Đọc Kafka như thế nào: Phần I

(Bài viết thuộc Zzz Review số 6, 31-7-2019)

Phần đầu tiên trong xê ri hai phần về nhà văn đã làm thay đổi quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa duy lý hiện đại.

 

Các tác phẩm của Kafka nổi tiếng kỳ dị và bí ẩn, và vì thế mà người đọc thường phải cầu cứu những người kiếm sống bằng nghề đọc và bình luận văn học – không ai khác ngoài các nhà phê bình văn học. Nhưng các vị này cũng thường chỉ đưa ra những ý kiến vô cùng chung chung và mơ hồ đến mức những lời bình luận đó có thể áp dụng vào bất kì một nhà văn nào trong số hàng trăm nghìn cây viết ngoài kia. Một quan điểm mà phần đông yêu thích chính là Kafka đã nói gì đó vô cùng quan trọng về thời hiện đại của chúng ta. John Updike cho rằng Kafka là nhà ngụ ngôn siêu đẳng nói lên những nỗi niềm suy tư trăn trở mang tầm cỡ vũ trụ của con người hiện đại, nghe thì thật là sâu sắc uyên thâm, nhưng Updike cũng không bao giờ giải thích rằng những nỗi niềm đó là gì hay vì sao chúng lại tầm cỡ đến thế, cũng không nói được cho ta hay rằng Kafka đã nói gì về những trăn trở này. Irving Howe cũng tin rằng Kafka chính là hiện thân của ý thức hiện đại, và giải thích thêm rằng qua văn chương Kafka ta thấy “những trải nghiệm ngột ngạt của đời sống hiện đại, nỗi hoang mang, sự mất mát, tội lỗi, và sự chiếm đoạt.” Thế nhưng danh sách toàn những cảm xúc này đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử nhân loại – chứ chẳng riêng gì những thời “hiện đại”. Các nhà trí thức của thế kỷ 20 luôn tự tin rằng mình đã cầm trịch được nỗi bất an – nhưng lẽ dĩ nhiên họ làm sao mà hiểu hết được.

Max Brod, một người bạn của Kafka, cũng đặt ra một ý kiến khác được ưu ái không kém: trong văn chương Kafka, “những ảo mộng và viễn tượng sâu sắc đến mức không thể đo đạc được mải miết trôi dưới bề mặt hiền hòa êm ả.” Nhưng đến nước này rồi thì người đọc không thể không cảm thấy bị lừa dối. Tại sao Brod không nói cho chúng ta hay những ảo mộng và viễn tưởng đó là gì? Những câu khẳng định chung chung vô cùng hoành tráng (cùng vô số lời tương tự) dường như chỉ đơn thuần là cách né tránh một cuộc thảo luận thực thụ về việc Kafka nói gì với chúng ta, bởi vì quả thật rất khó để có thể bàn luận những văn bản văn chương vô cùng kỳ quái này.

Vậy làm sao để bắt đầu nói về những thông điệp của Kafka? Cần đọc tác phẩm của Kafka như thế nào? Hãy bắt đầu từ một ấn tượng vô cùng sâu đậm: Kafka luôn luôn lý tính đến mức quá đáng. Bất luận chủ đề trong truyện có kỳ lạ đến đâu, mọi thứ đều được giải thích kỹ càng, mọi tiểu tiết được săm soi kỹ lưỡng. Một ví dụ điển hình xuất hiện ở ngay chương đầu tiên của tiểu thuyết Lâu Đài (Das Schloss) khi nhân vật chính K. đang cố tìm đường đến toà lâu đài. Anh đang bước đi trên con đường chính của ngôi làng nằm dưới chân lâu đài, nhưng “con đường chính này của làng tuy không rời xa Lâu Đài, xong cũng không xích lại gần hơn.”[1] Đây đích thị là một mô tả hết sức chính xác, nhưng lại dẫn K. (và cả người đọc) chẳng đi đến đâu. Kafka vẫn thường cho ta những suy luận và lý giải vô cùng tỉ mỉ mà khi đọc xong ta vẫn mãi dậm chân tại chỗ.

Tại sao ông lại làm như thế? Công cuộc tìm kiếm câu trả lời của chúng ta sẽ bắt đầu với câu chuyện mà Kafka dành riêng cho chính vấn đề này: mặt lợi, mặt hạn chế, và những thảm họa mà lý tính gây nên. Đó là truyện ngắn “Der Bau” (“Cái hang”).

