Top 10 Văn học dịch 2019

Suốt một thập kỷ qua, có thể nói, mỗi năm khi cần có một cái nhìn tổng kết về tình hình văn học dịch của Việt Nam, ta đều có thể dùng câu thơ “Năm qua thắng lợi vẻ vang” của Bác Hồ, mà không cần phải ái ngại. Trong khi các phê bình gia lẫn dịch giả ở Mỹ than phiền không ngớt vì văn học dịch của họ quá eo hẹp[1], Việt Nam thoải mái mà tự hào là một trong những nước có hệ thống văn dịch phát triển mạnh mẽ.

Từ văn chương cổ điển tới đương đại, từ khu vực châu Á Nhật Hàn sang châu Âu Đức Pháp, từ các giải Nobel, Goncourt, Booker, đến Pulitzer, Orange, không mảng nào mà nền xuất bản của chúng ta bỏ sót. Chưa bao giờ độc giả trong nước được hưởng một sự đa dạng đến vậy của dịch phẩm. Dịch lại, dịch mới, tái bản, những tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại được in và phát hành ào ạt. Hàng loạt lớp dịch giả được hình thành như nấm sau mưa, khi mà lớp dịch giả chưa đủ tuổi gọi là già đã có thể gọi một lớp mới nổi lên là trẻ. Chỉ trong đúng 15 năm sau khi Việt Nam gia nhập công ước Berne, nền xuất bản của chúng ta gần như đuổi kịp với cả thế giới. Quả, tổ quốc bao giờ nhiều sách dịch thế này chăng?

2019, một lần nữa, lại là một năm thành công vang dội của văn học dịch. Những tác phẩm kinh điển và đương đại nặng ký về cả số trang lẫn chất lượng, trong cái thời buổi ai cũng chỉ mong đọc sách ít trang vì còn dành thời gian làm việc khác, từ tích cực như chạy bộ trở đi, trớ trêu thay lại ngay giữa cái thời buổi nhà nhà người người nói về văn hóa đọc, vẫn được các công ty và nhà xuất bản cho ra mắt đều đều, chẳng hạn như: Hán Sở diễn nghĩa của Chung Sơn cư sỹ Chân Vĩ, Những linh hồn chết của Nikolai Gogol, Thằng Cười của Victo Hugo, Chết chịu của Céline, Giờ Đức văn của Siegfried Lenz.

Các tác phẩm đạt các giải thưởng danh giá cũng đều đặn xuất hiện: Những người đẹp say ngủĐẹp và buồn của Kawabata Yasunari (Nobel năm 1968), Herzog của Saul Bellow (Nobel năm 1976), Cảnh đồi mờ xám của Kazuo Ishiguro (Nobel năm 2017), Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình của nhà văn vừa đạt giải Nobel gây nên một cuộc tranh cãi trên toàn cầu vào năm nay Peter Handke, Lưỡng giới của Jeffrey Eugenides (Pulitzer 2003), Tuyến hỏa xa ngầm của Colson Whitehead (Pulitzer 2017), Rễ trời của Romain Gary (Goncourt năm 1956), Chương trình nghị sự của Éric Vuillard (Goncourt năm 2017), Những chú chim chưa bao giờ được hót của Kate Atkinson (giải sách Costa 2015).

Những hiện tượng văn chương mới của châu Á khuấy đảo văn đàn thế giới cũng góp mặt cho bộ mặt sách dịch năm nay với Bản chất của người của Han Kang, Cô nàng cửa hàng tiện ích của Murata Sayaka (giải Akutagawa năm 2016) và tác phẩm nữ quyền bán chạy cả triệu bản Kim Ji Young, sinh năm 1982 của Cho Nam Joo, nhưng rất tiếc về đến Việt Nam cả ba không gây được nhiều tiếng vang như mong đợi.

Một loạt những nhà văn đương đại ít nhiều tạo được danh tiếng cũng đã được dịch sang tiếng Việt như Diêm Liên Khoa (Đinh Trang mộng, Tứ Thư), Tommy Orange (với tác phẩm Không nhà, ứng viên giải Pulitzer 2019), Christopher Isherwood (Người chuyển tàu, Hoa tím ngày xưa), Yuko Tsushima, nữ văn sĩ được coi là Virginia Woolf của Nhật (Lãnh địa ánh sáng), Ray Bradbury (Người minh họa), hay đặc biệt là nhà văn Philip Pullman, người được tờ Times bình chọn là một trong “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất kể từ năm 1945) (với bộ ba Vật chất tối của ngài).

