Một năm đọc sách: 2019 – Sách cho người yêu tiếng Pháp

Khoảng từ ba năm nay, tôi không còn đặt mục tiêu đọc sách cho mình nữa, bởi vì tôi biết rằng, đến cuối cùng, tôi cũng chẳng hoàn thành được vì nhiều lý do. Tôi đọc sách chủ yếu vì yêu thích, vì hứng thú. Khi có hứng, tôi có thể ở lì trong nhà mấy ngày liền để đọc một hay nhiều quyển sách mà tôi thích (nếu điều kiện cho phép!). Và cho dù không có hứng, tôi cũng phải ép mình đọc sách, nếu không thì sẽ chẳng kịp hoàn thành bài luận để nộp. Và tôi nhận ra một điều, có lẽ nhiều anh chị bạn bè trong ngành cũng nhận ra từ lâu, rằng đọc sách vì yêu thích và đọc sách để làm nghiên cứu mang lại những cảm xúc rất khác nhau. Khi đọc vì yêu thích, ta không đặt bất kỳ sự phê bình nào vào trước cả. Ta từ tốn trôi theo từng dòng từng chữ, dành thời gian nghiền ngẫm và sống trọn với nhân vật, giữ những xúc cảm vẹn nguyên của mình. Khi đọc để làm nghiên cứu, cách tiếp cận đã khác, ta đặt mình dưới góc nhìn phê bình văn học, phải chú ý xem ngôn từ, cách hành văn ra sao, phải nhìn ra được điểm này điểm kia trong tác phẩm có liên hệ đến vấn đề gì trong xã hội, vân vân mây mây. Có thể nói, đọc để làm nghiên cứu khô khan hơn, vì ta luôn có một mục đích “mổ xẻ” nào đó với quyển sách ta đọc. Trong năm 2019 này, rất may là tôi đã cân bằng được cả hai cách đọc sách kể trên, mặc dù đôi lúc vẫn mang tính phê bình ngay từ những trang đầu tiên của một quyển sách mà mình đọc nó chỉ vì mình thích. Nhưng nghĩ lại thì như thế cũng hay, biết đâu sau này lại nảy ra một ý tưởng hay ho để làm nghiên cứu. Tôi sẽ giới thiệu với các bạn một số quyển sách mà tôi đã đọc trong năm 2019, tất cả đều thuộc về Văn học Pháp, trong số đó có thể có những tác phẩm rất quen thuộc với các bạn, một số khác ít nghe đến hơn.

  1. Le Petit Nicolas (Nhóc Nicolas) – René Goscinny và Jean-Jacques Sempé

Năm 2019 là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 của Nhóc Nicolas, thế là cậu nhóc ấy đã đi được gần hết đời người. Giới thiệu bộ truyện này đầu tiên bởi vì tôi rất mê Nhóc Nicolas. Tôi đọc nó khá nhiều lần, đọc đi đọc lại đến thuộc. Ngay cả phim chuyển thể từ truyện tôi cũng chọn xem đi xem lại mỗi dịp nghỉ lễ. Tôi có trọn bộ truyện bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Việt. Không những vậy tôi cũng sưu tầm nhiều thứ khác về cậu nhóc này, ví dụ như từ điển bỏ túi tiếng Pháp của nhà xuất bản Le Robert có tiêu đề Le Robert du Petit Nicolas với phần giới thiệu rằng sẽ giúp bạn viết đúng chính tả, sẽ không mắc lỗi như Clotaire khi giả danh cha mình viết thư xin phép gửi cho cô giáo và bị cô phát hiện do sai quá nhiều, hay những tập truyện chọn lọc in riêng theo chủ đề.

nhoc nicolas.jpg

Nhóc Nicolas xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp dưới dạng truyện tranh được in trên báo Sud Ouest Dimanche trong số ra dành cho lễ Phục Sinh vào tháng 3 năm 1959. Sau đó, tác giả Goscinny đã chuyển Nhóc Nicolas thành dạng truyện chữ và Sempé tiếp tục là người minh họa cho bộ truyện này. Bộ truyện gồm 222 mẩu truyện ngắn về cuộc sống thường ngày của cậu nhóc Nicolas, về gia đình và bạn bè của cậu. Các câu chuyện được tác giả Goscinny kể với giọng điệu dí dỏm, hài hước, các suy nghĩ được bày tỏ dưới lăng kính trẻ thơ của một cậu bé khoảng 7-10 tuổi. Nhân vật thể hiện những suy nghĩ ngây thơ của mình về thế giới, đặc biệt về giáo dục hay các cuộc cãi vã trong gia đình. Vì đối tượng hướng đến ngay từ đầu của hai tác giả là thiếu nhi, nên các câu chuyện và ngôn từ sử dụng vô cùng dễ hiểu, do đó bạn không cần phải có kiến thức uyên thâm hay trình độ tiếng Pháp thuộc hàng thượng thừa để hiểu được tác phẩm. Tuy nhiên nói như vậy cũng không hoàn toàn chính xác, nếu bạn đọc tác phẩm bằng tiếng Pháp thì đôi lúc bạn cần có chút kiến thức về văn hóa, lịch sử hay ngôn ngữ để hiểu được cách chơi chữ của tác giả, hiểu một số thành ngữ tục ngữ Pháp trong tác phẩm, hoặc biết một chút về các món ăn truyền thống của Pháp, hoặc thêm nữa là về vài nhân vật nổi tiếng trong thế chiến hay các huyền thoại bóng đá Pháp mà tác giả nhắc đến trong các mẩu truyện của mình. Nhưng nếu bạn đọc bản dịch tiếng Việt thì bạn không phải lo lắng về những điều đó, bởi vì các dịch giả đã đính kèm rất nhiều chú thích để bạn hiểu hơn về nước Pháp, tiếng Pháp.

