tôi không chắc rằng người nào xem Arrival cũng hiểu được ẩn nghĩa của câu chuyện khi những người ở hành tinh khác nói rằng, trong ngôn ngữ của họ, tất cả mọi điều đều được nói ra cùng một lần. Ngôn ngữ của họ không được tổ chức theo cấu trúc tuyến tính gồm ba thành phần chính là chủ ngữ, động từ và vị ngữ như ngôn ngữ của chúng ta. Ở họ, tất cả mọi điều đều được nói ra một lần duy nhất. Ta có thể tạm hiểu rằng cách tư duy của họ, mô hình vận động thần kinh của họ là holistic. Của chúng ta là linear, là tuyến tính. Của họ là holistic [có thể tạm dịch là mang tính tổng thể, toàn thể – Zzz]. Từ sự khác nhau này của vận động thần kinh và mô thức tư duy mà sinh ra hai nền văn minh khác nhau về chất. Hẳn không phải người xem nào cũng hiểu được điều đó. Nhưng có một điều đáng tiếc cho Arrival là rốt cuộc phim cũng không thoát được công thức của Hollywood. Mục đích của nhà làm phim là tạo ra bom tấn, nên vẫn phải có một màn giải cứu thế giới, vẫn phải có một người Mỹ làm anh hùng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Như vậy trong điện ảnh, ta có thể tạm chia thành hai dòng phim sci-fi. Thứ nhất là dòng sci-fi có tính triết lý và nói đến những vấn đề trừu tượng, còn dòng kia thì dùng vỏ bọc sci-fi để kể về câu chuyện ngàn đời của Hollywood: một cuộc phiêu lưu, một vị anh hùng, và một sứ mệnh nào đó.

CAO ĐĂNG

Có thể nói như vậy, bởi vì rốt cuộc công thức của Hollywood là câu chuyện về người hùng và một sứ mệnh nào đó, hoặc cứu thế giới, hoặc cứu một thứ gì đó nhỏ hơn, nhưng nói chung luôn có một kẻ ác và một nhiệm vụ phải vượt qua. Đó là công thức của Hollywood, còn chuyện nó mượn sci-fi, fantasy, thriller, hay horror thì không quan trọng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trong sách cũng vậy, ngoài những sách sci-fi kinh điển triết lý của Philip K. Dick, của Arthur Clarke thì vẫn có những bộ sci-fi dài tập theo hướng phiêu lưu, cứu thế giới. Và nếu có các đạo diễn làm những phim mainstream là chính, chỉ thỉnh thoảng đá sang mảng sci-fi và để lại một số tác phẩm đỉnh cao, thì cũng có những nhà văn như vậy. Anh nghĩ sci-fi có ưu điểm gì so với các tác phẩm dòng chính khác, vì sao họ lại lựa chọn cách tiếp cận này?

CAO ĐĂNG

Một số nhà văn mainstream có cái hay là họ thường xuyên đi tìm cái mới và thử thách bản thân. Có nhà văn trước sau như một luôn luôn trung thành với chỉ một loại truyện và một phong cách, nhưng lại có người lại thích tự thử thách bản thân. Cho nên một số nhà văn mainstream thỉnh thoảng cho ra tác phẩm dùng mô típ trinh thám chẳng hạn, nhưng ta không thể đơn giản xếp tác phẩm của họ vào dòng văn trinh thám, vì tác phẩm của họ vẫn là mainstream, tuy rằng nó có gì đó vượt ra ngoài khuôn khổ mainstream thông thường. Ta có thể nhắc đến Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk. Cuốn này có mô típ trinh thám, nhưng nếu xếp nó vào kệ sách trinh thám thì sẽ có gì đó khiên cưỡng. Hoặc Paul Auster có New York Trilogy, một tác phẩm hậu hiện đại kinh điển. Trong tác phẩm này, nhà văn vận dụng mô típ trinh thám nhưng là để châm biếm nó. Anti-trinh thám nhưng sử dụng mô típ trinh thám. Sci-fi cũng vậy. Một số tác giả cảm thấy sci-fi là cần thiết đối với ý tưởng của họ vì nó giúp cho họ tạo ra một thế giới, tạo ra một tình huống dựa trên một tiền đề có vẻ khoa học.

Về những nhà văn mainstream mượn mô típ sci-fi, tôi có đọc một tác phẩm thuộc hàng kinh điển của văn học Mỹ Latinh, rất tiếc chưa có nhà xuất bản Việt Nam nào dịch. Đó là Phát minh của Morel, tác giả là Adolfo Bioy Casares, một nhà văn cùng thời và cũng là bạn thân của Borges. Trường hợp của ông khá thú vị. Ông viết cuốn này lúc còn rất trẻ, khi chỉ mới 26 tuổi, và cuốn sách ngay lập tức trở thành “quả bom”. Cuốn sách được công nhận là kiệt tác và được in đi in lại rất nhiều lần. Những tác phẩm sau này của ông ít được nhắc tới hơn, và rốt cuộc thì ông được lưu danh chủ yếu nhờ cuốn đó mà thôi.

Một điều thú vị là lúc đó Argentina không phải một nước công nghiệp phát triển nhưng một nhà văn từ đất nước ấy lại có một ý tưởng rất hay. Nhân vật chính là một anh thanh niên thông minh, tinh tế, nhạy cảm. Anh ta đang chạy trốn vì bị chính quyền truy nã, lạc vào một hòn đảo và gặp nhiều người, trong đó có người phụ nữ mà anh đem lòng yêu. Chỉ sau một thời gian, anh ta mới nhận ra rằng có gì đó không ổn trong thế giới này. Ban đầu thì anh ta không biết là cái gì, sau một thời gian dài quan sát chiêm nghiệm thì anh ta nhận ra rằng thế giới này không có thật. Tất cả những người anh ta gặp, tất cả những đồ vật, cây cối đều chỉ là ảnh chiếu ba chiều từ một cỗ máy – chỉ là một cuốn băng quay lại thực tại từ quá khứ và được tua đi tua lại không ngừng. Nó thật đến nỗi thức ăn cũng có mùi có vị, cây cối phát ra tiếng xào xạc khi gió thổi qua. Nhưng tất cả chỉ là giả. Người đàn bà anh say đắm cũng chỉ là một hình ảnh của cỗ máy mà thôi. Câu chuyện này vừa có tính sci-fi vừa nhuốm màu horror bởi vì phát hiện đó đến với anh ta như một cú sốc kinh hoàng khiến anh ta rùng mình.

Nó độc đáo ở chỗ là nó là một trường hợp điển hình của tác phẩm mainstream. Ta không thể nói nó là một tác phẩm sci-fi đơn thuần được vì nghệ thuật ngôn từ và phân tích tâm lý là của một tác phẩm mainstream điển hình, nhưng tiền đề của nó 100% là sci-fi. Nó cực kỳ clever và brilliant. Nhưng chất lượng văn chương của tác phẩm cao vô cùng. Nó là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy (high art) mà người ta không bao giờ xếp vào thể loại sci-fi.

