Kurt Vonnegut, “2 B R 0 2 B”

Thời gian đọc: 11 phút

(Bài viết thuộc Zzz Review số 7, 21-1-2020)

Kurt Vonnegut sinh ngày 11 tháng 11 năm 1922 tại bang Indiana, là một trong những nhà văn, nhà tiểu luận lớn trong văn học hiện đại Mỹ. Theo đuổi kiểu viết khoa học viễn tưởng có thời điểm là lỗi thời, song Vonnegut cũng gặt hái được nhiều thành công và đánh dấu một vị trí đặc biệt trên văn đàn, như George Orwell, Aldous Huxley, những vị tiền bối mà ông hết mực tôn sùng và cố gắng trở thành. Nếu như Ray Bradbury tế nhị và nên thơ trong những dòng văn đầy tính suy nghiệm, thì Vonnegut lại luôn làm các câu văn của mình gẫy gọn, đôi lúc cục cằn để tiên nghiệm, dự đoán trên trải nghiệm cá nhân, mà vẫn không hề mất đi tính giễu nhại trong sự hài hước đặc trưng.

Cuốn tiểu thuyết được coi là lớn nhất, thành công nhất của ông, Slaughterhouse-Five (bản dịch tiếng Việt là Lò sát sinh số 5), vừa là bán tự truyện, vừa phản chiến, vừa hư cấu. Tác phẩm đưa lại thể nghiệm về chiến tranh mà Vonnegut đã từng tham gia qua nhân vật Pilgrim, tạo nên những không gian vô tận xáo động mà con người bị đẩy tới sau tổn thương chiến tranh. Tác phẩm này cũng mang đặc điểm chung trong các câu chuyện của Vonnegut: bắt chéo thời gian tuyến tính, tạo hình số phận các tuyến nhân vật theo cốt truyện cổ tích.

 “2 B R 0 2 B” được đăng tải lần đầu tiên vào năm 1962 trên tạp chí World of If Science Fiction, sau đó được in lại trong tuyển tập Baguff Snuff Box (1999). Là cảm hứng cho phim ngắn Canada cùng tên do Marco Checa Garcia đạo diễn.

Bùi Gia Bin

Kurt Vonnegut
Nhà văn Kurt Vonnegut.

Mọi thứ đã nằm ở đỉnh cao của hoàn hảo.

Không ngục tù, không ổ chuột, không nhà thương điên, không người tàn tật, không đói nghèo, không chiến tranh.

Tất cả bệnh tật đã được chế ngự. Tuổi già không còn.

Cái chết, ngoại trừ tai nạn, thì chỉ như một chuyến thám hiểm cho ai tình nguyện tham gia.

Dân số Mỹ ổn định ở mức bốn mươi triệu người.

Một buổi sáng rạng rỡ trong nhà hộ sinh Chicago, một người tên Edward K. Wehling con đang ngồi chờ vợ mình sanh. Chỉ có anh ta một mình đang chờ bởi lẽ mỗi ngày không có quá nhiều người sinh ra nữa.

Wehling năm mươi sáu tuổi, chỉ là một thanh niên trong thế giới mà độ tuổi trung bình của dân số nằm trong khoảng một trăm hai chín.

Hình chụp X-quang cho thấy rằng vợ anh sinh ba. Và đây là lần đầu anh được làm cha.

Wehling trẻ trung ngồi khom người trên cái ghế đẩu, hai tay ôm lấy đầu. Anh trông thật nhàu nhĩ, không màu, phẳng lặng và dường như hóa thành một kẻ tàng hình. Cách ngụy trang của anh trông khá hoàn hảo, trong không khí lộn xộn và bẩn thỉu của phòng chờ. Những cái ghế đẩu và gạt tàn bị chuyển đi xa mấy bức tường. Dưới sàn nhà bỏ lác đác nhiều mảnh giẻ lau sơn.

Căn phòng đang được trang trí lại để tưởng niệm một người đã tình nguyện chết.

Một ông già cáu kỉnh, tầm hai trăm tuổi, ngồi trên thang gấp vẽ một bức bích họa lão ta không ưa. Cái thời mà người ta còn già đi rõ rệt, lão sẽ có vẻ nằm trong khoảng ba mấy tuổi. Quá trình lão hóa đã chạm vào lão đến độ này trước khi các phương pháp chống lão hóa được tìm thấy.