Trong bài “Ngôn từ, đối thoại, tiểu thuyết”, phê bình gia và nhà triết học Julia Kristeva có nêu ra quan niệm về liên văn bản, “như một ghép mảnh hay khảm (mosaic) của các trích dẫn; bất kỳ văn bản nào cũng là sự hấp thu và biến hóa của văn bản khác.” Đọc, trong những ngồn ngộn sách vở ấy, không chỉ là nhận ra được những tác phẩm xuất sắc và thưởng thức riêng lẻ, mà còn là kết nối chúng lại với nhau, tạo thành một mạng lưới nơi các cuốn sách có thể cùng vang vọng hay đối chọi nhau, ở những quãng đoạn nào đó. Những cuốn sách nổi bật nhất năm 2019 với tôi là một tập hợp những cuốn có thể phân thành những cú đọc sóng đôi, một cách tình cờ mà soi rọi đầy ý nghĩa. Và đôi khi sự móc nối không chỉ nằm ở một cặp đôi.

1. Biến thể – Ovide

5ff535ce4513e03367405908efd18fc5.jpg

Cặp đôi đầu tiên là hai cuốn sách cách nhau 2000 năm, Biến thể của Ovide và Lưỡng giới của Jeffrey Eugenides. Không chỉ việc Ovide được nhắc tới (hai lần) trong Lưỡng giới, không chỉ việc tác phẩm sau lấy cảm hứng từ rất nhiều thần thoại Hy Lạp và trích cả câu lẫn vài tích truyện trong tác phẩm trước, Biến thểLưỡng giới còn cùng chung một đề tài: sự biến đổi diễn ra và tác động của nó lên thân thể cũng như tâm lý con người như thế nào.

Ovide là nhà thơ La Mã nổi tiếng, với tác phẩm vĩ đại nhất Biến thể, bài thơ sử thi gồm 15 thiên, kể lại hơn 250 câu chuyện thần thoại, từ lúc khởi đầu của thế gian. Dưới ngòi bút tài hoa của Ovide, chuyện thần thoại được kể lại đầy hấp dẫn, mà ngày nay các nhà nghiên cứu có thể đọc tác phẩm như một lời bình luận về chính trị xã hội đương thời, những chiêm nghiệm đầy ẩn dụ về đời người, và hẳn nhiên là cả một bộ sưu tập đi vào kinh điển các câu chuyện thần thoại. Như chính trong lời thơ mở đầu, Biến thể của Ovide tập trung vào “những hình hài biến đổi thành những hình thể mới,” nơi con người bị biến thành sói, cây nguyệt quế, con gấu, vì sao… Điểm độc đáo của Biến thể không chỉ nằm ở sự phóng túng và cợt nhả trong các kể chuyện và nội dung truyện kể với đầy những vị thần tai quái, sân si, đồng bóng, với những yêu đương, ghen tuông, thù ghét, cưỡng đoạt. Mà sự xuất sắc của Biến thể còn nằm ở chỗ cho đến tận thời nay thật khó lòng quy tác phẩm vào một thể loại bất kỳ, bởi các câu chuyện gắn kết một cách lỏng lẻo với nhau, và khó lòng mà truy tìm được một đề tài nhất định. Nếu bắt buộc phải xác định, phải chăng, như nhà nghiên cứu Hy-La của đại học Oxford Jonathan Bate chiêm nghiệm, khác xa Virgil trong Aeneid kể về nguồn gốc của người La Mã và tụng ca chủ nghĩa ái quốc, Ovide quan tâm tới khía cạnh tâm lý con người, hay cụ thể hơn là khía cạnh nguy hiểm của việc làm người. Đầy rẫy trong Biến thể là những câu chuyện về tình yêu, bạo lực, khổ đau, những biến hóa khôn lường của lòng người và tạo hóa. Không có gì ngạc nhiên khi Ovide gây ảnh hưởng lớn tới thế hệ các nhà thơ, văn sau này, mà người học trò lớn nhất của ông chính là William Shakespeare, người đã thuộc lòng Biến thể và thậm chí lấy cả một tích truyện về cặp tình nhân Pyrame và Thisbé và biến nó thành vở kịch lừng danh Romeo và Juliet.