“Cái hang” kể về một con vật (không rõ đích xác là con gì) đi đào một cái hang để phòng thân. Thoạt nhìn đây chỉ là một việc cần lao động chân tay đào bới, nhưng với con vật của Kafka đây lại là hẳn cả một nhiệm vụ cần đến lao động trí óc. Cần phải có “những tính toán khó nhọc”[2], và niềm vui mà bộ não tinh khôn đó có được từ những hành động của mình là động lực thúc đẩy con vật tiếp tục làm việc. Nó phải tạo được cái hang hoàn hảo nhất, lá chắn phòng thủ tốt nhất có thể.

Câu chuyện này làm ta nhớ ngay đến một truyện cổ tích khác cũng kể về những con vật xây lá chắn hoàn hảo: Ba chú lợn con. Con đầu tiên xây nhà bằng rơm, con thứ hai xây nhà bằng cành cây khô, nhưng cả hai con đều không chống lại được chó sói. Con thứ ba thì đủ khôn để nhận ra xây nhà bằng gạch sẽ đuổi được chó sói đi. Mọi việc đều rất hợp lý và logic. Bài học rút ra từ câu chuyện này chính là lý tính và sự thận trọng sẽ đem lại an toàn cho ta. Nhưng thế giới của Kafka thì lại không dễ dàng đến thế, bởi lý tính và sự thận trọng lại chính là hai tác nhân làm cho cuộc sống trở nên vô cùng khó khăn.

Mở đầu câu chuyện, con vật của Kafka kể cho ta hay rằng nó đã xây xong cái hang và trông có vẻ là thành công rực rỡ rồi. Mọi việc đến đây đều hết sức tốt đẹp. Nhưng nó không thể ngừng suy đi tính lại về thiết kế của cái hang và tự vấn bản thân về những điều có thể làm khác đi. Công việc chân tay đã xong nhưng lao động trí óc thì không bao giờ ngưng.

Nó đã làm lối vào hang bằng một lớp rêu mỏng để dễ tẩu thoát trong trường hợp có kẻ đột nhập vào hang, nhưng vì thế cũng giúp kẻ thù dễ xông vào. Nó nghĩ, lẽ ra nó nên che lấp miệng hang bằng một lớp đất cứng để kẻ thù khó có thể xâm nhập, nhưng như thế lại khiến chính nó khó chạy thoát nếu kẻ thù đã kịp đào một đường khác để chui vào trong. Làm thế nào đây: một lối vào vừa khó trốn thoát vừa chống đột nhập, hay ngược lại? Đây là một câu hỏi không có lời giải đáp. Có lúc nó còn tính đến việc làm hẳn hai lối vào – nhưng như vậy cũng chỉ làm nguy hiểm nhân đôi.

Nó đã đặt một mê cung ngay dưới lối vào để làm kẻ thù rối trí, nhưng sau khi suy nghĩ lại thì nó lại nhận ra làm vậy chỉ tổ tốn công vô ích: mê cung thường có những vách tường ngăn mỏng manh mà kẻ đột nhập chỉ cần đạp đổ là có thể vượt qua ngay.

Nó đã đặt một chiếc cổng giả cách cái hang thật một đoạn. Đằng sau cánh cổng đó trống trơn chẳng dẫn đến đâu cả, chỉ dùng để đánh lạc hướng kẻ thù khỏi cái hang thật, nó nghĩ thế. Nhưng nó cũng lại tự thấy rằng làm như thế chẳng khác nào chưa đánh đã khai rằng “lạy ông tôi ở bụi này”. Nếu có một cái cửa giả thì khả năng bị tấn công sẽ giảm đi nhờ sự đánh lạc hướng hay lại tăng lên vì bật mí rằng có gì đó “hay ho” đang diễn ra? Ai mà biết được?

Nó đã xây xong một cái hang vô cùng hoành tráng, với nhiều lối đi và các phần phụ. Đó là một pháo đài vô cùng ấn tượng. Nhưng bẵng đi một thời gian nó lại nhận ra làm hang to quá sẽ khiến những loài đào hang khác dễ đụng vào. Cuối cùng nó hoàn toàn quay ngoắt thái độ đối với cái hang hoành tráng này: nó nhận ra rằng chính cái hang lớn nhưng dễ tấn công này sẽ khiến nó khó mà bảo vệ bản thân. Nó đi ra ngoài và thử xây một cái hang khác không to hơn người nó là bao. Cái này thì khó phát hiện hơn – nhưng mặt khác lại không có lối thoát hiểm nếu bị bại lộ.

Kể cả địa điểm được chọn để xây hang cũng lại là một câu hỏi không lời giải khác: con vật đã xây hang ở một nơi hoang vắng ít người qua lại để không bị theo dõi mỗi khi đến và đi, nhưng đột nhiên nó lại nghĩ rằng nơi đông đúc người qua lại có khi lại che chắn tốt hơn.