Lão đang vẽ một khu vườn thoáng mát, ở đó có những người đàn ông và phụ nữ mặc áo trắng, là bác sĩ và y tá, họ xới lỗ, trồng cây con, xịt côn trùng và rải phân bón.

Một vài người trong đồng phục màu tím đang nhổ cỏ dại, chặt những cây già và bệnh, gom lá rơi và đem rác tới lò đốt.

Chưa bao giờ, chưa từng, kể cả thời trung cổ ở Hà Lan hay cổ đại Nhật Bản lại xuất hiện một khu vườn chỉn chu và được người ta săn sóc đến mức vậy. Mỗi cây đều được cung cấp đủ mùn sét, nước, đất, không khí và dinh dưỡng cần sử dụng.

Một người hộ lý xuất hiện đằng hành lang, hát ri rỉ một bài ca thịnh hành.

“Cưng, nếu em không thích nụ hôn của tôi
Thì tôi sẽ làm như vầy:
Tôi sẽ tới tìm một người phụ nữ trong bộ đồ màu tím
Hôn giã từ thế gian buồn bã
Nếu em không muốn tình yêu này
Thì tôi còn chiếm chỗ làm gì
Tôi sẽ rời khỏi hành tinh cũ kỹ này
Hãy để những đứa trẻ xinh đẹp thế chỗ tôi.”

Người hộ lý dừng lại nhìn bức bích họa và người vẽ. “Trông giống y như thật,” gã nói, “đến nỗi tôi có thể gần như tưởng tượng mình đang đứng giữa đó.”

“Sao anh lại nghĩ rằng mình không đứng trong đó sẵn rồi?” người họa sĩ cười châm chọc. “Tên nó là ‘Ngôi vườn Hạnh phúc của Cuộc đời’, anh thấy đó.”

“Bác sĩ Hitz mới đẹp làm sao,” người hộ lý nói.

Gã đang nói về một người đàn ông mặc áo trắng trong hình vẽ. Là chân dung của bác sĩ Benjamin Hitz, trưởng khoa sản nhà hộ sinh. Hitz là một người đàn ông điển trai đến phát chóng mặt.

“Còn nhiều gương mặt vẫn hổng hảng cần điền vào,” người hộ lý nói. Ý gã là vẫn còn nhiều gương mặt trên bức bích họa vẫn còn trống. Những khoảng này sẽ được điền bằng chân dung của những nhân vật đầu sỏ hoặc của ban quản lý bệnh viện hoặc từ chi nhánh Chicago của Cục kết liễu liên bang.

“Hẳn là vui khi có thể vẽ được tranh tương tự cái gì đó,” người hộ lý nói.

Gương mặt người họa sĩ nhăn lại vì khinh bỉ. “Anh nghĩ tôi sẽ tự hào lắm với thứ tranh ba láp này ư?” lão nói, “anh nghĩ tôi nhìn cuộc đời chính xác là như vầy ư?”

“Lão nhìn cuộc đời như thế nào?” người hộ lý hỏi.

Người họa sĩ khoát tay chỉ miếng giẻ lau bẩn thỉu. “Đấy là một bức họa đẹp về cuộc đời,” lão nói. “Đem nó lồng khung, ta sẽ có một bức hình chân thực hơn nhiều so với thứ khốn kiếp này.”

“Lão đúng là con vịt già ảm đạm,” người hộ lý nói.

“Tôi không được quyền à?” người họa sĩ đáp.

Người hộ lý nhún vai. “Nếu lão không thích ở đây, ông thần ạ…” kết thúc suy nghĩ đó, gã đọc ra một số điện thoại rất khéo, dành cho những kẻ không muốn sống nữa điện vào. Số “không” trong đấy phát âm thành “naught”.

Số điện thoại đó là: “2 B R 0 2 B”.

Đó là số điện thoại của một tổ chức với đủ thứ tên lóng như: “Quán tự cung”, “Đất chim”, “Nhà máy đóng lon”, “Hộp xỉ mèo”, “Trừ chí”, “Đi nhẹ”, “Tạm biệt mẹ”, “Côn đồ vui vẻ”, “Hôn tôi nhanh”, “Pierre số đỏ”, “Thuốc diệt rầy cừu”, “Máy xay sinh tố”, “Không khóc nữa” và “Sao phải sợ?”