2. Lưỡng giới – Jeffrey Eugenides

077d50c9610d4cf6da01df348386567b.jpg

Lưỡng giới không chỉ có lấy khuôn mẫu từ một nhân vật có xuất hiện trong Biến thể là Tiresias. Jeffrey Eugenides muốn đi xa hơn thần thoại, bằng cách tạo ra một nội dung mới toanh với một người kể chuyện là nhân vật lưỡng giới thật. Sự biến thể, hẳn nhiên cũng xảy ra ở Cal Stephanides, nhân vật chính của Lưỡng giới, khi sinh ra là một đứa con gái, nhưng đến tuổi dậy thì lại phát hiện ra mình có tinh hoàn ẩn bên trong do bị đột biến gene. Trên nền tảng một nhân vật có một không hai này, với chiều sâu tâm lý, với những sự chính xác về mặt giải phẫu học, Eugenides xây dựng cốt truyện, hoàn cảnh, dẫn tới cái sự đột biến gene ấy. Và Lưỡng giới ra đời, là rất nhiều thứ trong một: một câu chuyện sử thi hào hùng, một câu chuyện gia đình vắt qua mấy thế hệ, qua nhiều giai đoạn và biến động lịch sử, qua nhiều không gian nơi chốn khác nhau đã ra đời. Nếu đọc một cách riêng rẽ, Lưỡng giới là một cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại với người kể chuyện bất khả tín, chứa đựng trong nó vô vàn những bi kịch của con người, như cuộc truy tìm bản dạng, những thăng trầm của đời sống di dân, giấc mơ Mỹ và sự tan vỡ của nó. Soi rọi từ Biến thể, độc giả thấy được những đề tài và cả nơi chốn song song mà Lưỡng giới cũng đồng thời đưa ra: loạn luân và những hậu quả của nó, sự biến đổi trong tâm sinh lý (nếu có) khi con người mang các bản dạng giới khác nhau. Vốn xuất thân từ cái ngọn núi Bithynios ở Tiểu Á nơi ông bà nội của Cal chạy trốn chiến tranh sang tận Mỹ, nhưng dường như những tội lỗi tổ tông, những nhân ngưu trong thần thoại, vẫn đeo đuổi và ám ảnh đến tận thời hiện tại của con cháu.

3. Vết nhơ của người – Philip Roth

DC649TA2.jpg

Không hề khó khăn để đọc vắt từ Lưỡng giới sang một tác phẩm kinh điển đương đại khác của văn học Mỹ được xuất bản cũng vào 2019: Vết nhơ của người. Eugenides công khai thừa nhận mình học tập và chịu ảnh hưởng từ một bậc thầy người Mỹ trong việc tạo ra một giọng kể mang hướng văn hóa mới. Đó chính là Philip Roth, với những nhân vật người Do Thái vô cùng đặc trưng của mình đã tạo cảm hứng cho Eugenides viết tác phẩm sử thi của người Mỹ gốc Hy Lạp. Và còn ở đâu hơn Vết nhơ của người, với nhân vật chính là vị giáo sư người Do Thái, Coleman Silk, người từng giữ vị trí danh giá là chủ tịch hội đồng giảng viên suốt nhiều năm, bị quy kết là phân biệt chủng tộc chỉ vì tình cờ dùng từ “ma” đối với mấy sinh viên da màu vắng mặt không đến học lớp của ông và cả cuộc đời lao dốc từ đó, ta có thể đọc về sự tan vỡ của giấc mơ Mỹ, một cách đau đớn hơn, một cách khủng khiếp hơn?