Tôi cũng không biết phải nói thế nào về lý do tôi thích Nhóc Nicolas nữa. Tôi chỉ biết tôi thích vậy thôi. Có lẽ là mỗi lần đọc Nhóc Nicolas tôi đều nhìn thấy tôi trong đó. Tuy Nhóc Nicolas là con trai nhưng hình tượng ấy có thể ứng với tất cả các cô cậu bé trên thế giới, những việc nhăng nhít mà khi còn bé chúng ta mắc phải đều chẳng khác gì nhau mấy, chỉ là cấp độ và cách hành sự sẽ khác nhau ở người này hay người kia. Với trí tưởng tượng vô hạn thì ta có thể nghĩ ra hàng trăm, hàng ngàn trò chơi tinh quái đúng chất con nít, đôi khi chỉ một trò chơi đơn giản nhưng cũng là cả một thế giới với chúng ta. Là con nít nên ta dễ dàng nổi cáu hay khóc lóc ăn vạ để đòi đồ chơi. Nhưng khi được nhẹ nhàng dỗ dành thì ta nguôi ngoai ngay, và rồi ta cũng chẳng còn để bụng việc gì nữa, lại trở về trạng thái vô tư vô lo. Nhóc Nicolas và đám bạn tinh quái của cậu bé đều như vậy đó. Chúng vui vẻ nô đùa cùng nhau, cùng làm những điều ngốc nghếch. Tuy thân nhưng lắm lần chúng cũng cãi vã, cũng đánh đấm, mà chúng thấy vui lắm. Cho dù trong mắt thầy Nước Lèo, thầy giám thị nổi tiếng với câu « Hãy nhìn vào mắt của tôi đây ! » hay trong mắt thầy hiệu trưởng, với những trò đùa không dứt của chúng, chúng sẽ trở thành những « kẻ vô giáo dục và sớm muộn cũng sẽ phải vào tù ra tội ».

Tôi chắc chắn rằng đọc Nhóc Nicolas, các bạn sẽ bật cười và ít nhiều thấy bản thân mình thấp thoáng trong đó. Có thể bạn sẽ không là một Nhóc Nicolas, mà sẽ là Agnan, cục cưng của cô giáo, hay sẽ là Alceste, đứa lúc nào cũng có gì đó để ăn, hay như Geoffroy, đứa có ông bố vô cùng giàu có sẽ mua hàng tá đồ chơi mới cho nó. Dù là ai đi nữa, bạn cũng đã có một tuổi thơ vô cùng dữ dội và vui vẻ. Hãy đọc Nhóc Nicolas đi, rồi bạn sẽ thấy « Con nít thì giống quá mà người lớn thì nhớ quá ».

  1. La guerre des boutons (Cuộc chiến khuy cúc) – Louis Pergaud

Đây là một tác phẩm thiếu nhi kinh điển của Văn học Pháp xuất bản năm 1912, hầu như người Pháp nào cũng từng đọc qua vài chương vì tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở bậc phổ thông. Tôi bắt đầu đọc những trang đầu tiên trên file PDF từ cách đây hai năm nhưng việc này việc kia ập đến rồi mãi mà không hoàn thành, cũng vì đọc trên máy thì tôi dễ bị xao nhãng nên đành tạm gác lại quyển đấy luôn. Vừa rồi có ông bác người Pháp dọn nhà, ông ấy tặng tôi quyển sách ấy, thế là tôi đọc, dù sao đọc sách giấy dễ chịu hơn nhiều.

Câu chuyện xoay quanh các cuộc chiến dai dẳng giữa đám nhóc của làng Longeverne, dẫn đầu là thủ lĩnh Lebrac, và nhóm của Aztec đến từ làng Velrans vào cuối thế kỷ 19. Hai làng đã có hiềm khích từ lâu chỉ vì một nguyên nhân trời ơi đất hỡi là chuyện con bò chết. Cái hiềm khích ấy được bọn trẻ hai làng khắc cốt ghi tâm. Chúng thường xuyên đến khu rừng nơi tiếp giáp hai làng để chiến đấu. Chúng bắt đầu bằng những màn chửi rủa, miệt thị nhau, rồi chúng ném sỏi đá vào nhau, sau đó là các cuộc giáp lá cà nảy lửa. Đôi khi làng Longeverne thắng, và đôi khi là làng Velrans. Khi bắt được một con tin từ phe địch, chúng vô cùng hả hê cắt hết khuy cúc trên áo quần và tháo dây giày hay dây lưng của con tin. Đối với các con tin ngoan cố, chúng sẽ cầm cành cây tét vào mông con tin đến sưng vù. Quả thật, các cuộc chiến được miêu tả trong truyện vô cùng sống động và quy mô. Tôi có cảm tưởng đang được nghe kể về các cuộc chiến đấu oai hùng trong lịch sử. Bọn nhóc lên kế hoạch tác chiến tỉ mỉ đến từng chi tiết, chúng cử trinh sát đi theo dõi, lập căn cứ và chuẩn bị quân lương. Chúng còn có hậu phương vững chắc là cô em gái của thằng Tintin sẽ luôn túc trực để khâu vá lại áo quần nếu lỡ may đứa nào trong bọn bị bắt. Chúng là những chiến binh quả cảm, nhất quyết không rơi một giọt nước mắt dù bị phe địch tẩn một trận ra trò, dù bị lột truồng hay bị đánh đến u đầu mẻ trán. Nhưng chúng vẫn là những đứa trẻ, mỗi lần trở về nhà trong bộ trang phục dơ bẩn nhem nhuốc hay ham chơi không lo học bài, chúng lại bị cha mẹ vụt roi đen đét vào mông, thế là chúng òa khóc nức nở. Cái hôm chúng bị phản bội bởi thằng Bacaillé trong nhóm, thì « từ mọi ngôi nhà trong làng vang lên tiếng khóc, tiếng gào, tiếng chửi, tiếng thở khò khè lẫn với tiếng chân đạp thình thịch, tiếng đấm binh binh, tiếng bàn ghế đổ ». Tuy vậy, bất chấp đòn roi từ cha mẹ hay đòn thù từ phe địch, chúng vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu, vẫn ấp ủ kế hoạch cho các cuộc chiến mới. Chúng quả quyết cho dù cha mẹ ngăn cản, cho dù có đứa nhát gan không dám chơi thì chúng vẫn sẽ một mình chiến đấu với bọn Velrans, bởi vì trong suy nghĩ của chúng « Họ làm như tụi mình không biết hồi nhỏ họ cũng nghịch y như vậy ! ».

cuoc chien khuy cuc.jpg

Điều thú vị nhất đối với tôi khi đọc tác phẩm này chính là tôi được biết thêm nhiều từ bậy trong tiếng Pháp. Như tác giả đã nhắc đến ở phần đề từ, ông sẽ không dùng tiếng Pháp của Racine, thứ tiếng Pháp mỹ miều, hàn lâm, mà ông sẽ viết với « những từ ngữ dung tục, miễn là nó lý thú » theo kiểu Rabelais. Do đó, mọi thứ được ông kể và miêu tả rất thực, rất sống động với lối diễn đạt đầy hình tượng, có pha chút ngổ ngáo, bất cần của các nhân vật. Các pha chửi rủa miệt thị nhau của đám nhóc hai làng sẽ không thể nào gay cấn và quyết liệt hơn nếu thiếu đi các từ bậy ấy. Tôi đánh giá cao cách viết trần trụi mà không phản cảm này của Louis Pergaud. Nếu bạn muốn « đổi gió », tức là không muốn đọc những tác phẩm với cách hành văn dài dòng, trau chuốt như của Proust thì có thể chọn đọc Cuộc chiến khuy cúc. Tôi chắc rằng bạn sẽ thấy thú vị vì học được một bồ từ bậy giống tôi.

  1. Truyện ngắn của J.M.G. Le Clézio

Jean-Marie Gustave Le Clézio sinh năm 1940 tại Nice. Ông nhận giải Renaudot vào năm 1963 cho tiểu thuyết đầu tay của mình Le Procès-verbal (Biên bản) và nhận giải Nobel Văn học vào năm 2008. Tác phẩm của Le Clézio là sự hòa trộn giữa hiện thực và hư ảo, nó là một chuỗi đan xen những sự kiện rất đời thường, bình dị trong cuộc sống mà đôi khi ta vô tình bỏ quên. Khi đọc tác phẩm của Le Clézio, ta luôn cảm thấy mọi thứ trôi qua nhẹ nhàng, êm dịu, ta luôn thấy đâu đó hiện hữu trong tác phẩm một sự tự do. Ở đây tôi giới thiệu với các bạn hai truyện ngắn mà tôi thích, đó là Mondo Celui qui n’avait jamais vu la mer (Người chưa bao giờ thấy biển). Cả hai truyện ngắn này đều được in trong tập Mondo et d’autres histoires (Mondo và những câu chuyện khác). Các nhân vật chính của truyện Mondo hay Daniel đều đi tìm hạnh phúc cho mình bằng những cách khác thường. Những đứa trẻ này luôn cô đơn, thích một mình, chúng chấp nhận những thái độ sống mới trái ngược với các thể chế của thế giới hiện đại để đạt được sự tự do mà chúng muốn. Ngoài ra, ta cũng nhận thấy rõ bật lên trên tác phẩm của Le Clézio là mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và vũ trụ, đặc biệt là biển, được thể hiện qua việc những đứa trẻ luôn yêu thích tìm tòi và khám phá thế giới, chúng hòa mình với thiên nhiên, chúng tạo nên liên kết giữa con người và cuộc sống. Ta sẽ thấy thiên nhiên, cảnh vật xung quanh được miêu tả rất tài tình, nên thơ trong các tác phẩm của Le Clézio.

Mondo

Mondo.jpg

Truyện viết về Mondo, một cậu bé mồ côi sống lang thang rày đây mai đó, nó thực là một kẻ du mục tự do. Nó làm việc ở khu chợ nơi những người bán rau, mọi người đều yêu quý nó. Khi xong việc nó sẽ ngắm ông rửa đường, ngắm « những giọt nước nhỏ tỏa bay và rơi như mưa xuống thùng xe và kính chắn gió », sau đó nó lại đi ngắm biển hay dãy đồi cháy xém. Phần lớn thời gian, Mondo dạo chơi trong thành phố mà không mục đích, nó ngắm cảnh vật và kết bạn với những người lang thang giống nó, như nhà ảo thuật đường phố « le Gitan », ông nhạc sĩ say rượu « le Cosaque », và anh bạn cũ Dadi, người có hai chú chim bồ câu làm bạn. Nó thường ở cùng những người bạn này để ngắm nhìn thành phố lúc chiều tà và cùng chia nhau những thức ăn có được nhờ tiền bố thí của người qua đường. Mondo luôn chào mọi người bằng một nụ cười trên môi và đôi mắt híp lại lấp lánh. Khi ai đó làm nó thích, nó sẽ hỏi họ rằng : « Ông bà có muốn nhận cháu làm con nuôi không ? » rồi không đợi câu trả lời, nó lại bỏ đi mất. Mondo không biết chữ nhưng vô cùng thích đọc truyện tranh, và cũng khao khát được học chữ. Cuộc sống của nó cứ êm ả trôi với những cuộc dạo chơi để ngắm nhìn vẻ đẹp của biển trời, với những người bạn nó làm quen được trên hành trình của nó, với ngôi nhà có khu vườn tuyệt đẹp của Thi Chin, một bà cụ người Việt Nam, người đã rộng lượng cho nó vào ở cùng. Rồi một ngày kia nó biến mất, để lại cho những người quen biết nó một câu hỏi rằng nó đã đi đâu, rằng nó có quay trở lại không. Họ, những người ở lại cứ chờ đợi mãi, nhất là Thi Chin, để rồi lâu sau, bà nhìn thấy thông điệp mà có lẽ là nó để lại cho bà bằng những nét khắc nguệch ngoạc trên một hòn đá « TOUJOURS BEAUCOUP » (Mãi mãi Lắm lắm).

Câu chuyện mở ra và khép lại rất nhẹ nhàng và sâu lắng nhưng cũng đủ làm tôi thổn thức và có chút đau lòng. Mondo đến thành phố vào mùa hạ và nó rời đi cũng vào một ngày mùa hạ. Nhưng mùa hạ sau đã khác xưa rất nhiều, qua sự miêu tả cảnh vật và lời kể của Le Clézio, ta dường như thấy một sự thay đổi rõ rệt, đã có một nỗi u buồn bao trùm lên cảnh vật khi thiếu vắng Mondo, sẽ không còn ai ở bên cùng Thi Chin ngắm trời về đêm, sẽ không còn ai đến trò chuyện cùng ông lão có gương mặt người Ấn, không còn ai đến hát cho con tàu Oxyton nghe một giai điệu nữa. Và hai chữ « Mãi mãi Lắm lắm » bị bụi xóa mất phân nửa đã đánh dấu sự kết thúc và khẳng định sự ra đi mãi mãi của Mondo, cậu chắc chắn sẽ không bao giờ trở lại. Khi đọc hai chữ ấy tôi đã bật khóc, khóc vì buồn và khóc vì hụt hẫng. Có lẽ tôi đã sống trọn với nhân vật Thi Chin để cảm nhận hết được khoảng trống mà Mondo để lại và xúc động tột cùng khi tình cờ nhìn thấy lời nhắn, đó là lời chia tay của Mondo hay cũng có thể là lời cảm ơn đã cưu mang cậu bé.