“To be or not to be” – tồn tại hay không tồn tại – là số điện thoại của văn phòng phụ trách buồng hơi ngạt thành phố thuộc Cục kết liễu liên bang.

Người họa sỹ cười khẩy. “Khi mà tôi quyết định rằng mình đã đến lúc đi,” lão nói, “thì chắc chắn không phải ở Thuốc diệt rầy cừu.”

“Ông là người thích tự mình làm lấy, hử?” người hộ lý nói. “Ông sẽ dây bẩn ra nhiều lắm, ông già. Sao ông không nghĩ một tí cho những người phải dọn dẹp cho ông hả?”

Người họa sỹ buông ra một câu tục tĩu cho thấy rõ sự dửng dưng của lão đối với nỗi khổ của những kẻ ở lại sau lão. “Thế giới mà có thêm những thứ bẩn dơ hơn nhiều thì đã tốt, nếu anh đã hỏi tôi,” lão nói.

Người hộ lý cười rộ rồi bỏ đi.

Wehling, người bố vẫn đang chờ đợi, cứ lẩm nhẩm gì đó mà không hề ngẩng đầu lên, rồi sau đó lại rơi vào yên lặng.

Một người phụ nữ thô tục và dữ dội sải bước tiến vào phòng chờ với đôi guốc nhọn. Đôi guốc, vớ da, áo choàng, túi và mũ lưỡi trai hàng ngoại đều rốt một màu tím, người họa sỹ gọi đó là màu “chùm nho trong ngày Phán xét”.

Hình trang trí trên cặp đeo chéo màu tím của ả là huy hiệu bộ phận dịch vụ của Cục kết liễu liên bang, hình một con đại bàng đậu trên cánh cửa quay.

Ả có nhiều lông mặt – một cặp ria mép không lẫn đâu được. Cái chức tiếp viên buồng hơi ngạt có chỗ lạ kỳ, lúc tuyển về toàn các cô nàng xinh gái nữ tính nhưng chỉ trong chừng năm năm ai cũng phụt ra một cặp ria.

“Đây có phải là nơi tôi cần đến không?” ả nói với người họa sỹ.

“Cũng còn tùy vào vì sao chị đến,” lão nói, “chị thì không phải sắp đẻ con rồi, hả?”

“Bọn họ nói tôi rằng tôi cần đến đây làm mẫu để người ta vẽ,” ả nói. “Tên tôi là Leora Duncan.” Ả chờ.

“Và chị làm cái việc đụt cáng người khác,” lão nói.

“Gì?” ả hỏi.

“Bỏ đi,” lão đáp.

“Đây thật là một bức tranh đẹp,” ả nói. “Tựa thiên đường hoặc thứ gì đó.”

“Thứ gì đó,” người họa sỹ bảo. Lão lấy tờ giấy trong túi tạp dề ra. “Duncan, Duncan, Duncan,” lão lẩm bẩm, rà danh sách. “Ô… chị đây rồi. Chị có quyền được trở nên bất tử. Chị nhìn thấy vài cơ thể thiếu mặt ở trên này chứ, giờ thì chị muốn tôi dán đầu chị vào chỗ nào nào? Còn vài lựa chọn khá ngon đấy.”

Ả nghiền ngẫm bức bích họa một cách ảm đạm. “Dào,” ả nói, “tất cả đều như nhau với tôi. Tôi có biết gì về vẽ vời đâu cơ chứ.”

“Cơ thể là cơ thể, ể?” lão nói. “Thôi được rồi. Nhân danh người chuyên nghiệp của nghệ thuật chuyên nghiệp, tôi đề xuất cái này.” Lão chỉ tay đến khoảng trắng bên trên thân hình người phụ nữ đang vác cỏ khô đến lò đốt rác.

“Ài,” Leora Duncan nói, “nó có vẻ trông giống mấy người làm bên loại thải hơn. Mà lão biết đó, tôi bên dịch vụ, tôi chẳng loại thải gì.”