Trong bài giảng cho sinh viên của Coleman Silk, giáo sư văn học Hy-La, ở đại học Athena ở một thị trấn của bang Massachusetts, từng chỉ ra, “Toàn bộ văn học Âu châu nảy sinh từ một cuộc tranh luận.” Hay đúng hơn, một cuộc cãi cọ, trong Iliad, giữa Agamemnon vua của loài người, và Achilles vĩ đại: họ cãi nhau vì đàn bà. Độc giả, vô tình khi bắt đầu Vết nhơ của người lại quay về với Biến thể. Đó là một cuộc cãi cọ đầy giận dữ, sóng gió, một cơn giận như thác lũ cuốn phăng mọi chướng ngại vật. Trong một cơn cuồng phong tương tự, Coleman Silk, sau khi chôn cất vợ, lái xe lao thẳng đến nhà người kể chuyện là Nathan Zuckerman để yêu cầu ông, một nhà văn chuyên nghiệp, viết nên một câu chuyện đời ông. Vết nhơ của người kể lại cái bi kịch đầy ngẫu nhiên, khi lần về quá khứ của Coleman, qua lăng kính của các nhân vật khác nhau, để hé lộ một bí mật tày trời: thật khó để quy kết Coleman cái tội phân biệt chủng tộc bởi chính ông là một người da màu nhưng có nước da sáng trắng có thể giúp ông sống trà trộn như một người da trắng. Như Philip Roth trần tình, cái sự kiện “lũ ma” này chính là tình tiết khởi đầu, mà cũng là tâm điểm của cuốn sách. Cả cuốn tiểu thuyết này sẽ không là gì nếu không có nó. Một từ đã kết án Coleman, một từ làm ông rơi xuống thảm bại, một từ mà vì bí mật che giấu bao nhiêu năm qua, ông không thể giãi bày, không thể tự bào chữa. Chính Coleman từng là nạn nhân của phân biệt chủng tộc và quyết tâm đổi đời mình, ở một cái đất nước nhồi sọ công dân về giấc mơ Mỹ, Coleman đã cố tạo ra số phận lịch sử của riêng mình, cố “phá tung xiềng xích của lịch sử” nhưng “cuối cùng lại bị sập bẫy bởi cái lịch sử mà ông hoàn toàn không ngờ tới.”

4. Jude – Kẻ vô danh – Thomas Hardy

jude-ke-vo-danh-1.jpg

Cái mà Roth chỉ ra rằng Coleman không vượt vượt thoát nổi chính là: “cái thời khắc hiện tại, cái số phận chung, cái tâm trạng hiện thời, cái tâm trí của đất nước, cái thòng lọng của lịch sử mà chính là thời đại của mỗi người.” Cách Coleman trong Vết nhơ của người 105 năm, một nhân vật khác cũng bị sa lầy trong chính thời đại của mình vì đã cố tìm cách sống vượt trước nó: chàng Jude của Jude – Kẻ vô danh của Thomas Hardy. Mồ côi cha mẹ sống với bà cô ở một làng quê lạc hậu thời Victoria, Jude Fawley chỉ có một khát khao tột bậc là được đến Christminster (lấy nguyên mẫu từ thành phố Oxford), nơi có cây tri thức mọc, nơi có ánh sáng rực rỡ, để trở thành một học giả. Xuất thân gia đình lao động, không được học hành từ tấm bé, nhưng Jude vẫn cố tìm mọi cách đeo đuổi ước mơ trở thành người trí thức, dẫu có phải kiếm sống độ nhật bằng cách học lấy một tấm nghề là đẽo đá. Thất bại trong cuộc hôn nhân đầu, Jude cuối cùng cũng tìm đường đến Christminster vừa lao động, vừa tiếp tục học tiếng Latinh và Hy Lạp, để hy vọng một ngày được đổi đời. Đời anh thay đổi khi gặp Sue Bridehead, cô em họ thông minh, độc lập, đồng bóng, một mẫu người phụ nữ mới. Nhưng đời anh cũng khốn khổ vì yêu Sue, con người chống lại mọi quy tắc xã hội, căm ghét và sợ hãi hôn nhân. Sue cương quyết chọn lấy vai trò của chính mình trong xã hội chứ không chịu nhận lấy cái vai trò được phân. Và cả hai người Sue lẫn Jude đã chịu một số phận bi kịch, vì sống bất chấp thời đại. Jude – Kẻ vô danh với viễn cảnh tăm tối mà nó vạch ra là một trong những cuốn tiểu thuyết tố cáo xã hội mạnh mẽ nhất của Hardy. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, nó tấn công không khoan nhượng vào cái pháo đài đạo đức giả “ăn sâu vào quan điểm cuối thời Victoria về tầng lớp, giáo dục, vai trò của phụ nữ và hôn nhân.” Dẫu thông minh và cần cù, mong muốn được học hành để leo lên nấc thang xã hội, Jude vào đời tay trắng và vô danh, kết thúc cuộc đời cũng vô danh. Gặp phải vô số chỉ trích của giới phê bình thời đó vì những trang viết xúc phạm tôn giáo và hôn nhân, thậm chí cuốn sách còn bị một vụ giám mục ném vào lửa đốt, Hardy thề không viết thêm một cuốn tiểu thuyết nào nữa.