Chú lợn con thứ ba đã tìm ra cách bảo toàn tính mạng: để sống sót bạn phải trở nên thông minh và cẩn trọng, và làm việc chăm chỉ. Nhưng với con vật của Kafka, mọi đặc tính xây dựng mà nó suy xét đều vừa có lợi vừa có hại.

 

Mặc dù con vật này một mực theo đuổi lý tính và đã nói rõ ngay từ đầu rằng nó đã thiết kế một cái hang hoàn hảo bằng sức mạnh của việc lập luận, nó đã vô tình để lọt một thứ vào trong những toan tính bất tận mà không một phép tính nào có thể dự đoán được: niềm kiêu hãnh của nó đối với cái hang này. Vì nó tự hào về cái hang nên càng cảm thấy mình phải bảo vệ nó. Nhưng kiêu hãnh nằm ngoài lý tính, hay chính ra, thứ cảm xúc ấy càng khiến con vật trở nên phi lý tính hơn. Dần dà, nó trở nên lo lắng quá đà về sự an nguy của cái hang, cứ như thể đó mới chính là cái cần bảo vệ chứ không phải bản thân con vật. Nhìn ngắm vật mà nó vô cùng yêu thương khiến con vật vui đến không nói nên lời, và nó cảm thấy như thể mình đang canh gác chính mình. Nhưng giờ đây mối quan hệ giữa nó và cái hang đã hoàn toàn đảo lộn: lẽ ra cái hang phải bảo vệ nó, nhưng giờ đây ngược lại nó đang xả thân bảo vệ cái hang.

Nó không thấy gì hết và quyết định trở ngược vào trong, nhưng cũng vừa kịp tạo ra một vấn đề suy lý khác, một câu hỏi không thể nào trả lời được. Làm sao để trở vào trong? Khi nó nhấc tấm che cửa lên, bước vào hang, rồi đậy lại, làm sao nó biết được liệu lúc đó kẻ thù có đến và thấy nó đang đóng cửa hay không? Tất nhiên, nó có thể mở cửa lên nhìn ngó xem có ai xung quanh không, nhưng khi đóng cửa câu hỏi đó sẽ lại xuất hiện.

Qua đó chúng ta thấy cẩn trọng thật khó sánh vai cùng lý tính: cẩn trọng bao nhiêu là đủ? Cẩn trọng nên đóng vai trò là một phương pháp để đạt tới cái đích cuối cùng là một cuộc sống mãn nguyện, và vì thế nếu nó trở thành một công việc toàn thời gian như đối với con vật thì chẳng khác nào phản lại chính mục tiêu ban đầu. Nhưng vấn đề ở đây chính là không có một câu trả lời nào hợp lý cho câu hỏi: chúng ta cần bao nhiêu thời gian để lên một kế hoạch thận trọng? Nếu chúng ta mong muốn cẩn trọng, vậy thì thận trọng thêm nữa chẳng phải rất đáng mơ ước sao? Con vật bị ám ảnh với việc phải thận trọng đến mức nó đẩy chính bản thân mình vào hiểm nguy cùng cực, ví dụ như khi nó bước ra khỏi hang để trông chừng cái hang đấy. Bản thân con vật này chính là minh chứng cho nghịch lý: “Cẩn trọng đòi hỏi ta liều mạng.”

Con vật bắt đầu câu chuyện với lời kể hết sức hào hứng phấn khởi rằng cái hang của mình là một thành công vang dội, nhưng những câu hỏi không lời giải đáp cứ dần chất chồng chất chứa khiến nó nhận ra công sức của mình đều đổ sông đổ bể. Để quên đi mọi cố gắng tay chân và những lần lao tâm khổ tứ, nó tự đổ tại bản thân mình đã quá lười nhác không suy nghĩ thấu đáo: nó đã lơ là và dành hết những năm tháng trưởng thành vào những trò trẻ con. Nhưng nó vẫn không thể quên đi ước mơ xây một cái hang hoàn hảo vì nó khăng khăng rằng lập luận chính xác sẽ giúp mình đạt được mục tiêu. Nó tưởng tượng ra rằng nó có thể xây một cái hang theo như kế hoạch đã vạch sẵn ra từ khi còn trẻ, và làm như thế nó có thể quên hết các vấn đề logic ngày đêm đeo bám. Nó mơ về những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc, và chìm vào huyễn tưởng khi nghĩ đến sự xuất sắc về mặt lý thuyết của kế hoạch này. Nó nghĩ, bây giờ ta chỉ cần làm lại tất cả từ đầu! Trong những trang cuối truyện nó liên tục thay đổi giữa hai trạng thái tuyệt vọng và lạc quan, nhưng đến cuối truyện thì “tất cả vẫn không hề thay đổi”. Nó chưa giải quyết được những vấn đề này, và sẽ không bao giờ giải quyết được. Ngay từ đầu truyện, con vật tự nói với bản thân: “Tất nhiên, [quá nhiều] mưu mẹo [lại] tinh vi đến nỗi tự chống lại [mình].” Câu khẳng định đơn giản đó đã nói lên hết mọi sự xảy ra với nó. Lập luận – những lập luận vô cùng thấu đáo và kỹ lưỡng, nhờ ơn tác giả – đã biến thành nguồn cơn mọi rắc rối của con vật, thay vì là giải pháp. Cuối cùng con vật nghe một tiếng rít nhưng khi nó cố tìm nguồn gốc tiếng kêu này thì tiếng kêu lại không hề thay đổi âm lượng khi nó di chuyển, chứng tỏ rằng tiếng kêu này phải nằm trong đầu con vật. Nó đang chìm dần vào điên loạn.