Đằng Đẵng Quy Tiên - 4
Nhà văn Adolfo Bioy Casares, ảnh của Alicia D’Amico. Hình ảnh thuộc phạm vi công cộng

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ngược lại, sci-fi thì không thể xếp vào high art?

CAO ĐĂNG

Có một nếp nghĩ thâm căn cố đế không chỉ tồn tại ở người đọc bình thường, cũng không phải chỉ ở Việt Nam mà là trên khắp thế giới, ngay cả trong đầu những vị áo mão cân đai hay hàn lâm học thuật, mà mình nghĩ là sai lầm. Nhưng một điều buồn cười là nó vẫn cứ tồn tại như vậy. Đó là họ cứ phân biệt rằng maintream ở chiếu trên, kế đó là các genre fiction – horror, detective, fantasy, sci-fi, vân vân – thảy đều chiếu dưới. Đó chỉ là những thứ văn hạng nhì không bao giờ có thể xếp ngang hàng với văn hạng nhất. Mình nhớ đến một bài, không rõ là tiểu luận hay phỏng vấn, của Umberto Eco, trong đó ông hoàn toàn dismiss sci-fi và coi nó như là “crap”, tức là đánh giá rất thấp. Dĩ nhiên không phải chỉ mình ông ta như vậy. Nhìn vào những giải thưởng văn chương lớn, từ Nobel cho đến Booker cho đến Goncourt, Kafka và nhiều giải thưởng khác, ta sẽ thấy rằng gần như không bao giờ nó được trao cho một nhà văn genre fiction, trong đó có sci-fi. Có những giải thưởng dành riêng cho sci-fi như giải Hugo hay giải Nebula – ngoài đó ra thì không còn cách nào nhìn nhận đóng góp của các tác giả này.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Có thể là những tác giả sci-fi chưa viết đủ hay để giám khảo có thể trao giải cho cuốn đó ạ? Luôn luôn có một định kiến rằng văn sci-fi không hay, nhân vật thì một chiều, thậm chí còn bị giới hạn về mặt tư tưởng. Ví dụ như người ta thường nhắc đến vấn đề giới trong sci-fi, nếu là tác phẩm của đàn ông thì phụ nữ bị khắc họa rất mờ nhạt. Em thấy bản thân một số nhà văn sci-fi cũng có suy nghĩ này. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Lưu Từ Hân, tác giả bộ Tam Thể, đã nói rằng nhân vật trong sci-fi vốn dĩ là nhân vật một chiều, nhân vật chỉ để phục vụ cho câu chuyện nên tôi viết kiểu như vậy là bình thường. Theo anh nghĩ thì đây là định kiến của người trao giải, của giới hàn lâm đối với sci-fi hay đây chính là định kiến mà giới tác giả sci-fi tự tạo ra cho chính mình?

CAO ĐĂNG

Tôi nghĩ là cả hai. Trong câu chuyện này nguyên nhân sâu xa không đơn giản nằm ở một trong hai phía. Lúc nãy ta nói chuyện về phía kia, phía của người đánh giá và giới hàn lâm, họ cũng có những định kiến của riêng mình. Song những định kiến này không phải tự nhiên mà có. Bạn nói đúng: chính các tác giả sci-fi chịu một phần trách nhiệm trong cái thực tế rằng tác phẩm của họ về cơ bản chưa đủ tầm về mặt văn chương. Các nhà văn sci-fi chưa đủ nỗ lực hoặc chưa đủ tài năng để tự nâng tầm tác phẩm của mình về mặt nghệ thuật. Isaac Asimov và Arthur Clarke là hai nhà văn thường bị một số người chê. Tác phẩm của hai ông này có tính tưởng tượng rất phong phú, những câu hỏi họ đặt ra sâu sắc, nhưng văn họ chán. So ra thì Bradbury viết hay hơn nhiều. Philip K. Dick viết cũng hay.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Anh nhắc đến hai phía là nhà phê bình và nhà văn. Em nghĩ rằng còn tồn tại một góc thứ ba của tam giác nữa, là người đọc. Người đọc văn học viễn tưởng thường muốn tìm kiếm công thức kinh điển của Hollywood là giải cứu thế giới. Khi đọc sách, họ cũng chỉ kỳ vọng về những câu văn đơn giản, nhân vật dễ chịu. Khi đương đầu với những tác phẩm có chất văn chương hơn thì người ta lại không thấm được, và tự thân người đọc cũng loại tác phẩm đó ra khỏi thể loại văn học viễn tưởng. Theo anh thì có điều này không?

CAO ĐĂNG

Tôi nghĩ điều đó đúng một phần, nhưng nếu từ đó rút ra một kết luận khái quát thì e hơi vội vàng. Thế giới luôn luôn đa dạng. Có thể một bộ phận độc giả giống như bạn nói, họ thích văn chương đơn giản và hấp dẫn. Nhưng cũng có độc giả thích những tác phẩm sci-fi phức tạp hơn. Như tôi đã nói lúc nãy, mô típ người hùng, sứ mệnh và kẻ ác của Hollywood chỉ là một phần nhỏ của sci-fi. Sci-fi phong phú hơn vậy nhiều.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Với cuốn sách Life Navigator 25 của anh, em thấy người đọc có rất nhiều cách định loại khác nhau. Có sci-fi, có kỳ ảo (fantasy), có cả hiện thực huyền ảo… Như em đọc thì thấy gọi là một cuốn science fantasy thì đúng hơn. Bản thân anh đánh giá như thế nào về thể loại của tác phẩm của mình?

CAO ĐĂNG

“Science fantasy”, một danh xưng thú vị! Tuy nhiên, cá nhân tôi không nghĩ tác phẩm của mình là fantasy. Có chăng, bên cạnh bối cảnh sci-fi, mô-típ sci-fi, người đọc có thể gặp những yếu tố siêu thực – theo nghĩa giống như người ta thường nói về hội họa siêu thực. Bên cạnh đó, tôi không phản đối nếu cuốn tiểu thuyết được gọi là sci-fi – dù bản thân tôi không gọi như thế. Đó là bởi, nói về thiên hướng viết lách của mình, tôi có cảm giác rằng mình về cơ bản có thiên hướng duy lý. Mặc dù tôi thích tưởng tượng, mơ mộng đến những cõi phi thực, nhưng trong sâu xa thì tôi là người duy lý, nên không hợp với fantasy. Tôi không đọc nhiều fantasy. Bù lại tôi say mê đọc sci-fi. Nên cái tôi viết ra có tính sci-fi một cách tự nhiên.

NGƯỜI PHỎNG VẤN:

Vậy đây thuộc về số tác phẩm mainstream có sử dụng mô típ của sci-fi như ta đã bàn đến lúc đầu?

CAO ĐĂNG

Tôi không chủ định viết sci-fi, tuy nhiên, như đã nói, sci-fi là một phần của tôi, tư duy của tôi tự nó đi theo hướng đó. Life Navigator là một cuốn sách có mô típ và bối cảnh sci-fi. Nếu được yêu cầu miêu tả Life Navigator bằng một từ, tôi sẽ chọn từ dystopian (phản không tưởng). Một khi nó là dystopian novel, thì yếu tố sci-fi mặc nhiên phải có. Nó không phải là sci-fi thuần túy, nó chỉ sử dụng mô típ sci-fi để nói lên câu chuyện của nó. Tôi sử dụng mô típ sci-fi để đưa câu chuyện vào một thế giới khác, với những thực thể chỉ có ở thế giới đó mà thôi. Sci-fi có nghĩa là, tôi dựa trên tiền đề rằng những thứ này có thể có thật với điều kiện nền văn minh của loài người dựa trên khoa học kỹ thuật có thể tiến hóa đến mức đó.

Cao Đăng 7
Ảnh từ Facebook Nhã Nam.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Truyện của anh có những nét hao hao Murakami là tác giả anh từng dịch. Anh có nghĩ mình thích và học tập Murakami hay không?

CAO ĐĂNG

Nói đến Murakami thì phải nhắc đến Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và nơi tận cùng thế giới. Trong sự nghiệp của Murakami, chỉ riêng cuốn đó là sci-fi, một tưởng tượng rất xuất sắc. Trong một chương của cuốn này, ông giải thích rõ cơ chế tạo nên thế giới ảo của câu chuyện, với cả một sơ đồ các mạch nối. Rất nhiều tiểu thuyết của Murakami viết theo kiểu hai câu chuyện xen kẽ nhau; cuốn này cũng vậy. Một tuyến là chuyện trong thực tại, một tuyến kia là chuyện trong thế giới phi thực. Đọc đến nửa sau ta mới biết thế giới phi thực kia nằm trong đầu của nhân vật chính và nó đã được “cài đặt” sẵn. Đây là cuốn duy nhất cho đến nay mà Murakami bước sang địa phận của sci-fi và ông đã thành công mỹ mãn. Nhiều người cho rằng Biên niên ký chim vặn dây cót là cuốn xuất sắc nhất trong sự nghiệp của Murakami và tôi đồng ý như vậy, tuy nhiên Xứ sở diệu kỳ mới là cuốn mà tôi đã đọc với nhiều hứng thú hơn hết.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy khi viết, anh có nghĩ đến việc viết theo một truyền thống nào hay không? Chẳng hạn, khi nói đến sci-fi người ta thường nghĩ ngay đến bối cảnh Mỹ. Ngay cả Lưu Từ Hân, thì nhân vật xuất hiện trong truyện của ông ngoài người Trung Quốc thì vẫn là nhân vật người Mỹ, có thể có một chút Nhật, một chút Nga. Nhưng trong sách của anh thì các cường quốc văn hóa lại chiếm ưu thế hơn. Anh nhắc đến Granada (Tây Ban Nha), nhắc đến Mỹ Latinh, nhắc đến các nhạc sĩ, họa sĩ châu Âu, Nhật Bản… chứ không nói nhiều đến các cường quốc về kinh tế, kỹ thuật, quân sự, y tế. Anh có nghĩ mình viết theo truyền thống nào của mainstream hay sci-fi hay không, hay anh viết như một nhà văn cosmopolitan?

CAO ĐĂNG

Có lẽ tôi không nghĩ về việc gắn mình vào một truyền thống nào, vì như đã nói tôi không nghĩ về việc viết một cuốn sci-fi, mà chỉ nghĩ về việc viết một cuốn sách thôi. Mặt khác, các yếu tố văn hóa Tây Ban Nha, Nhật Bản… hiện diện trong tác phẩm là một điều tự nhiên, vì tâm hồn tôi đồng điệu với chúng. Trong khi đó, những “cường quốc” cùng với những của cải về kinh tế, quân sự… của chúng, tuy không được nhắc trực tiếp trong cuốn sách, tuy nhiên đây đó hẳn bạn vẫn có thể cảm thấy chúng, vì chúng luôn luôn có đó dù ta có quan tâm tới chúng hay không – chúng là cỗ máy cái xoay vần thế giới, như người ta nói. Thứ đang xoay vần thế giới không phải là cái đẹp hay sự thấu cảm mà là tiền, máy móc, quyền lực. Tiền, máy, quyền, hãy để cho người khác quan tâm. Tôi quan tâm tới cái đẹp và sự thấu cảm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Một câu hỏi có liên quan một chút: anh có nghĩ rằng identity của đất nước quyết định đến nhà văn khi lựa chọn thể loại khoa học viễn tưởng không? Ví dụ, hiện nay những tác phẩm khoa học viễn tưởng nổi tiếng nhất, cả sách và phim, thường đến từ Mỹ. Ngày trước ta được đọc tác phẩm sci-fi của Liên Xô. Bây giờ thì Trung Quốc bắt đầu nổi lên ở mảng ấy. Nhưng ở các nước nhỏ lẻ như chúng ta, liệu có khi nào nhà văn đủ tự tin đến mức lấy nhân vật và không gian của Việt Nam làm điểm xuất phát cho một câu chuyện viễn tưởng không? Khi ta đọc sách của Mỹ, nhất là ở thể loại giải cứu thế giới, ta sẽ luôn gặp một anh hùng Mỹ cứu thế giới. Khi đọc tác phẩm Trung Quốc thì ta lại thấy một người Trung Quốc cứu thế giới. Như vậy anh có nghĩ rằng mình có thể viết được một cuốn sách mà trong đó một nhà khoa học hoặc một nhân vật nào đó người Việt cứu thế giới trong một bối cảnh sci-fi hay không?

CAO ĐĂNG

Như tôi nói ban nãy, mô típ giải cứu thế giới chỉ là một phần nhỏ của sci-fi thôi. Không phải nhà văn sci-fi nào cũng viết về chuyện giải cứu thế giới. Tuy nhiên, identity cũng có thể đúng ở trường hợp này, tức là nếu anh sống tại một môi trường văn hóa, xã hội đặc thù của riêng một quốc gia, thì những thứ anh viết ra sẽ phản ánh những điều này. Anh không thể thoát khỏi nó được. Song, dù thế nào đi nữa, nhưng chúng ta phải thừa nhận thực tế là, về văn chương sci-fi, không ai qua được nước Mỹ. Cả Nhật Bản nữa. Có một cuốn của văn chương Nhật mà ai xem phim rồi sẽ thích. Đó là cuốn Nước Nhật Bản chìmJapan Sinks, Nihon chinbotsu, của Sakyo Komatsu, là tác giả truyện “Cái chết của Bikuni” mà tôi từng dịch. Tác giả tưởng tượng có một thảm họa địa chất lớn đến mức làm cho cả Nhật Bản chìm xuống biển. Một mặt ta có thể xếp cuốn này vào thể loại alternate history, nhưng mặt khác nó là hard sci-fi. Tác giả đưa ra những luận cứ địa chất học để biện luận rất kỹ vì sao có thể xảy ra một thảm họa nhấn chìm cả nước Nhật Bản, mặc dù trên thực tế các nhà khoa học khẳng định rằng chuyện đó khó thành sự thật được.

Đằng Đẵng Quy Tiên - 3
Tác giả Sakyo Komatsu

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Khi nhắc đến hard sci-fi, chúng ta thường nghĩ đến khoa học vật lý, khoa học chế tạo… nhưng thường quên mất rằng có những ngành khoa học khác như khoa học trái đất hay sinh học cũng quan trọng không kém.

CAO ĐĂNG

Đúng vậy. Sci-fi có rất nhiều subgenre. Vũ trụ chỉ là một trong số đó. Còn có cả sci-fi về sinh học, trái đất, alien… Nhật Bản chìm có thể là một cuốn sách không thành công lắm nếu như bạn muốn tìm trong đó một cốt chuyện hấp dẫn xoay quanh một số nhân vật đặc sắc, với tính cách riêng, trọn vẹn, đa chiều, mỗi người một số phận riêng, được đẩy đến cùng. Trong cuốn này hầu hết các nhân vật đều đơn điệu, đơn diện, tính cách không phát triển, không có số phận riêng – trừ vài ngoại lệ như Onodera, giáo sư Tadokoro…, tuy nhiên những ngoại lệ đó không cứu được điểm yếu này như một tổng thể. Cái làm cho nó đáng đọc là câu hỏi lớn của nó – câu hỏi đủ lớn để khiến tác giả phải dồn hầu hết tâm trí và năng lượng vào và, do vậy, không thể chu toàn được khía cạnh “thuần túy tiểu thuyết”.

Câu hỏi lớn này không phải là “Liệu một tai họa khiến cả nước Nhật chìm xuống biển có thể xảy ra trong thực tế hay không – nếu có, thì với xác suất bao nhiêu phần trăm?” Câu hỏi lớn là: Nếu một thảm họa như vậy xảy ra thật, thì thế giới sẽ làm gì khi bị đặt trước bài toán khó giải là phải cứu cho được hơn trăm triệu người Nhật mà từ nay vĩnh viễn mất tổ quốc? Và: nếu anh là một người Nhật, thì anh sẽ làm gì? Liệu anh nên hộc tốc lên con tàu đầu tiên vớ được, chạy đến một nước bất kỳ nào đó, nước nào cũng được miễn là một mảnh đất mà từ nay có thể sẽ là quê nhà của anh dù anh muốn hay không, hay là, giống như một số người đã làm, là ở lại chết cùng nước Nhật, như chết cùng Mẹ, chết cùng Người Yêu Lớn Nhất của mình, bởi Người mà không còn thì người Nhật – người Nhật đúng nghĩa – cũng không còn?

Đó rồi sẽ là câu hỏi còn lớn hơn khi mà, một lúc nào đó, bản thân Trái Đất này không còn là một nơi thích hợp cho sự sống – vì sự tham lam và vô đạo của loài người – thì, các chính phủ, các nhà đại tư bản, các tài phiệt, những người thực sự nắm quyền lực cao nhất, họ sẽ làm gì? Và con người, từng cá nhân một, sẽ làm gì?

Nói thêm là Nhật Bản rất mạnh về sci-fi nhưng chúng ta ít biết đến nó vì chưa nhiều tác phẩm được dịch, ý tôi là dịch ra tiếng Anh. Tôi đoán lý do là vì bản thân văn chương sci-fi Mỹ quá nhiều và quá phong phú nên độc giả Mỹ chỉ cần đọc hàng nội địa là quá đủ rồi, họ không có nhu cầu đọc văn sci-fi của nước khác. Lúc nãy bạn có nhắc tới Liên Xô, đây cũng là một nước có nền văn học giả tưởng tương đối mạnh. Sci-fi phải dựa trên một nền tảng công nghiệp, khoa học kỹ thuật, công nghệ tương đối cao, và Liên Xô (cũ) là như thế ở một mức độ nào đó. Ở mức độ đó thì mối quan tâm đến sci-fi là điều hoàn toàn tự nhiên. Còn văn chương sci-fi ở các nước khác thì thú thật tôi không biết nhiều lắm.

Một trường hợp ngoại lệ là Stanisław Lem, nhà văn Ba Lan. Một ngoại lệ hiếm hoi: nhà văn sci-fi không viết bằng tiếng Anh nhưng được biết đến rộng rãi ở các nước Anh Mỹ. Có một cuốn mà tôi chưa đọc nhưng đã tìm hiểu kỹ về nó, có tên tiếng Anh là His Master’s Voice, có thể tạm dịch là “Tiếng của Người”, với chữ Người viết hoa. Ổng tưởng tượng rằng một lúc nào đó trong tương lai, loài người nhận được những thông điệp không thể giải mã được từ ngoài không gian. Có những dấu hiệu cho thấy rằng những tín hiệu này là giọng nói của một thực thể có ý thức được truyền tới loài người vì một mục đích nào đó, chứ không phải nhiễu âm nào cả. Nhưng vấn đề là loài người không lý giải được nó – biết bao nhiêu trí tuệ của các chuyên gia loài người hợp sức nhưng vẫn không diễn giải được nó. Sau đó một số nhân vật đưa đến một câu hỏi rằng phải chăng việc chúng ta không nghe được “giọng của Người” chính là thông điệp mà một Đấng nào đó gửi đến chúng ta? Nó nói đến giới hạn của trí tuệ con người.

Nói đến đây tôi nhớ đến một cuốn sách của NXB Tri Thức là Điều bất khả, một cuốn sách mà chúng ta dù thích sci-fi hay không thì cũng nên đọc. Nhan đề chính của nó là “Điều bất khả” (Impossibility), nhưng còn có một tiêu đề phụ mà đọc qua là biết nó nói về cái gì. Đó là: “Giới hạn của khoa học và Khoa học của giới hạn.” Có lẽ nên dịch là “Giới hạn về khoa học và Khoa học về giới hạn”. Nói cách khác, cuốn sách bàn về câu hỏi mà tôi vừa đề cập: Liệu có một giới hạn cho tri thức loài người hay không? Nói cách khác, liệu có một điểm giới hạn nào đó mà khi loài người đạt đến rồi thì sẽ không thể biết thêm gì khác nữa không? Đó là một trong những câu hỏi lớn mà Stanisław Lem đặt ra.