5. Lò sát sinh số 5 – Kurt VonnegutSBB5XJMG.jpg

Hơn 70 năm sau Jude – Kẻ vô danh, một cuốn sách khác bị ném vào lò đốt vì bị coi là có nội dung không lành mạnh: Lò sát sinh số 5 của Kurt Vonnegut. Cái ý tưởng về liên văn bản của Kristeva, một cách tình cờ, còn thể hiện rất rõ trong cách Vonnegut đọc, thẩm thấu, và chuyển hóa Céline của Hành trình đến tận cùng đêm tối. Từng bày tỏ sự ngưỡng mộ vô bờ bến của mình dành cho Céline trong nhiều bài viết, một trong những nhà văn Pháp vĩ đại nhất nhưng đầy tai tiếng của thế kỷ 20 (vì bài Do Thái), Vonnegut đi xa hơn nữa là đã lấy cảm hứng và học Céline cách chiến tranh khủng khiếp vô nghĩa tàn sát bao nhân mạng có thể được triển khai một cách lố bịch và đầy hài hước như thế nào để viết nên cuốn tiểu thuyết chống chiến tranh được ngợi ca suốt từ lúc nó ra đời cho đến tận ngày nay: Lò sát sinh số 5. Cuốn tiểu thuyết kể về cuộc đời của Billy Pilgrim trong và sau khi tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ hai, là một trong những người sống sót hiếm hoi sau trận đánh bom thành phố Dresden. Chết chóc, sự vô nghĩa lý, và hài hước, bao trùm khắp Lò sát sinh số 5 nơi mỗi khi cái chết xảy ra, độc giả lại được nghe cái điệp khúc “Đời là thế”. Là nhà văn của trò đùa và cái chết, với Vonnegut, “Hài hước là cách để trì hoãn lại sự khủng khiếp của cuộc đời, để bảo vệ chính mình.” Ngay cả chính bản thân Vonnegut khi nhìn nhận về ý nghĩa của cuốn tiểu thuyết của mình, cũng chỉ biết nói lên, bằng một cách hài hước đen tối, rằng, “sự tàn bạo ở Dresden… cực kỳ vô nghĩa lý đến độ chỉ có một người duy nhất trên cả cái hành tinh này được hưởng lợi từ nó. Tôi chính là người đó. Tôi viết cuốn sách này, giúp tôi kiếm được nhiều tiền và trở nên nổi tiếng. Kiểu gì đó, cứ mỗi người bị giết thì tôi lại được hai hay ba đô. Đây là chuyện làm ăn tôi đã tham gia vào.” Và quả Lò sát sinh số 5 luôn đặt người đọc vào một thế lưỡng nan, khi một bên là chiến tranh vô nghĩa, một bên là sự khó khăn đến tột độ để cắt nghĩa sự vô nghĩa đó.

6. Hai người đàn bà – Alberto Moravia

nxbtre_full_07132019_041354.jpg

Cũng nằm trong mạch sự tàn bạo của chiến tranh và những bi kịch mà nó gây ra cho đời sống con người là một tác phẩm được các nhà phê bình coi là xuất sắc nhất của nhà văn Ý Alberto Moravia, Hai người đàn bà. Tác phẩm kể về một bà góa còn trẻ, chủ một tiệm tạp hóa ở Rome, tìm mọi cách bảo vệ đứa con khỏi chiến tranh nên đã cùng đứa con gái bé bỏng chạy về miền quê khi Rome bị quân Đồng Minh tấn công. Nếu ở Lò sát sinh số 5 hiện lên hình ảnh những đứa trẻ trai và những người đàn ông khốn khổ bị đẩy ra chiến trận, phải chứng kiến cái chết mỗi ngày, trở thành sát nhân, bị bắt làm tù binh, bị giam cầm, và tới phiên mình, bị giết, thì Hai người đàn bà lại bật lên hình ảnh số phận thường dân, mà cụ thể là người phụ nữ, bị chà đạp, xâm hại như thế nào. Và quả, như chính dịch giả Thanh Gương viết trong lời mở đầu, Hai người đàn bà, khác với các cuốn tiểu thuyết phản chiến khác, “là một câu chuyện kể về những hệ lụy mà con người phải hứng chịu trước những bạo lực phi nhân do chiến tranh gây ra, về sự tha hóa của con người để trục lợi lẫn nhau hay để cứu lấy mạng sống.” Bản dịch của dịch giả Thanh Gương là một trong những bản dịch mà tôi vô cùng yêu thích trong năm 2019: ông chuyển tải được sự hài hước, cái chất tự nhiên, cái tính khẩu ngữ trong phong cách của Moravia. Nhân vật nữ Cesira hiện lên trong Hai người đàn bà cực kỳ sống động, một phụ nữ hăm hở, đầy sức sống, và cũng đầy hài hước qua giọng dịch của cố dịch giả Thanh Gương. Quả thực kỳ lạ, khi tôi xem bộ phim chuyển thể từ tác phẩm do nữ diễn viên người Ý nổi tiếng Sophia Loren thủ vai chính, tôi kinh ngạc khi những gì mình tưởng tượng về Cesira, một bà mẹ yêu con nhất mực, giống hệt với những gì mà Sophia Loren thể hiện: xinh đẹp, mạnh mẽ, chỏng lỏn (nhiều lúc).