Lão vỗ tay vờ tỏ ra vui thú, “Chị nói chị chẳng biết gì về nghệ thuật, và sau đó chị thở ra những gì chứng tỏ chị còn biết nhiều hơn tôi. Ồ rõ ràng mấy người vác rơm cỏ này thua xa nữ tiếp viên như chị nhiều chứ. Tỉa cây, cắt cành mới xứng với chị hơn.” Đoạn lão ta chỉ vào một dáng hình màu tím rịm đang cưa cành táo chết. “Chị thấy sao?” lão hỏi, “chị có chấm được nó không?”

“Chúa…” ả nói, mặt đỏ lên vì ngượng và điệu bộ trở nên khúm núm, “ông… ông vẽ tôi đứng ngay cạnh bác sĩ Hitz à?”

“Chị không phiền chứ?” lão hỏi.

“Quá tốt đi chứ,” ả nói. “Đó là một sự vinh dự.”

“À, chị cảm phục ông ta đến thế cơ à?” lão nói.

“Ai mà không cảm phục ông ta cơ chứ?” ả nói, rồi nhìn bức chân dung Hitz với tất cả sự ngưỡng mộ. Một thân thể rám nắng, tóc trắng, quyền uy như Zeus sống tới tuổi hai trăm bốn mươi. “Ai mà không cảm phục ông ta cơ chứ?” ả nhắc lại. “Ông ấy là người xây dựng buồng khí ngạt đầu tiên ở Chicago mà.”

“Không có gì làm cho tôi vui hơn,” người họa sỹ nói, “hơn việc để chị đứng bên ông ấy cho đến vĩnh cửu. Cưa bỏ cành cây, chị có thấy hợp lý không?”

“Vậy cũng hao hao giống việc tôi làm đấy,” ả nói. Ả tỏ ra khá khiêm nhường về việc ả làm. Việc ả làm là khiến mọi người cảm thấy thoải mái trong lúc ả giết họ.

Và, trong lúc Leora Duncan đang làm mẫu cho bức chân dung thì bác sĩ Hitz bổ vào trong phòng. Ông cao khoảng hai mét bốn, đầy vẻ nghiêm nghị, căng tràn tài năng và niềm vui thú cuộc sống.

“Chà, cô Duncan! Cô Duncan!” ông chào, nói đùa, “cô làm gì ở đây thế?” ông nói. “Đây đâu có phải nơi người ta đi, đây là nơi người ta đến cơ mà?”

“Chúng ta sẽ đứng chung một tấm hình đấy,” ả bẽn lẽn nói.

“Tốt quá!” Bác sĩ Hitz nồng hậu đáp. “Hình đẹp gớm nhỉ?”

“Thật vinh dự khi tôi được đứng chung với bác sỹ,” ả bảo.

“Để tôi nói cho cô nghe nhé,” ông nói, “tôi mới là người vinh hạnh khi được đứng chung với cô. Nếu thiếu những người phụ nữ như cô đây thì thế giới tươi đẹp này sẽ không thể nào tồn tại.”

Ông chào ả và tiến bước về phía cửa dẫn vào phòng sản. “Đoán xem ta vừa có gì nào?” bác sĩ hỏi.

“Sao tôi biết được chứ?” ả nói.

“Sinh ba!” bác sĩ nói.

“Sinh ba!” ả la lên. Ả run vì ngay lập tức nhớ tới quy định của pháp luật khi có một ca sinh ba.

Luật nói rằng không có trẻ sơ sinh nào được quyền sống sót trừ khi bố mẹ chúng tìm được ai đó tình nguyện chết. Điều đó có nghĩa là, nếu họ muốn giữ hết lứa con này lại, họ phải tìm ra ba người.

“Bố mẹ chúng có ba người tình nguyện chưa?” Leora Duncan nói.

“Tin mới nhất tôi được nghe,” bác sĩ Hitz nói, “họ có một rồi và đang tìm hai người nữa.”

“Tôi không nghĩ họ đã tìm được,” ả bảo. “Hôm nay không có ai đặt hẹn ba cuộc cùng lúc. Chỉ có các cuộc hẹn lẻ được thông qua. Trừ phi họ đặt đơn lúc tôi vừa ra khỏi. Tên là gì ấy nhỉ?”