Bên cạnh đó, Stanisław Lem rất có tài. Trí tưởng tượng của ông là vô hạn và đồng thời ông có phong cách rất đa dạng. Nếu đã đọc Solaris, bạn hẳn sẽ biết rằng văn phong Solaris là tĩnh: ngắn gọn, súc tích, trầm buồn. Song ở những cuốn như Nhật ký Vũ trụ của Ion Lặng Lẽ hoặc cuốn tôi đang đọc là Cyberiad, thì ông lại thể hiện một văn phong rất hoạt, trào lộng, cười nôn ruột. Ion Lặng Lẽ là một nhân vật trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm. Trong thế giới vũ trụ tưởng tượng của ông có một chàng phi công đi khắp các vũ trụ khác nhau, trải qua không biết bao nhiêu là hành tinh trong không biết bao nhiêu chuyện cười ra nước mắt.

Phải nói rằng Lem là một phù thủy về phong cách. Ông không chỉ có những ý tưởng thâm sâu mà còn là một nhà văn đại tài. Đơn giản là một văn tài lớn.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Trong cuốn Life Navigator 25 của anh cũng có các nhân vật kiêm người kể chuyện mang những identity khác nhau, thuộc đủ quốc tịch, thời đại, giới tính, xuất thân và dạng tồn tại khác nhau. Khi viết cuốn này từ nhiều điểm nhìn như vậy, anh có ưu tiên điểm nhìn nào như là con người bí mật của anh không? Em nhớ trong sách có một chi tiết rất ấn tượng là cô gái nhân vật chính khi bình thường thì nói bằng giọng Sài Gòn, nhưng cô ấy dành giọng Huế để nói với một nhân vật bí mật, cho mình anh ta thấy bộ mặt thật của cô ấy, con người thật của cô ấy. Đó có phải là tâm sự riêng của anh hay không?

CAO ĐĂNG

Nói về chuyện sử dụng ngôn ngữ thì đúng là tôi đã đưa một phần của bản thân mình vào đó, vì tôi là người gốc Huế. Tôi chỉ nói giọng Huế với người ở trong gia đình thôi, lúc ra ngoài thì không. Một điều thú vị là khi tôi về Huế, thành phố quê hương của mình, xung quanh mọi người đều nói giọng Huế nhưng khi bản thân mình bật lời ra thì nói giọng Nam. Tôi có cảm giác nếu mình nói giọng Huế với họ thì có gì đó không tự nhiên. Qua đó tôi thấy một điều rất thú vị: giọng nói của mình là một trong những yếu tố khẳng định identity của mình. Tuy tôi nói giọng Huế ở nhà nhưng trong thâm tâm mình là “dân Sài Gòn”. Nếu nói giọng Huế với người Huế thì có cảm giác như mình đang mạo danh, đang giả vờ vậy.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy quyển này được độc giả tiếp nhận như thế nào ạ?

CAO ĐĂNG

Nói chung là ít người đọc hết được. Tôi thừa nhận một phần nó khó là do mình, mình chưa thật sự thành công trong việc tổ chức cấu trúc. Nếu có dịp tái bản, tôi sẽ sửa nó lại để nó dễ tiếp nhận hơn. Nhưng một số ít người đọc hết và hiểu được nó lại rất thích. Một điều thú vị là khi tôi đưa nó cho những người cùng thế hệ hoặc trẻ hơn một chút thì các bạn ấy đều cảm thấy đọc khó khăn, song những người trẻ hơn mình nhiều lại đọc được. Chẳng hạn, tôi có một cô bạn kém tôi 2, 3 tuổi đem một phần cuốn sách về cho cô con gái học cấp III đọc, sau đó cổ hỏi con là có thấy khó khi đọc cuốn này hay không. Cô bé trả lời là không, đâu có khó gì đâu. Do vậy tôi thấy rằng, nói thì nghe hơi to tát, nhưng cuốn sách này là dành cho tương lai. Tôi không nghĩ và không chờ đợi thế hệ người đọc bây giờ tiếp cận được nó. Nếu nó có cơ hội tái bản hoặc vẫn còn trên kệ sách thì một lúc nào đó nó sẽ được khơi lại để thế hệ trẻ hơn chú ý đến.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ngoài tác phẩm cụ thể của mình, theo quan sát và tiếp xúc trực tiếp của anh thì anh nghĩ Việt Nam có độc giả sci-fi không?

CAO ĐĂNG

Thật sự là tôi hơi bi quan bởi vì theo tôi biết sách sci-fi của Nhã Nam không bán được hoặc bán rất chậm. Độc giả Việt Nam không mấy quan tâm đến sci-fi, đặc biệt là thế hệ bây giờ. Đó là một điều đáng tiếc. Nhưng biết đâu đó chỉ là thế hệ bây giờ mà thôi. Thế hệ 8x, 9x thì thôi không tính, nhưng thế hệ 0x, khi lớn lên, hẳn họ sẽ quan tâm đến sci-fi.

Thời bao cấp, lúc tôi còn trẻ, sci-fi có người đọc, nhờ ảnh hưởng của Liên Xô. Tôi nghĩ rất đáng tiếc cho thế hệ độc giả bây giờ nếu họ không có niềm ham thích với sci-fi giống như thế hệ tôi hồi đó. Xã hội ngày càng phát triển về công nghệ thì đáng lẽ ra sự quan tâm về sci-fi, về tương lai phải càng sâu sắc hơn mới đúng.

Nhưng có lẽ ở thời đại bây giờ, những mối quan tâm của con người nói chung và giới trẻ nói riêng ngày càng bị ảnh hưởng bởi câu chuyện về môi trường, câu chuyện về tận thế. Cái đó ngày càng trở nên thực tế hơn, chứ không còn là những tưởng tượng về tương lai dựa trên công nghệ nữa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cùng đề tài này, ngày xưa em cũng có đọc một chút sci-fi Liên Xô. Có cảm giác truyện sci-fi Liên Xô hay những truyện sci-fi người ta đưa về Việt Nam mà em đọc được thường có một mức độ lạc quan nhất định, có tính nhân văn hơn, hoặc nó thiên về những kiểu truyện slice of life nhiều hơn là những câu chuyện có quy mô hành tinh hay quy mô nhân loại. Đến bây giờ thì những câu chuyện phiêu lưu hành tinh và viễn cảnh tận thế tràn ngập các tác phẩm lớn nhỏ. Phim thì mình không nhắc đến nữa, vì nó thành hẳn cả một thể loại, và có lẽ cũng dùng bối cảnh đó nhằm mục đích thúc đẩy câu chuyện gay cấn nhiều hơn là vẽ ra bức tranh thế giới. Nhưng sách thì từ những bộ cách đây chừng 40 năm như Bí kíp quá giang vào Ngân Hà cho đến những bộ gần đây như Tam Thể khi tới cuốn cuối đều dẫn về tận thế. Dường như càng suy nghĩ nhiều về vũ trụ, về nhân loại thì nhà văn càng tin chắc về chuyện ngày tận thế sẽ xảy ra chứ không còn coi đó chỉ là một trong những tương lai khả dĩ nữa. Bản thân tác phẩm của anh cũng đi theo con đường ấy, theo anh thì đấy là do thực trạng của thế giới hiện nay tồi tệ như vậy, hay là do con người ngày nay bi quan hơn ngày xưa?

CAO ĐĂNG

Ai khác tôi không biết, tôi thì tin rằng đó là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Điều này không phải một mình tôi nói. Khá nhiều người nói rồi. Có nhiều dấu hiệu cho thấy tận thế đang là một thực tế, chứ không phải chỉ là một khả năng hay một điều tưởng tượng.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Và là một điều đang diễn ra?

CAO ĐĂNG

Đang diễn ra. Dĩ nhiên bây giờ chưa thực sự là tận thế, song những bước khởi đầu thì đã có rồi. Chẳng hạn như chuyện băng tan, chúng ta đang chứng kiến rồi. Chúng ta biết rằng đến một năm nào đó trong tương lai, bao nhiêu phần của đất liền có thể sẽ bị nuốt chửng. Đầu tiên là những đảo quốc, rồi sẽ đến các thành phố ven biển, kể cả Sài Gòn, sẽ biến mất. Chuyện đó nói bây giờ có vẻ là xa xôi, nhưng thực ra đâu có xa. Có thể là năm 2050, hoặc muộn hơn chút ít. Có lẽ bạn và tôi sẽ không sống đến lúc đó, nhưng con cháu chúng ta thì có.

Cảm quan tận thế càng ngày càng rõ rệt – chúng ta ngày càng cảm thấy đó không phải là chuyện có thể tránh được. Bởi vì mỗi lần họp Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về chống biến đổi khí hậu, có một cảnh cứ lặp đi lặp lại không ngừng là các nước cứ cãi nhau, nước này đòi nước kia phải giảm xả khí thải nhiều hơn thay vì đồng lòng thống nhất một biện pháp thiết thực và cụ thể và thực hiện nó ngay không chậm trễ. Mà đó là những đại diện cho bộ phận quyền lực nhất của các quốc gia đấy! Những người dân thường, những người thấp cổ bé họng, như chúng ta, thì làm được gì? Ví như Trump Tổng thống Mỹ, ông ta có khẩu hiệu American above all. Nước Mỹ trên hết. Không chỉ nói suông, ông ta có những hành động cụ thể, như rút khỏi Hiệp định khí hậu, vì nó không đem lại lợi ích gì cho nước Mỹ. Chừng nào thế giới vẫn nằm trong tay toàn những lãnh đạo như vậy, chúng ta sẽ đi về đâu? Trong khi những người thiết tha kêu gọi, hãy cứu thế giới đều không phải là những người quyền lực. Các nhà hoạt động môi trường, nhà văn, trí thức, sinh viên… họ không phải người có quyền lực. Tổ chức Hòa bình xanh không phải là một tổ chức quyền lực.

Trở lại với việc đọc văn chương sci-fi Liên Xô chẳng hạn, có một tác phẩm đến bây giờ có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ, đặc biệt thế hệ của tôi, đó là tiểu thuyết Tinh vân tiên nữ. Một tác phẩm viết rất hay. Điều đáng tiếc là nó hoàn toàn không tưởng. Nó vẽ ra một thế giới điền viên, một tương lai tươi sáng của nhân loại khi chủ nghĩa cộng sản toàn thắng trên khắp thế giới. Nói gọn lại, nó là Utopia. Nếu bây giờ mà có đọc, thì đọc cho vui thôi. Thời đó, cái thời vẫn còn Liên bang Xô viết, chưa có Cách mạng Xanh, Cách mạng Hồng các kiểu thì đọc vẫn còn thấy hay, bây giờ chỉ thấy buồn cười. Tôi nghĩ, cái dự cảm về tận thế là điểm khác biệt căn bản giữa sci-fi thời kỳ này với sci-fi thời kỳ trước. Thời trước, đã có lúc con người tin rằng, khoa học có thể đưa con người đến với hạnh phúc. Bây giờ, về cơ bản, người ta không tin như vậy nữa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Vậy sống trong cái viễn kiến về tận thế thì có gì để cho chúng ta lạc quan không? Khi em đọc Life Navigator 25 của anh, em có cảm giác, anh tôn nghệ thuật, tôn giáo, hay tình yêu lên để cho sự tồn tại này vẫn có một ý nghĩa đẹp nào đấy, bất chấp tận thế đang đến gần.

CAO ĐĂNG

Phải. “Cái đẹp cứu thế giới”, cho dù chỉ cứu được một phần nhỏ của thế giới thôi, trước hết là cứu tâm hồn của bản thân tác giả và số ít những người đồng cảm với tác giả. Mặt khác, có một cánh cửa nhỏ, thậm chí rất nhỏ, để có thể cứu nhân loại. Nhưng chỉ một phần rất nhỏ của nhân loại thôi. Đó là khi khoa học công nghệ phát triển đủ, thì có thể đưa một bộ phận nhỏ loài người di cư sang nơi khác. Cứu toàn bộ nhân loại, đám đông khổng lồ chục tỉ người, là việc vô phương. Không ai có thể cứu chục tỉ người, khi tận thế đến. Nhưng cứu một số nhỏ thì được. Tất nhiên đây là một nhóm những người đặc tuyển, giàu có nhất – chỉ những người giàu có nhất thì mới mua được vé lên những chiếc tàu ấy. Nhưng mà, cứu được một số nhỏ còn hơn không cứu được ai cả.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nếu là em nhìn thấy những người đặc tuyển kia ra đi, em sẽ không nghĩ là họ ra đi cho mình, mà em sẽ nghĩ là, họ ra đi thay vào chỗ mình, họ đi chứ không phải mình được đi… Thế thì em muốn hỏi, đối với bộ phận còn lại như em, những người ở lại có thể làm gì, có thể nghĩ gì để cảm giác rằng, tận thế đến không quá vô nghĩa.

CAO ĐĂNG

Đây là câu hỏi triết học lớn đó. (cười) Chúng ta chỉ có cách là, sống trọn vẹn chừng nào mình còn được sống. Cứ tưởng tượng như mình đang mắc bệnh ung thư đi. Bạn và tôi có một cái may mắn là, có lẽ chúng ta sẽ không tận mắt thấy tận thế đâu. Nhưng con cháu chúng ta sẽ nếm mùi tận thế. Biết làm sao được? Nếu anh biết trước ngày chết của mình, thì cũng giống như anh bị mắc bệnh ung thư thôi. Mình sẽ biết rằng thời gian còn lại để cho ta sống là có hạn. Đã vậy, mình sẽ cố gắng sống sao cho trọn vẹn nhất những ngày tháng còn lại. Khi phải chết, thì chết – nếu không tránh được nó thì mình phải đối diện với nó.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Nếu em chết vì ung thư mà em biết được là, con em, cháu em vẫn còn sống, mọi người vẫn còn sống, thì em có thể đồng hóa với họ, có thể có cảm giác “mình” vẫn còn tồn tại ở một dạng khác, em có thể yên tâm khi em chết vì ung thư. Còn nếu như em biết được dòng họ của em, bạn bè em, đất nước em, loài người này sẽ không có một tương lai nào cả, thì đó là một cảm giác tận thế có thực và nó to lớn hơn rất nhiều. Vậy thì có hy vọng nào cho những người ở lại như em?

Quyển sách của anh có đề cập đến một hướng khả thi, khi cô gái nhân vật chính được người tình là Life Navigator hứa đưa đi tới một không gian khác. Nhưng cô đã từ chối và chọn ở lại Trái đất sống như một con người, theo cách cô ấy muốn chứ không phải theo định nghĩa của anh kia. Liệu đấy có phải là một cử chỉ khẳng định giá trị của tồn tại con người, một kiểu hy vọng nào đó dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi hay không?

CAO ĐĂNG

Tôi nghĩ, cái gọi là “hy vọng” có hay không là do mình tự tạo ra. Nó có hay không là tùy ở ta, tùy ở việc ta có tạo ra cơ sở hợp lý làm nền cho hy vọng đó hay không.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Từ bên ngoài nhìn vào thì em coi quyết định của cô ấy là một điều tốt.

CAO ĐĂNG

Tôi nghĩ, quyết định đúng hay sai là do nhân vật. Chúng ta là người ngoài, với tư cách người quan sát chúng ta có quyền có cách nghĩ của riêng mình, nhưng, thật ra, trong trường hợp này thì chuyện ai đúng ai sai, không có ai có tư cách để phán xét. Ta có thể ra quyết định khác nhưng điều đó không có nghĩa là ta đúng hơn cô ấy. Trong trường hợp này, chúng ta không nên nói đến chữ “hy vọng”, vì hy vọng nghĩa là hướng đến một thứ gì đó ở bên ngoài và chưa có. Trong câu chuyện của chúng ta đây, cái quan trọng là thái độ. Thái độ đúng sẽ giải quyết được vấn đề. Thái độ đúng để đối mặt với thực tại. Trong trường hợp này, không hy vọng gì cả là tốt nhất.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ở cuối sách có dẫn ra một loạt câu chuyện di dân khác nhau. Em có cảm giác là nếu nhìn theo tiêu chuẩn đạo đức thông thường của thời đại chúng ta thì những người sống sót đều thuộc loại người khá đáng ghét, thậm chí, qua cách cư xử, vài người trong số họ có thể xếp vào hạng người xấu. Còn những người bị tiêu biến đi hoặc chấp nhận ở lại, những người yếu ớt hơn theo một nghĩa nào đó, thì lại đẹp đẽ hơn hoặc dễ gây thiện cảm hơn. Đó có phải chủ định của anh không, hay anh chỉ nghĩ là cuộc đời là như thế, sự tồn tại nó phải như thế? Nếu chúng ta thấy thực tế là những thành phần đặc tuyển của nhân loại, những người tiếp tục đại diện cho nhân loại từ đây về sau, là những thành phần không được đáng yêu cho lắm xét theo quan điểm của chúng ta hiện nay?

CAO ĐĂNG

Sở dĩ tôi viết những phần tạm gọi là Phụ lục: Chuyện di dân, là bởi tôi cảm thấy chúng ta không chỉ thể đứng về một bên. Đúng như bạn nói, nếu từ đầu đến cuối chúng ta tự đồng hóa mình với bên thua thiệt, những người phải ở lại Trái đất để chết, thì hóa ra những người thoát được là đại diện cho cái xấu sao? Thật ra không phải như vậy. Những người thoát được kia giàu có và quyền lực, đó là chuyện của họ. Nếu “nghèo không phải một cái tội” thì, từ phía ngược lại, “giàu cũng không phải là cái tội”. Điều quan trọng không phải là ai nghèo ai giàu. Điều quan trọng là, nếu như số đông còn ở lại tiêu vong hết cả, thì thiểu số rất nhỏ sống sót đó, họ vẫn là loài người, vẫn là tương lai nhân loại. Chúng ta không nằm trong số ít ấy, đó không phải lý do để chúng ta căm ghét họ. Do đó ở phần Phụ lục của tiểu thuyết, một số câu chuyện về di dân được kể từ góc độ những đại diện của những tầng lớp ưu tú, họ thoát khỏi Trái đất và tiếp tục tồn tại, và phát triển một nền văn minh khác, một nền tảng khoa học công nghệ khác cao hơn rất nhiều, với những phát minh mà loài người hiện tại không biết đến. Ví dụ như ở chương “Mái tóc, Lá cờ”, ta sẽ thấy rằng ở thế giới đó con người không còn chỉ mang dạng thức con người mà thôi; họ có thể biến thành bất kỳ thứ gì nếu muốn. Họ chỉ cần chuyển ý thức của mình sang vật thể khác và thế là họ mặc nhiên sống trong vật thể đó, trở thành vật thể đó. Trong văn chương sci-fi thế giới, ý tưởng này không có gì mới, chỉ là tôi đưa nó vào tác phẩm bởi nó phù hợp. Trong những chương đó, tôi thử đặt bản thân vào vị thế của những người thắng cuộc kia. Họ cũng là con người mà, và không có lý do gì để họ bị toàn thể loài người còn lại căm ghét chỉ vì họ có may mắn sống sót. Họ chính là tương lai của loài người.

Xin nói thêm là khi tôi gửi bản thảo cuốn sách đến một số nhà xuất bản, thì có một nơi đề nghị cắt hết phần “Phụ lục: Tự sự của các di dân”. Tôi không đồng ý, vì tôi nghĩ họ không hiểu dụng ý của phần này. Có thể tôi sẽ viết tiếp, triển khai một vài câu chuyện của các di dân trong những cuốn khác.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Cám ơn anh. Đối với em thì phần Phụ lục là phần để lại nhiều suy nghĩ nhất sau khi đọc sách.

Mình đã nói nhiều về lý do vì sao một số tác giả lựa chọn thể loại sci-fi. Thế còn với người đọc? Có một câu hỏi mà người đọc hay đặt ra: tại sao phải đọc sci-fi trong khi xung quanh còn có nhiều sách dễ tiếp cận hơn hoặc hay hơn? Sách Nobel chúng tôi còn chưa đọc hết thì đọc sci-fi để làm gì?

CAO ĐĂNG

Tôi có cảm giác rằng những người đặt ra câu hỏi đó, bản thân họ không đọc và không viết sci-fi. Câu hỏi đó không khác mấy với câu hỏi: tại sao thời này khi chúng ta có biết bao nhiêu mối quan tâm khác lớn hơn và những thú giải trí khác như điện ảnh, vẫn có người ngồi cày sách? Đọc sci-fi là cách rất tốt để phát huy trí tưởng tượng. Nhưng khác với những thể loại khác như fantasy chẳng hạn, với sci-fi, ta phát triển trí tưởng tượng dựa trên kiến thức khoa học. Điều quan trọng hơn là, thông qua tưởng tượng đó, chúng ta suy nghĩ về các vấn đề sâu sắc hơn về thế giới và con người.

Có những câu chuyện mà phải dựa trên nền tảng khoa học thì mới xây dựng được. Ví dụ như một thế giới, một biến cố, một phát minh, một vật thể, một cuộc gặp gỡ, xung đột nào đó dựa trên khoa học – tôi nhấn mạnh là khoa học. Nếu ta viết câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa con người với người hành tinh khác, thì câu chuyện đó hoàn toàn khác với câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa nhân vật chính và thiên thần. Ta hãy lấy tiền đề rằng nhân vật đó là người sống ở thời đại ngày nay, như bạn chẳng hạn. Bạn gặp một người và sau này biết được đó là người hành tinh khác. Câu chuyện thứ hai là bạn gặp một người và sau này biết được đó là thiên thần. Ta sẽ thấy hai câu chuyện này ở hai cảnh giới hoàn toàn khác nhau. Một cái nằm trong biên cương khoa học, vì ta có thể hình dung được alien là người đến từ một hành tinh khác có thể có thật, một hành tinh quay quanh vì sao nào đó trong vũ trụ mà loài người chưa có phương tiện phù hợp để tới được, nhưng loài sinh vật kia thì có đủ trình độ công nghệ để đến được đây – bằng tàu di chuyển với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng, hoặc có thể đến đây tức thời, ví dụ thông qua vũ trụ gập, lỗ sâu, thậm chí chẳng cần tàu bè gì hết. Có thể anh ta tới bằng dạng sóng, nói nôm na là xuất hồn đến đây – hình hài anh ta ở đây không phải là xác thịt mà gần với linh hồn hơn. Tuy nhiên về cơ bản nó vẫn dựa trên cơ sở khoa học, và chúng ta có thể diễn giải nó bằng các thuật ngữ khoa học.

Còn thiên thần, đó là cảnh giới fantasy. Không một lý thuyết khoa học nào có thể khẳng định rằng có tồn tại thiên thần trên trái đất, chỗ nào đó có trung giới, chỗ nào đó có tiên, chỗ nào đó có quỷ. Tác giả fantasy không có nhu cầu giải thích và người đọc cũng không quan tâm thế giới đó có thật theo nghĩa hẹp hay không. Họ mặc nhiên coi nó có thật – đây là suspension of disbelief, tức là người đọc tạm thời không quan tâm về chuyện logic. Ta không có nhu cầu tin là nó có thật, mình cứ thưởng thức câu chuyện. Thế giới của sci-fi rất khác. Lúc nào ta cũng có cảm giác chuyện đó có thể có thật.

Trở lại câu hỏi “Tại sao tôi đọc sci-fi”, nãy giờ tôi chỉ mới giải thích trên lý thuyết. Trên thực tế, nói gì thì nói, bạn đọc sci-fi hay không là do bạn lựa chọn. Nếu bạn không quan tâm đến những chuyện đòi hỏi kiến thức khoa học thì bạn không nhất thiết phải đọc sci-fi. Có hàng bao nhiêu thể loại văn chương khác cho bạn đọc. Như bạn nói lúc nãy, văn chương nào lại không đào sâu về những vấn đề lớn của con người, chứ không chỉ sci-fi. Bạn chọn đọc sci-fi vì bạn có thiên hướng muốn đi vào thế giới tưởng tượng dựa trên khoa học.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Ngược lại, với một người đọc sci-fi thế hệ trước, bây giờ lại có thể đặt ra câu hỏi: ngày nay tất cả các lời tiên tri của sci-fi đều đã được chứng minh rồi, thảm họa hay ngày tận thế thì khoa học ngày nay cũng đã dự báo rồi. Nói chung, chỉ cần đọc báo thời sự hoặc tạp chí khoa học phổ thông đại chúng là người ta đã biết tất cả những điều đó rồi, vậy chúng ta còn cần sci-fi nữa không? Tại sao chúng ta vẫn viết và vẫn đọc những thứ đó?

CAO ĐĂNG

Sci-fi mở ra tương lai. Loài người hiện nay chưa đạt tới trình độ công nghệ để có thể đến hành tinh khác để gặp những sinh vật có trí tuệ khác. Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng thôi. Trong thế giới đó, một người từ nền văn minh khác (“alien”) đến với chúng ta, và họ chính là hình ảnh tương lai. Họ đại diện cho một trình độ phát triển, một thế giới mà loài người chưa với tới được và mong ước với tới được. Nó mở ra các khả thể tương lai.

Nãy giờ chúng ta chưa tìm được cụm từ để chốt lại câu chuyện, và tôi nghĩ cụm từ này chính là từ chốt. “Tưởng tượng” và “khoa học” là những từ đúng, nhưng “mở ra khả thể của tương lai” mới là cái quan trọng. Ngược lại, khi muốn nói về các khả thể tương lai, thì đặt vào bối cảnh có yếu tố sci-fi lại là một điều đương nhiên.

NGƯỜI PHỎNG VẤN

Xin cảm ơn anh.

Nguyễn An Lý thực hiện

Cao Đăng 6
Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng trong buổi nói chuyện “Sci-fi: Cái nhìn vào tương lai“, Nhã Nam thư quán 2017. Ảnh của nhà báo Lam Điền.

Top 9 sách & phim sci-fi do nhà văn, dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng gợi ý

1. Solaris, của Stanisław Lem

2. Rendezvous with Rama (nhất là tập 1), của Arthur Clarke

3. Roadside Picnic, của anh em nhà Strugatsky (Arkady Strugatsky và Boris Strugatsky)

4. Ubik, của Philip K. Dick

5. Dấu của Cassandra (Tavro Kassandry), của Chingiz Aitmatov

6. Nhật Bản chìm (Nihon chinbotsu), của Komatsu Sakyo

7. Xứ Cát, của Frank Herbert

8. Tam Thể, của Lưu Từ Hân

9. Stranger in a strange land, của Robert A. Heinlein

1. 2001: A Space Odyssey, của Stanley Kubrick

2. Blade Runner, của Ridley Scott

3. Solaris, của Andrei Tarkovsky

4. Stalker, của Andrei Tarkovsky

5. District Nine, của Neill Blomkamp

6. Black Mirror, phim truyền hình nhiều tập, nhiều tác giả

7. Arrival, của Denis Villeneuve

8. Inception, của Christophe Nolan

9. Hãy mở mắt ra (Abre los ojos), của Alejandro Amenábar

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s