7. Giờ Đức văn – Siegfried Lenz

df45cc5c4ad3a682331e349e71b8c7c3.jpg

Nếu vẫn tiếp nối đề tài chiến tranh và những hệ lụy của nó, một cặp đôi đến từ nước Đức rất bất ngờ khớp với nhau một cách hoàn hảo: Giờ Đức văn của Siegfried Lenz và Ký ức lạc loài của W. G. Sebald. Họ còn cùng nói một câu chuyện: ký ức, vai trò của ký ức trong việc phục dựng quá khứ và sự bất khả tín của ký ức, cũng như của dữ kiện, hay vai trò của tư liệu, của hư cấu.

Giờ Đức văn là một tác phẩm có kết cấu chuyện lồng trong chuyện. Năm 1954, trong một trại cải tạo dành cho thanh thiếu niên trên một cù lao biệt lập, Siggi Jepsen bị nhốt trong một phòng giam để hoàn thành cho xong bài tập “Niềm vui của nghĩa vụ” của một giờ Đức văn. Bị hiểu nhầm là cố tình chống đối, nhưng thực ra Siggi quá quen với đề tài này nên không biết bắt đầu từ đâu để phân tích cho ngọn ngành cái niềm vui bổn phận. Khi được cho một thời hạn thoải mái, Siggi bèn bắt tay vào dựng lại quá khứ, cái sự kiện bắt đầu vào năm 1943, khi người bố của cậu, ông cảnh sát ở trạm Rügbull nhận được cái lệnh mà ông phải tống đạt và thi hành tuyệt đối: lệnh cấm vẽ lên ông hàng xóm, Max Nansen, một họa sĩ thuộc trường phái ấn tượng bị nhà nước coi là vẽ tranh đồi trụy. Xuyên suốt những năm ấu thơ, Siggi chỉ làm một việc thuần túy là quan sát. Giờ đây, ở cái tuổi 21, lần đầu tiên một cách chủ động, Siggi trở thành một đạo diễn: hình dung ra phục trang và hành động cho từng người quen biết và dựng lại toàn bộ cả bối cảnh các câu chuyện. Tất cả xuất hiện một cách chi tiết trong bài luận của Siggi. Năm xưa, ông họa sĩ Nansen đã dạy Siggi rằng, “Nhìn không có nghĩa là thu nhận cái gì đó, rồi thôi, coi như xong… Ta bắt đầu biết cách nhìn, khi ta không còn đóng vai kẻ quan sát đứng ngoài cuộc nữa, ta chỉ bắt đầu biết cách nhìn khi ta hư cấu ra, bày đặt ra những gì ta muốn có.” Thấm nhuần lời dạy ấy, Siggi đã vẽ lại bằng ngôn từ từ cảnh quan tới mọi sự kiện trong hồi ức ở cái vùng quê gắn bó máu thịt với cậu. Nhà phê bình danh tiếng Peter Boxall, người đã đưa Giờ Đức văn vào danh sách “1001 cuốn sách phải đọc trước khi chết”, nhận xét rằng, “Điều mà Siggi đạt được trong ‘Giờ Đức văn’ của riêng cậu – một cuộc khảo cứu lịch sử của riêng cậu – cũng có thể áp dụng, trên bình diện lớn, lên cái mà Lenz coi là nhiệm vụ của văn học Đức nói chung: tìm lại và chiêm nghiệm quá khứ để hiểu hiện tại.” Những tập vở mà Siggi ghi chép dày đặc là tác phẩm anh dành cho chính mình, không phải cho ai khác. Cái mà Siggi cần không phải là bối cảnh giảm nhẹ tội, không phải là những dòng bào chữa, mà là một cái khác: những mô tả của anh nhằm phơi bày triệu chứng bệnh lý của anh (và của cả một đất nước, một dân tộc). Siggi mở kho ký ức, để có thể sống tiếp với hiện tại.