“Wehling,” người bố đang chờ đợi cất giọng, đội người lên, mắt đỏ đọc và nhếch nhác. “À, người bố tương lai vui mừng này tên là Edward K. Wehling đấy.”

Anh giơ tay phải lên, nhìn vào một điểm trên tường rồi khô khốc buông một tiếng cười khổ. “Có mặt,” anh hô.

“Ôi, Wehling, tôi không thấy anh,” bác sĩ Hitz nói.

“Bởi tôi là người vô hình,” Wehling đáp.

“Họ mới gọi cho tôi rằng vợ anh vừa mới sinh ba và mẹ tròn con vuông,” bác sĩ Hitz nói, “và tôi đang trên đường vào đó đấy.”

“Hoan hô,” giọng Wehling trống rỗng.

“Hình như anh không vui lắm,” bác sĩ Hitz nói.

“Có người bố nào trong tình cảnh này mà không vui chứ?” anh bảo. Tay anh huơ lên để tỏ bộ mọi chuyện đều đơn giản và thoải mái. “Mọi chuyện tôi cần làm chỉ là chọn đứa nào sống, sau đó gửi ông ngoại tới Côn đồ vui vẻ và trở lại với giấy biên nhận.”

Vị bác sĩ trở nên nghiêm khắc, tiến lại gần anh ta, “Anh không tin vào chính sách kiểm soát dân số thế giới, anh Wehling?” ông nói.

“Tôi nghĩ chính sách đó khá bảnh,” Wehling nói một cách căng thẳng.

“Tôi hỏi anh, anh có muốn trở về những ngày cũ kỹ không, ngày dân số thế giới là hai mươi tỉ – sắp thành bốn mươi tỉ, sau đó tám mươi tỉ, và rồi chẳng mấy chốc mà một trăm sáu mươi tỉ? Anh có biết những múi hạch không, Wehling?”

“Không,” giọng Wehling hờn dỗi.

“Múi hạch, Wehling, là những núm nhỏ chứa phần thịt quả mềm trên mỗi quả dâu tằm,” bác sĩ Hitz nói. “Thiếu đi sự kiểm soát dân số, nhân loại sẽ chen chúc trên trái đất cũ kỹ như thể những múi hạch chen chúc trên quả dâu tằm vậy. Anh nghĩ đi!”

Wehling vẫn cứ chằm chằm nhìn vào một điểm trên tường.

“Vào năm 2000,” bác sĩ Hitz nói, “trước khi các nhà khoa học can thiệp vào mà ban hành luật, người ta thậm chí không có nước để sử dụng, và họ chẳng có gì để xơi ngoài tảo biển, thế mà người ta vẫn đòi quyền được sinh đẻ thừa mứa và vô tội vạ như thỏ đồng. Và họ còn lại đòi mình được bất tử, nếu được.”

“Tôi muốn hết đám trẻ,” Wehling nói thì thào. “Tôi muốn hết cả ba đứa.”

“Chắc chắn là anh muốn rồi,” bác sĩ Hitz nói. “Đấy là thói thường của con người mà.”

“Tôi cũng không muốn ông ngoại tôi chết,” Wehling nói.

“Chẳng có ai thật vui với chuyện đưa họ hàng thân thích tới Hộp xỉ mèo cả.” Giọng bác sĩ Hitz dịu dàng và đồng cảm.

“Tôi ước gì người ta đừng có gọi nó như thế,” Leora Duncan chen vào.

“Gì cơ?”

“Tôi ước gì người ta đừng có gọi nó là Hộp xỉ mèo, hoặc là thứ gì đó tương tự. Nó tạo ấn tượng sai lạc.”

“Cô nói đúng đấy,” bác sĩ Hitz nói. “Bỏ qua cho tôi nhé.” Và sau đó ông sửa lại, bằng cách dùng cái tên chính thức cho phòng hơi ngạt thành phố, cái tên mà người ta không bao giờ dùng khi nói chuyện. “Tôi phải gọi nó là ‘Xưởng tự tử nhân văn’.”

“Nghe tốt hơn nhiều rồi,” Leora Duncan nói.