Celui qui n’avait jamais vu la mer (Người chưa bao giờ thấy biển)

người biển.jpg

Câu chuyện nói về Daniel, một cậu bé có niềm đam mê mãnh liệt với biển. Nó dường như dị biệt khi được miêu tả rằng « như thể thuộc về dòng giống khác ». Thậm chí cả suy nghĩ về biển của nó cũng không giống những người khác. Đối với nó, biển không phải là những bãi tắm, những chuyến đi săn ngầm, những bãi biển hay cơn cảm nắng, mà là một loại biển khác, một loại biển người ta chẳng biết rõ. Có thể vì muốn tìm định nghĩa thật sự về biển, về loại biển mà nó tin tưởng, Daniel đã quyết định ra đi. Một sự ra đi tất yếu để giải thoát bản thân khỏi những gò bó của thực tại, để khám phá một chân trời mới. Và với cuộc phiêu lưu mạo hiểm ấy, Daniel đã tìm thấy điều mà cậu ước ao, một loại biển của riêng cậu. Một mình cậu bé với thiên nhiên hùng vĩ, đại dương xanh thẳm với những đợt sóng gầm ào ạt xô vào bờ tạo nên những tiếng động mãnh liệt. Cậu bé phấn khởi, không chút e dè ùa đến biển, cậu chạy thật nhanh để chạm chân vào nước, cậu nằm hồi lâu trên cát để chờ đợi được nhìn ngắm thủy triều. Rồi cậu như làm chủ được biển, cậu khẽ nói với biển : « Nào ! Hãy dâng lên tận đây đi ! Lại đây ! » và cùng lúc cậu dần lùi về phía chỗ cao của bãi cát. Daniel nô đùa với biển như thể một người bạn. Nó hoàn toàn tự do, một khoảng trời chỉ có nó và biển. Ở đây, ngoài biển, nó còn một người bạn khác là một con bạch tuộc mà nó đặt tên là Wiatt. Hai thực thể dù thuộc hai giống loài khác nhau nhưng chúng vẫn hiểu được nhau, giao tiếp với nhau. Đối mặt với thiên nhiên, cậu bé cảm nhận được cả sự đơn độc, sự im lặng của đá trần trụi bị nước biển bào mòn, nhìn thấy ánh sáng phản chiếu giữa mặt biển và các phiến đá, hay cả sắc trắng của muối biển. Rồi cậu bé thấy rằng dường như « muối và ánh sáng không muốn người ta ngồi yên tại chỗ, chúng buộc người ta nhảy múa, chạy, nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác ». Những miêu tả đầy sống động của tác giả khơi dậy tất cả giác quan của tôi, tôi cảm tưởng như mình có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ, thấy lấp lánh ánh mặt trời soi rọi, ngửi được mùi biển, nếm được vị mặn của muối biển, cảm giác được nước biển mát lạnh thẩm thấu qua da. Daniel ở đó một mình, đối mặt với sự nguy hiểm và khắc nghiệt nhưng cũng rất đỗi dịu êm của biển cả. Cậu bé tưởng tượng mình giống như Sinbad dũng cảm đối mặt với hiểm nguy, cậu không sợ hãi hay chùn bước trước những đợt sóng biển cuồn cuộn đang tiếp nối nhau ập vào bờ. Rồi câu chuyện khép lại với những câu hỏi về tương lai của Daniel và những suy tư của người ở lại trên đất liền, những bạn bè đã được báo trước về sự ra đi của cậu bé. Có vẻ như hành động của Daniel đã tác động đến họ, khơi lên trong họ một niềm hứng khởi khám phá, một sự dũng cảm bước chân ra khỏi vùng an toàn để tìm đến những nơi kỳ lạ, để làm những việc bất khả như cái cách mà Daniel đã thực hiện.

Đối với tôi, tác phẩm không chỉ để lại ấn tượng về một đại dương bao la, đẹp đẽ được miêu tả tuyệt vời dưới ngòi bút của Le Clézio mà còn ẩn chứa thông điệp ngầm khuyến khích chúng ta hãy dám ước mơ và dám đi theo ước mơ ấy. Khi ta đủ tin tưởng vào ước mơ của mình, ta sẽ dám liều lĩnh và dấn thân trải nghiệm.

  1. Tác phẩm của Kim Thúy

Kim Thúy là một nhà văn người Canada gốc Việt, hiện đang sống và làm việc tại Montréal. Cô sinh năm 1968 tại Sài Gòn. Vào năm 10 tuổi, cô cùng gia đình vượt biên theo đường biển đến tị nạn ở Malaysia rồi sau đó định cư ở Canada. Kim Thúy từng là luật sư, sau đó chuyển sang lĩnh vực nhà hàng. Cô cũng từng làm biên-phiên dịch, thợ may hay phụ trách chuyên mục ẩm thực cho ra-đi-ô và đài truyền hình. Các tác phẩm của Kim Thúy đều được viết bằng tiếng Pháp. Với tác phẩm đầu tay Ru, Kim Thúy nhận được giải của Văn học của Canada năm 2010, cùng năm đó, cô cũng được giải thưởng lớn RTL-Lire tại Salon Sách ở Paris và giải do độc giả bình chọn tại Salon Sách ở Montréal. Năm 2018, cô có tên trong top 4 những nhà văn được bình chọn ở giải thay thế Nobel Văn học.

Ru

ru

Ru được xuất bản năm 2009, là tác phẩm đầu tay của Kim Thúy, hiện chưa có ấn bản tiếng Việt. Ấn bản tiếng Anh của Ru ra mắt năm 2012 do Sheila Fischman chuyển ngữ. Theo chính tác giả, tựa đề « Ru » vừa mang nghĩa tiếng Việt vừa có nghĩa tiếng Pháp. Ở tiếng Việt, ta dễ hiểu ru chính là lời ru, hay hành động ru. Trong tiếng Pháp, theo nghĩa đen, ru có nghĩa là dòng suối nhỏ, và ở nghĩa bóng, nó có nghĩa là dòng chảy (của nước mắt, của máu, của tiền). Ru viết về đề tài chiến tranh, vượt biên và định cư. Tác phẩm được viết dựa trên câu chuyện có thật của chính tác giả, tường thuật lại trải nghiệm của nhân vật Nguyen An Tinh, về hành trình vượt biên đầy nguy hiểm và về sự hòa nhập của nhân vật với cuộc sống mới. Suốt cuộc hành trình của mình, nhân vật nêu lên những suy ngẫm và hồi tưởng lại chuyện quá khứ, đặc biệt là chuyện con lai, tình yêu và chuyến hồi hương về nơi quê cha đất tổ với nhiều bỡ ngỡ. Kim Thúy tự nhận mình không phải một nhà văn chuyên nghiệp, cô cho biết trong một bài phỏng vấn rằng các tác phẩm ra đời khi cô dừng xe chờ đèn đỏ, mỗi lần dừng xe lâu cô lại viết. Cô nói rằng cô chỉ đơn giản ghi lại những gì nảy ra trong đầu. Có lẽ vì vậy mà cách hành văn của cô không cầu kỳ, hoa mỹ mà mang một cái gì đó gần gũi, chân thực.

Qua tác phẩm, ta sẽ hiểu thêm về sự khắc nghiệt của chiến tranh, những đau khổ mà con người ta phải trải qua trên hành trình vượt biên đầy thách thức, nằm lửng lơ ở bờ vực của sự sống và cái chết. Ta thấy được cách biệt giàu – nghèo, vị trí xã hội hay quan điểm chính trị ảnh hưởng thế nào đến các thành viên trong gia đình. Ta sẽ thêm hiểu về thân phận con lai không được thừa nhận nguồn cội, gốc gác, nỗi đau chưa từng biết về người cha của mình, hay hơn hết là nỗi đau bị kỳ thị, xa lánh từ những người Việt Nam quanh mình. Ngoài ra, Kim Thúy cũng phác họa giai đoạn khó khăn khi phải hòa nhập vào cuộc sống mới, mà ở đó cô phải dùng một ngôn ngữ khác không phải tiếng Việt, mà ở đó cách thức sinh hoạt và văn hóa cũng vô cùng khác biệt, nó đòi hỏi ta phải nỗ lực vươn lên để không bị cô lập hay bỏ lại phía sau, cũng như ta phải chấp nhận mở lòng để người khác có thể giúp đỡ ta. Tác phẩm rất ngắn nhưng gói ghém đủ những suy tư và tâm tình của Kim Thúy về một quãng đời mình. Tôi chắc chắn rằng sẽ không tốn nhiều thời gian của các bạn để hoàn thành quyển sách này. Nếu có dịp, các bạn nên đọc Ru, đọc để thông cảm và thấu hiểu cho những kiếp thuyền nhân.

Mãn

mãn.jpg

Đôi khi một người mẹ là không đủ, ta cần đến ba, người sinh ra ta, người tiếp nhận ta và người nuôi dạy ta khôn lớn. Đôi khi làm mẹ thôi cũng chưa đủ, ta phải trở thành một người bạn, phải thể hiện bằng cử chỉ và có những lời yêu thương đến con của ta. Đôi khi để được trọn vẹn, ngoài việc có một người chồng, những đứa con hay sự thành công, ta cũng cần phải tự mình khám phá tình yêu, sự thật và những thứ mà ta chưa từng dám mơ ước đến.

Tiếp nối Ru, Kim Thúy cho ra đời Mãn. Vẫn lấy đề tài về một người con xa xứ và sự hòa nhập vào cuộc sống mới, ở Mãn, ta lại thấy một sự tìm tòi, khám phá, học hỏi qua một phương pháp vô cùng đặc biệt, đó chính là học những điều mới thông qua ẩm thực. Mãn tự thuật về cuộc đời mình từ khi sinh ra tại Việt Nam cho đến khi được tái sinh tại Canada. Cô gái trẻ và người chồng được mai mối di cư đến Québec, cùng làm việc trong một nhà hàng nhỏ nơi mà khách hàng chủ yếu là những người Việt xa xứ. Họ thường lui tới để thưởng thức những món ăn giản đơn của quê hương, để dành chút thời gian hồi tưởng về nguồn cội và quá khứ của mình. Tại chính nhà hàng này, Mãn quen được Julie, một người phụ nữ đầy tài năng và đáng mến. Julie thường tổ chức các buổi nói chuyện và hướng dẫn nấu ăn, qua đó giúp quảng bá cho Mãn, để rồi Mãn dần có cơ hội được tham dự những buổi gặp gỡ quốc tế về ẩm thực. Trong một chuyến đi đến Paris, cô đã gặp và có một tình yêu nồng cháy với Lực, một đầu bếp Pháp gốc Việt. Không cưỡng lại được mê lực của tình yêu dù cả hai đã có gia đình riêng, họ dành thời gian hò hẹn, ở cạnh nhau, cùng nhau nấu ăn. Mãn nói rằng đến khi gặp Lực cô mới thật sự tìm được tình yêu của đời mình, tìm được người làm cô rung động. Tuy vậy (may mắn thay!), đến cuối cùng hai người đã quyết định dừng lại và trở về với cuộc sống riêng của mình, họ xem nhau như một kỷ niệm đẹp.

Ngoài câu chuyện tình yêu và các mối quan hệ của Mãn, ẩm thực là một phần đặc biệt trong tác phẩm. Như đã nói ở phần đầu, nhờ ẩm thực mà Mãn học thêm nhiều điều về ngôn ngữ và văn hóa. Kim Thúy đã khéo léo lồng ghép vào câu chuyện của Mãn những nét văn hóa Việt Nam, giới thiệu những món ăn Việt Nam và quan điểm ẩm thực của người Việt Nam. Ngoài ra, ở mỗi đoạn tự sự, tác giả cũng lựa chọn in kèm một từ khóa tiếng Việt và từ tương đương của nó trong tiếng Pháp. Tôi đồng ý với nhận xét của tác giả trong vấn đề ẩm thực hằng ngày rằng cùng một món ăn nhưng tùy vào mỗi đầu bếp mà cho ra những hương vị khác nhau, nó phụ thuộc khá nhiều vào tâm trạng của người nấu. Hơn nữa, chúng ta cũng nêm nếm gia vị theo kiểu áng chừng và thói quen, cho nên một món ăn ngon hoàn hảo cũng chỉ mang tính tương đối.

Mãn là tác phẩm vừa tạo hứng thú mà cũng vừa gây ức chế với tôi nhất. Hứng thú là do trong tác phẩm có giới thiệu và miêu tả rất chi tiết cách làm và nguyên liệu của một số món ăn Việt Nam, và tất nhiên nhờ vậy mà tôi lại học được vô số từ vựng về ẩm thực, sau này nếu tình cờ có bạn bè Pháp nào hỏi cách làm thì tôi cũng tự tin diễn đạt và hướng dẫn thực hiện. Kim Thúy cũng tặng thêm cho độc giả ở phần cuối sách một số công thức nấu ăn Việt Nam như món phở gà, canh chua, cá kho, bánh chuối, ngoài ra còn hướng dẫn cả cách pha cà phê phin sữa đặc đậm chất Việt Nam. Còn điều tôi không thích trong tác phẩm chính là câu chuyện tình yêu giữa Mãn và Lực, mà với tôi đó chính xác là ngoại tình. Mãn hiện lên với tôi là một người phụ nữ Việt Nam truyền thống dù cô đã được tiếp xúc với nền văn hóa Tây phương. Song, khi gặp Lực, có vẻ những nét thuần phong mỹ tục cô gìn giữ bấy lâu nay đã bị cô đánh rơi mất. Dù biết rằng hôn nhân giữa Mãn với chồng cô là sự sắp đặt của hai gia đình nhưng cũng không thể vì thế mà cô có thể lén lút qua lại với Lực. Vì cả hai đều có một gia đình êm ấm, hạnh phúc, nên tôi không chấp nhận được việc cả hai nảy sinh tình cảm riêng. Có thể tác giả muốn tạo thêm độ kịch tính cho tác phẩm, nhưng với tôi thì đó lại là một chi tiết dư thừa, tôi nghĩ như vậy.

  1. Perdre la demeure – Phạm Văn Ký

Phạm Văn Ký, anh trai của nhà văn Phạm Hổ, sinh năm 1910, mất năm 1992, là tiểu thuyết gia và kịch gia. Ông là nhà văn Việt Nam Pháp ngữ của thế kỷ 20 có số lượng tác phẩm được xuất bản nhiều nhất tại Pháp. Trước khi chuyển đến sinh sống và làm việc tại Pháp, ông đã được biết đến ở Việt Nam với vai trò là nhà báo. Năm 1936, ông cho xuất bản tập thơ tiếng Pháp với tựa đề Une Voix sur la voie. Sau này ông thành danh với vai trò nhà văn tại Pháp, ông viết nhiều thể loại từ tiểu thuyết, đến thơ và đặc biệt là kịch. (Ở đây, tôi chỉ tập trung vào phần tiểu thuyết.) Một số tiểu thuyết tiêu biểu của Phạm Văn Ký gồm : Frère de sang, Celui qui régnera, Les Yeux courroucés, Les Contemporains, Perdre la demeure. Các tác phẩm của ông chủ yếu là suy tư về sự gặp gỡ, giao thoa giữa các nền văn hóa, thậm chí là những xung đột giữa văn hóa Việt Nam và Pháp, giữa những gì thuộc về phương Đông và phương Tây. Các tác phẩm cho thấy kiến thức uyên thâm của ông về nhiều nền văn hóa trên thế giới từ Đông sang Tây, vốn từ vựng tiếng Pháp vô cùng phong phú và đặc sắc, cách hành văn gồm nhiều câu phức và khá dài mà khi đọc vào ta thấy thấp thoáng bóng dáng của Proust.

mat noi o.jpg

Perdre la demeure là tiểu thuyết được xuất bản vào năm 1961 bởi nhà xuất bản Gallimard, bản tiếng Việt do Phạm Văn Ba dịch xuất bản bởi nhà xuất bản Hội Nhà Văn vào năm 2006 với tựa đề Mất nơi ở. Với tác phẩm này, ông đã vinh dự nhận được Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp vào cùng năm 1961. Câu chuyện trong Mất nơi ở lấy bối cảnh năm 1870 tại Nhật, sau chiến thắng của Hoàng đế Meiji trước thế lực của Shogun và công cuộc hiện đại hóa ở Nhật Bản. Đã một năm từ khi thủ đô Nhật Bản chuyển từ Kyoto sang Tokyo, các kỹ sư người Anh được giao xây dựng tuyến đường sắt nối Tokyo đến Yokohama. Sau đó, Hoàng đế ra lệnh xây dựng thêm một tuyến đường sắt nối liền hai thành phố Etu-screp ở đảo Hokkaido (Yeso) với thành phố Sapporo. Để làm được điều đó, họ cần phải băng xuyên rừng và núi dày để thiết lập tuyến đường, các kỹ sư người Anh vì thế đã ra sức hoàn thành kế hoạch một cách trơn tru nhất. Nhân công làm đường sắt bao gồm người Nhật, Hàn và Ainos – những thổ dân được đưa đến từ Yeso cùng vợ con. Họ được bảo hộ và canh chừng bởi quân đội của Hoàng đế, một bộ phận trong đó được chỉ huy bởi Đại úy Watakashi Hizen từ tầng lớp samurai, người cởi mở với những ý tưởng mới và cũng nói khá sỏi tiếng Anh và Pháp. Tiếng Pháp là thứ rất hữu ích để Hizen có thể trò chuyện cùng viên sĩ quan Neufville người Pháp, người chịu trách nhiệm dạy cho người Nhật cách hoạt động của các vũ khí hiện đại và cách dùng súng sát-xơ-pô. Trong suốt tác phẩm, ta sẽ được chứng kiến diễn biến của công cuộc xây dựng tại Nhật Bản và những mối quan hệ căng thẳng giữa người Nhật và người châu Âu. Đối với Hizen, người Nhật Bản cần có sự thận trọng đắn đo khi mà Âu hóa dần thâm nhập sâu vào lương tâm họ. Anh cho rằng không nhất thiết phải từ bỏ mọi thứ về nguồn cội để có thể tiếp cận được những kỹ thuật phương Tây. Anh vẫn giữ tín ngưỡng tôn giáo, tất cả truyền thống về danh dự, sự hy sinh hay lý tưởng của mình và không để bị Âu hóa vì anh là một samurai. Và cứ thế, anh dần trở nên khác biệt so với những người xung quanh, những người bị đã ảnh hưởng bởi Âu hóa. Mất nơi trú ngụ không đau xót bằng việc anh mất cả vợ, cả con, cả em trai về tay phương Tây, hơn thế nữa, anh cảm thấy bị tước đi cả đất nước Nhật Bản của mình. Mất nơi ở không chỉ nói lên câu chuyện hội nhập, mà nó còn thể hiện nhiều triết lý và nỗi niềm sâu xa của tác giả về khái niệm da vàng – da trắng, về âm và dương, về tâm linh và vật chất, hay về con người trong xã hội, về con người với đất nước, v.v. Cá nhân tôi thấy rằng, khi đọc tác phẩm của Phạm Văn Ký, ta sẽ phải thán phục tài viết văn của ông, thán phục thứ tiếng Pháp theo tôi là bác học, hàn lâm có thể sánh ngang với các nhà văn lớn của Pháp. Và hiển nhiên Mất nơi ở không phải một tác phẩm dễ đọc, ta cần thời gian để nghiền ngẫm, suy tư, để hiểu hết được các hay cái đẹp trong những trang sách ấy.

Lê Lan Anh

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s