8. Ký ức lạc loài – W. G. Sebald

ki-uc-lac-loai_0e29e0f72cd942d185b45913b936ceab_1024x1024.jpg

Sebald, nhà văn Đức mà được Âu Mỹ mê hơn Đức mê, lại khai thác ký ức theo một ngạch khác: Ký ức lạc loài là nơi Sebald tạo ra phong cách riêng đỉnh cao của mình, mà giờ đây đã trở thành một thứ cliché: kết hợp ảnh, thư từ, thiệp, các loại tư liệu, nhào trộn cùng với hư cấu, để kể lại những câu chuyện, tưởng chừng như không liên quan, nhưng lại trong một cái mạch rất mơ hồ khó nắm bắt. Ký ức lạc loài kể về 4 người Đức khác nhau, một bác sỹ Henry Selwyn lưu lạc sang Anh rồi tự kết liễu đời mình, một Paul Bereyter tuy vẫn sống trên đất Đức, nhưng sau khi nghỉ hưu cũng tự sát, Ambros Adelwarth, sang Mỹ, rồi không chịu nổi gánh nặng của ký ức mà gần như tự tiêu hủy chính mình trong bệnh viện tâm thần, và ông họa sĩ Max Ferber. Họ là những con người lưu lạc, những người nhổ rễ khỏi quê hương để di cư sang vùng đất khác, tự để cho đời mình tàn đi, phải chăng là những con người bị đẩy ra bên rìa, và bị ký ức dằn vặt, tàn phá. Văn chương của Sebald đẹp và thấm đẫm nỗi buồn, một phong cách đặc biệt chỉ mình ông tìm tòi và sáng tạo ra, mà không ai có thể bắt chước nổi. Nói như André Aciman, tác giả của tác phẩm cực ăn khách Gọi em bằng tên anh, đồng thời là một phê bình gia hâm mộ Sebald nhiệt liệt, rằng, “với tư cách nhà văn, Sebald đã sáng tạo nên một thứ mỹ học bí hiểm bằng cách gom những thứ được tưởng tượng và những thứ được hồi nhớ lại với nhau; tiểu luận và tiểu thuyết của ông thách thức cái ý niệm rằng dữ kiện thì tiếp cận được sự thật mạnh mẽ hơn là những khuôn mặt nhớ sai, những chi tiết bị bỏ qua hay tin đồn tình cờ thoáng qua tai.”

9. Chết chịu – Louis-Ferdinand Céline

62463abb8843526a798cc6f6dfe51c5f.jpg

Nhân nói về phong cách riêng thì hiếm ai qua được chàng Céline mà Kurt Vonnegut vô cùng ngưỡng mộ. Céline có một bản dịch tiếng Việt được xuất bản trong 2019, và đây xứng đáng được gọi là một hiện tượng: Chết chịu. Cụm từ gắn liền với tên tuổi của một nhân vật đầy tranh cãi như Céline có lẽ và sẽ mãi mãi là: một thiên tài cực đoan. Chết chịu, tác phẩm gần 600 trang, xuất bản năm 1936 của Céline, là một minh chứng cho sự cực đoan trong văn chương: với những cách tân táo bạo về mặt hình thức, với sự phá vỡ ngôn ngữ viết truyền thống, với chủ nghĩa hư vô và phủ nhận sạch trơn đời sống, với thứ ngôn ngữ thô tục và những lộng ngôn kệch cỡm, ông tạo dựng nên một Paris với những ngõ ngách bẩn thỉu và đen tối. Céline viết, bằng một thứ sinh ngữ sống động, những từ ngữ thô kệch sống sít của đường phố, những từ lóng của đủ mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là lớp người dưới đáy, những câu chửi thề, những từ vựng mô tả các hoạt động tính giao… Không những thế, ông còn sáng chế ra một loạt từ vựng mới, mà ông tự hào coi là cách mạng trong văn chương. Đặt mình sánh ngang với các nhà họa sĩ của chủ nghĩa Ấn tượng, hay các nhạc sĩ vĩ đại, những người tạo ra những khác biệt lớn bằng việc khuấy đảo màu sắc và âm thanh, Céline xáo đổi trật tự ngôn từ và lén đẩy ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết. Viết là để cho ngôn ngữ sống, bởi ngôn ngữ chết rất nhanh, và ông ban sự sống cho ngôn ngữ bằng cách cho nó sống khi ông sử dụng nó. Con người của phong cách ấy còn thể hiện mình rõ qua những biện pháp lộng ngôn đến kệch cỡm, biến Chết chịu thành tiểu thuyết bợm nghịch đầy chất uy mua, sánh vai cùng bậc thầy François Rabelais và thậm chí ông còn được coi là người mở đầu cho thể loại hài hước đen. Ranh giới giữa hiện thực và hoang tưởng trong tác phẩm luôn bị làm mờ.

10. Khó mà tìm được một người tốt – Flannery O’Connor

kho_ma_tim_duoc_mot_nguoi_tot_web_06b43c2cb42a40bd93f60330e3a82259_1024x1024.png

Phong cách đặc trưng và tài tạo tác ra một thế giới riêng không lẫn vào đâu được đưa tôi đến tác phẩm nổi bật khác của văn học dịch năm 2019: Khó mà tìm được một người tốt của Flannery O’Connor. Là một tượng đài trên văn đàn Mỹ, Flannery O’Connor, trong khoảng thời gian ngắn ngủi 39 năm tại thế, đã để lại hai tiểu thuyết và 32 truyện ngắn, mà thế giới hư cấu của miền Nam nước Mỹ đậm đặc bạo lực và tinh thần tôn giáo viết bằng phong cách Gô tích, vĩnh viễn trở thành một tầm mức thành tựu mà có ít nhà văn khác đạt được. Tập truyện ngắn nổi tiếng nhất của O’Connor, Khó mà tìm được một người tốt, đã trở thành hình mẫu kinh điển cho nghệ thuật truyện ngắn hiện đại. Được coi là một tác giả kinh điển của văn chương Mỹ, nhưng mãi đến tận năm nay O’Connor mới xuất hiện ở Việt Nam trong một tập truyện gồm mười truyện ngắn khắc họa đời sống người dân miền Nam nước Mỹ với những cú mở nút bất ngờ nơi cái ác được miêu tả một cách dửng dưng bằng giọng văn đặc chất hài hước đen. Những cái ác và những pha bạo lực ập đến trong truyện của bà trong những tình thế bất ngờ nhất, như là một trong những phương cách để tác giả phơi bày những mặt tối của nhân tính, để từ đó tạo ra những phút giây ân sủng, hay đốn ngộ. Joyce Carol Oates nhận xét rằng, dẫu cùng là nhà văn miền Nam với nhau, nhưng O’Connor không giống với William Faulkner bằng giống Kafka và Kierkegaard. Văn chương của O’Connor gây ảnh hưởng lớn tới nhiều nhà làm phim nổi tiếng sau này như anh em nhà Coen. Trong một cuộc phỏng vấn, họ thú nhận rằng, “Anh có thể nhận ra sự ngưỡng mộ của chúng tôi dành cho các nhà văn miền nam như […] Flannery O’Connor. Bà ấy hiểu biết thật sự được tâm lý người miền Nam mà nhiều nhà văn khác không có được.” Mỗi nhà văn tạo ra được tác phẩm của mình thế giới theo đặc điểm riêng của họ, và đó chính là dấu ấn của thiên tài. Độc giả không bao giờ có thể nhầm lẫn O’Connor với ai khác, một khi đã bước chân vào cái thế giới đầy nghịch dị với những chân dung nhân vật như biếm họa, những con người khao khát sục sạo đi tìm chính mình và đi tìm đức tin, nhưng thường luôn thất bại.

Trong một cái nhìn tổng thể, văn học dịch của 2019 bày ra những chủ đề thú vị và khiến người đọc phải chiêm nghiệm, chẳng hạn như: con người chống lại thời đại, ký ức và những gương mặt tráo trở của nó, sự hiểm nguy của làm người và những biến thể của cảm xúc, lịch sử và cách chúng ta nhìn nhận và tạo tác nó, chiến tranh và sự vô nghĩa của bạo lực, con người và quá trình truy tìm căn tính… Đọc văn chương, ngoài đi tìm chính mình, ngoài đi tìm cuộc đời và hiện thực khác, còn là cách, để ta thử thách chính mình trong công cuộc truy lùng cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

Madame Z

P/s: Thứ tự 10 cuốn sách được sắp xếp ngẫu nhiên. Sẽ còn một top ten khác.

 

[1] Văn học dịch chỉ chiếm 3% số sách xuất bản ở Mỹ. Chad Post, dưới sự hỗ trợ của trường đại học Rochester, đã lập ra trang web Three Percent để cổ xúy cho văn học dịch.

One thought on “Top 10 Văn học dịch 2019

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s