“Con của anh – dù anh lựa đứa nào để sống đi chăng nữa, thì Wehling của tôi ơi,” vị bác sĩ nói. “Thì cô bé, cậu bé ấy chắc chắn sẽ được sống trong một hành tinh sạch sẽ, thịnh vượng, rộng rãi và hạnh phúc bậc nhất nhờ vào chính sách kiểm soát dân số hiện hành này. Trong một thảo cầm viên hệt như bức bích hoạ này vậy.” Ông ta lắc đầu. “Hai thế kỷ về trước, khi tôi còn trai trẻ, hiếm ai nghĩ cái địa ngục ấy sẽ tồn tại được lâu hơn hai mươi năm tiếp tới. Thế nhưng hôm nay, chờ đợi ta là hàng thế kỷ hòa bình và xinh đẹp hơn nhiều so với những tưởng tượng viển vông nhất nữa kia.”

Bác sĩ cười rạng rỡ.

Nụ cười tan biến ngay lập tức khi Hitz thấy Wehling rút trong áo ra một khẩu súng lục ổ quay.

Anh nã chết Hitz. “Giờ thì có chỗ cho một đứa rồi – một chỗ rộng.”

Và sau đó anh bắn ả Leora Duncan. “Chết thôi chứ có gì đâu,” anh nói khi nhìn thấy ả ta ngã xuống. “Hai chỗ!”

Và rồi, Wehling bóp cò tự sát. Chỗ đã đủ cho ba đứa con đầu lòng của anh.

Chẳng có ai chạy tới. Có vẻ chẳng có ai đã nghe được tiếng súng bắn.

Người họa sĩ từ trên nấc cao nhất của cái thang trầm ngâm nhìn xuống cảnh tượng đáng buồn đó.

Lão nghĩ ngợi về câu đố oái oăm, là sự sống đòi hỏi được sinh ra, và sinh ra rồi lại đòi hỏi được nở rộ… được nhân lên và kéo dài càng lâu càng tốt – được làm tất cả những điều ấy trên một hành tinh quá ư nhỏ bé mà lại cần phải tồn tại vĩnh viễn.

Mọi câu trả lời mà lão nghĩ ra đều tàn nhẫn. Thậm chí tàn nhẫn hơn cả Hộp xỉ mèo, Côn đồ vui vẻ hay Đi nhẹ. Lão nghĩ tới hỗn chiến, nghĩ tới dịch bệnh và nạn đói.

Lão biết mình sẽ không bao giờ vẽ nữa. Lão buông cành cọ xuống sàn đầy những giẻ lau sơn bẩn. Và cũng nghĩ rằng mình đã trải qua đủ thời gian sống trong “Ngôi vườn Hạnh phúc của Cuộc đời” này rồi, lão leo xuống thang một cách từ từ.

Lão gỡ cây súng lục trên tay của Wehling đã lỏng, sẵn sàng kết liễu mình.

Nhưng lão không bao giờ có đủ dũng khí để bóp cò.

Và rồi lão nhìn quanh quất thấy bốt điện thoại ở góc phòng, tiến tới đó, quay con số đã thuộc nằm lòng: “2 B R 0 2 B”.

“Cục kết liễu liên bang xin nghe,” một giọng ngọt ngào vô ngần của tiếp viên vang qua.

“Tôi có thể lấy đơn đăng ký sớm nhất là bao giờ?” lão nói một cách cẩn trọng.

“Chúng tôi có thể xếp ngài vào lượt chiều muộn nay, thưa ngài,” tổng đài viên nói. “Thậm chí có thể sớm hơn, nếu như có ai hủy bỏ lịch hẹn.”

“Được thôi,” người họa sĩ nói. “Vui lòng điền tôi vào đơn.” Và lão đọc tên mình, đánh vần thật rõ ràng.

“Cảm ơn ngài!” tổng đài viên nói. “Thành phố của ngài, đất nước ngài, hành tinh ngài cảm ơn ngài. Nhưng lời cảm ơn chân thành và nồng hậu nhất đến từ thế hệ tương lai của chúng ta.”

Bùi Gia Bin dịch

Người góp chữ

Bùi Gia Bin

Học sinh sầu muộn điển hình.

Be the first to comment

Bạn nghĩ sao?

%d bloggers like this: