Milorad Pavić, Từ điển Khazar (trích)

(Bài viết thuộc Zzz Review số 6, 31-7-2019)

Được xuất bản lần đầu bằng tiếng Serbia vào năm 1984 và dịch sang tiếng Anh vào năm 1988, Từ điển Khazar được một số người tán tụng là “cuốn tiểu thuyết đầu tiên của thế kỷ 21”. Quả vậy. Cấu trúc “tân kỳ” của cuốn sách giống như là lời chào đón và món quà của giới văn chương tinh hoa dành cho người đọc trước thềm một thời đại mới; một thời đại đầy hứa hẹn, một thời đại đầy bất an. Người ta thực sự có thể đọc nó từ bất cứ chỗ nào, theo bất kỳ thứ tự nào hoặc chẳng theo một thứ tự nào mà rốt cuộc, nếu có đủ sự tập trung, kiên nhẫn và cởi mở, vẫn có thể ít nhiều nhìn ra được cái tổng thể – cho dù điều này chẳng làm họ bớt hoang mang hơn là bao về ẩn nghĩa thực sự của nó. Thật ra, đây không phải cuốn sách đầu tiên “đọc theo cách nào cũng được”: trước nó từng có những cuốn tương tự, tiêu biểu là Rayuela (tiếng Anh: Hopscotch) của Julio Cortazar. Tuy nhiên, khác với Rayuela, Từ điển Khazar thấm đẫm sự tỉnh lạnh trong bi quan và hư vô của hậu hiện đại. Ta không bao giờ có thể biết sự thật duy nhất – rốt cuộc, người Khazar đã chuyển sang tôn giáo nào? Thay vào đó, chúng ta có ba phiên bản được cho là về sự thật, và chúng ta không có cách nào khác ngoài lựa chọn một trong số đó. Bất cứ người nào tiến gần đến “sự thật duy nhất” sẽ không còn sống: cũng như ba con thiêu thân trong câu chuyện ngụ ngôn kia – con thiêu thân duy nhất biết được bản chất của lửa sẽ không còn sống để quay về kể cho hai con còn lại về điều nó biết.

Không chỉ là “tiểu thuyết đầu tiên của thế kỷ 21”, Từ điển Khazar còn giống như một cuốn sách xưa, lạ lùng, thuộc thời nào không rõ, quyến rũ một cách bí ẩn, thâm trầm một cách hiểm hóc, mà tác giả, bằng sự ngẫu nhiên nào đó gần như phép màu, đã khai quật được từ bụi bặm và mối mọt của một hốc tối bị lãng quên và đưa ra ánh sáng cho chúng ta, cuốn sách mà, dẫu nằm trước mắt ta, lồ lộ dưới ánh sáng, vẫn giữ nguyên bóng tối âm hiểm, u trầm của nó.

Được xuất bản lần đầu bằng tiếng Việt ở Việt Nam vào năm 2005, cuốn sách đã chiếm được sự quan tâm và cảm tình của khá nhiều người đọc đang “khát” những gì thực sự mới mẻ của văn chương thế giới và gây cảm hứng cho một số nhà văn Việt Nam. Sắp tới, sách sẽ được Nhã Nam tái bản.

– Trần Tiễn Cao Đăng

 

 

ATEH – công chúa Khazar; sự tham gia của nàng vào cuộc luận chiến diễn ra trước khi người Khazar cải giáo đã có tác dụng quyết định. Trong tiếng Khazar, tên của nàng có nghĩa là “bốn trạng thái của linh hồn”. Đêm đêm nàng mang trên mỗi mí mắt một chữ cái, giống như những chữ cái người ta thường viết lên mí mắt ngựa trước cuộc đua. Đó là những chữ cái trong bảng mẫu tự bị cấm của người Khazar, kẻ bất hạnh nào đọc những chữ cái đó sẽ chết tức khắc. Các chữ cái này do người mù viết, còn vào buổi sáng, trước khi công chúa rửa mặt, các tì nữ nhắm nghiền mắt trong khi phục vụ công chúa. Làm thế là để bảo vệ công chúa trước kẻ thù trong khi nàng ngủ. Với người Khazar, giấc ngủ là lúc con người dễ bị tổn thương nhất. Ateh rất đẹp và ngoan đạo, những chữ cái này thật hợp với khuôn mặt nàng, trên bàn ăn của nàng luôn luôn có bảy loại muối; trước lúc ăn một miếng cá, nàng đều nhúng lần lượt mỗi ngón tay vào một loại muối khác nhau. Đó là kiểu cầu nguyện của nàng. Người ta nói nàng có bảy gương mặt cũng như người ta có bảy loại muối. Theo một truyền thuyết, mỗi buổi sáng ngồi trước gương, nàng lấy một nô lệ nam hay nữ làm mẫu để tự trang điểm, mỗi lần một người khác nhau. Và mỗi buổi sáng nàng biến mặt mình thành một khuôn mặt mới chưa từng thấy. Theo một truyền thuyết khác, Ateh hoàn toàn không đẹp, nhưng nàng biết cách sắp xếp những nét mặt của mình trước gương sao cho mang lại cho gương mặt đó một sự biểu cảm tạo ấn tượng về cái đẹp. Để có cái sắc đẹp nhân tạo đó nàng phải gồng mình lên và nỗ lực nhiều đến nỗi hễ còn lại một mình là nàng thư giãn, khi đó sắc đẹp của nàng lập tức vỡ vụn ra như muối. Dù thế nào đi nữa, một hoàng đế của Byzance vào thế kỷ 9 từng gọi nhà hiền triết và trưởng lão lừng danh Photios là “bộ mặt Khazar”, điều này cho thấy hoặc vị trưởng lão này có quan hệ huyết thống với người Khazar, hoặc ý bảo ông này là kẻ giả dối và tráo trở.

Cũng theo Daubmannus, cả hai giả thuyết đều không đúng. Cụm từ “bộ mặt Khazar” chỉ một khả năng và đặc điểm chung của người Khazar, trong đó có công chúa Ateh, đó là mỗi buổi sáng thức dậy họ đều như đã biến thành người khác, với một khuôn mặt hoàn toàn mới và xa lạ, đến nỗi những người thân nhất cũng khó lòng nhận ra. Tuy nhiên, các du khách lại nhận xét rằng mặt của người Khazar hoàn toàn giống nhau và bất biến, do đó rất khó phân biệt và dễ nhầm lẫn. Dù thế nào đi nữa, điều đó không ảnh hưởng đến bản chất sự việc, và “bộ mặt Khazar” hàm nghĩa một khuôn mặt khó nhớ. Điều này cho phép lý giải truyền thuyết cho rằng đối với mỗi nhân vật tham gia cuộc luận chiếns trong triều đình của kaghan, công chúa Ateh lại mang một khuôn mặt khác, cũng như lời đồn đại rằng có đến ba công chúa Ateh – một cho giáo sĩ Hồi giáo, một cho giáo sĩ Cơ đốc giáo, một cho giáo sĩ và nhà giải mộng Do Thái giáo. Tuy nhiên, sự hiện diện của nàng trong cung điện Khazar không được ghi nhận trong nguồn Cơ đốc giáo vào thời đó, được viết bằng tiếng Hy Lạp và dịch sang tiếng Xlavơ (“Sự tích Constantin xứ Thessaloniki” tức Thánh CyrilV), nhưng theo Từ điển Khazar thì từng có thời công chúa Ateh được các tu sĩ Hy Lạp và Xlavơ thờ phụng. Sự thờ phụng này liên quan đến niềm tin rằng trong cuộc luận chiến Ateh đã thắng nhà thần học Do Thái và cải giáo theo Cơ đốc cùng với kaghan, kẻ mà rốt cuộc người ta vẫn không biết là cha, chồng hay anh trai của nàng. Đến nay vẫn còn lại hai bài cầu nguyện của công chúa Ateh (bản dịch tiếng Hy Lạp) chưa bao giờ được Giáo hội thừa nhận, nhưng Daubmannus trích dẫn chúng như là Pater Noster (Cha của chúng con) và Ave Maria của công chúa Khazar. Dưới đây là bài thứ nhất:

 

Trình Cha, trên con thuyền của chúng ta, thủy thủ tất bật làm việc như đàn kiến; sáng nay con đã lau thuyền bằng tóc của con, họ trèo lên những cột buồm sạch bóng và lôi về tổ những cánh buồm xanh như những lá nho nõn nà; người cầm lái ra sức rứt rời chiếc bánh lái rồi vác lên vai như thể đó là miếng mồi đủ cho y ăn mà sống cả tuần; những kẻ yếu nhất thì lôi những sợi thừng đẫm muối đem chất đống trong bụng căn nhà nổi của chúng ta. Chỉ có Cha là người duy nhất không có quyền đói như vậy, thưa Cha. Trong khi bọn kia ngấu nghiến tốc độ thì phần nhanh nhất là thuộc về Cha, người Cha duy nhất của con. Cha nuôi sống mình bằng cơn gió xé ra thành từng mảnh.

 

Bài cầu nguyện thứ hai của công chúa Ateh dường như lý giải cho câu chuyện về “khuôn mặt Khazar” của nàng:

 

Con đã học thuộc lòng đời của mẹ con và mỗi buổi sáng trong vòng một tiếng đồng hồ con diễn nó trước gương như trên sân khấu nhà hát. Điều đó tiếp diễn ngày này qua ngày khác đã nhiều năm nay. Con mặc áo quần như mẹ, cầm quạt như mẹ và để tóc như mẹ, vì vậy con tết tóc mình thành như cái mũ len. Con sắm vai mẹ trước mặt mọi người, kể cả trên giường của người yêu. Trong những phút say sưa con không hiện hữu nữa, đấy không còn là con mà là mẹ. Con đóng đạt tới mức nỗi say sưa của con biến mất, chỉ còn lại nỗi say sưa của mẹ. Nói cách khác, mẹ đã đánh cắp từ trước mọi sờ mó yêu đương của con. Nhưng con không buộc tội mẹ con, bởi con biết rằng mẹ cũng đã bị mẹ của mình đánh cắp y như thế. Nếu bây giờ có ai hỏi trò chơi này có ích gì, con sẽ đáp: ta muốn tự sinh ra đời lần nữa, nhưng trong trạng thái tốt hơn…

 

Về công chúa Ateh ta biết rằng nàng không bao giờ chết. Tuy nhiên, có một bản văn khắc trên một con dao có những lỗ nhỏ li ti nói về cái chết của nàng. Truyền thuyết duy nhất và không hoàn toàn đáng tin cậy này được DaubmannusY dẫn lại, nhưng không phải để cho thấy công chúa Ateh đã thật sự chết mà là để biện luận xem nàng có khả năng chết hay không. Dẫn lại câu chuyện này chẳng có hại gì, cũng như rượu vang đỏ không thể làm bạc tóc. Chuyện tên là

 

Gương nhanh và gương chậm

Có một lần vào mùa xuân công chúa Ateh nói: “Ta đã quen với những ý nghĩ của mình như với những bộ áo quần. Tất cả cùng có một vòng eo bằng nhau, và ta thấy chúng khắp nơi, kể cả ngã tư đường. Điều tệ hại nhất là chúng che mắt không cho ta thấy ngay cả ngã tư đường.”

Để làm vui lòng công chúa, bọn hầu mang đến cho nàng hai tấm gương. Chúng hầu như chẳng có gì khác những tấm gương Khazar. Cả hai làm bằng những tảng muối được đánh bóng, chỉ có điều một tấm nhanh, một tấm chậm. Dù tấm gương nhanh phản chiếu cái gì, thế giới trong gương như thể được vay từ tương lai, gương chậm thì trả nợ cho gương thứ nhất, bởi nó chậm so với hiện tại vừa đúng bằng khoảng thời gian mà gương nhanh đã lấn trước. Khi người ta đặt hai tấm gương trước mặt Ateh, nàng hãy còn nằm trên giường và hai chữ cái viết trên mí mắt nàng vẫn chưa được rửa. Trong gương nàng thấy mình đang nhắm mắt, thế là nàng chết ngay lập tức. Công chúa chết giữa hai lần nháy mắt, đúng hơn là trong khoảnh khắc nàng thấy những chữ cái chết chóc ghi trên mí mắt mình, bởi hai tấm gương phản chiếu rõ rằng nàng nháy mắt cả trước lẫn sau khi chết. Nàng chết do bị giết bởi những chữ cái của quá khứ lẫn những chữ cái của tương lai.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s