 

Việc xác định thứ đã huỷ diệt con vật là bản thân lý tính nghe thật xa vời với tinh thần triết học Khai sáng, phong trào triết học đã có tuổi đời hơn một thế kỷ khi Kafka chào đời năm 1883. Với các nhà triết học Khai sáng, kiên trì áp dụng lý tính sẽ giúp giải quyết tất cả mọi vấn đề gây ra bởi sự ngu dốt của con người. Nhưng chuyện đó không hề xảy ra trong “Cái hang”. Trong truyện này, lý tính liên tục chạm trán với những câu hỏi không lời giải, và lẽ vì vậy mà con vật trở nên điên loạn vì không thể ngừng lập luận để tìm ra cách thiết kế cái hang hoàn hảo nhất có thể. Trong câu chuyện của Kafka, lý trí không thể vượt qua được những điểm yếu tinh thần của con người ta bởi vì điểm yếu chính là động lực thúc đẩy lập luận và hai thứ này hoà quyện chặt chẽ với nhau. Khi con vật cảm thấy vui vì sự tráng lệ của cái hang, nó đã vô tình đem đến cho sự nhiệt thành đấy một yếu tố phi lý tính. Cái hang không chỉ là một nơi trú thân đơn thuần – nó yêu cái hang đến mức tuyên bố rằng nó sẵn sàng chết trong cái hang và để máu chảy xuống nền đất đó. Cái logic của cái hang một lần nữa bị đảo ngược: đáng lẽ cái hang phải tồn tại để phục vụ con vật, nhưng giờ đây con vật lại hy sinh thân mình để bảo toàn cái hang.

Phong trào Triết học Khai sáng có thể bảo ta phải dựa hoàn toàn vào lý trí, nhưng “Cái hang” của Kafka chứng minh một điều rằng ta vẫn có thể dùng lý trí theo những cách phi lý nhất. Kafka vốn là một người hoài nghi về Triết học Khai sáng. Ông đã thấy được điều mà các triết gia Khai sáng không thấy được: rằng kể cả khi họ thuyết phục con người để lý trí dẫn đường thì bản thân con người vẫn giữ nguyên không đổi. Những người vốn được xem là làm điều đúng đắn thật ra chẳng khác gì mấy so với trước đây. Mặt phi lý trong họ không biến đi đâu cả: nó chỉ tìm cách khác để thể hiện ra ngoài. Nó sẽ lôi kéo rồi thông đồng với lý trí để thực thi những động lực, khát khao, và kể cả sự ngu dốt luôn luôn tồn tại trong mỗi chúng ta.

 

Các nhà triết học Khai sáng có niềm tin tuyệt đối với lý tính đến mức họ tin rằng nó sẽ dẫn lối cho ta đạt được những giá trị đạo đức cao hơn. Chẳng cần phải nói, Kafka cũng vô cùng nghi ngờ điều này. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, “Die Verwandlung” (Hoá thân), chính là nói về vấn đề này.

 

hoa than
Bìa bản dịch tiếng Anh của Oxford University Press.

Trong truyện ngắn này, Gregor Samsa đột nhiên biến thành một con quái vật có hình thù côn trùng vô cùng kỳ dị sau một đêm. Câu hỏi đầu tiên mà các nhà phân tích “Hoá thân” thường cố gắng giải thích là: chính xác thì Gregor Samsa đã biến thành con gì, và vì sao? Nhưng hai câu hỏi này tốt hơn hết là để dành cho sau khi ta giải đáp được hai câu hỏi sau đây: Đầu tiên, tình trạng gia đình của Gregor như thế nào trước khi anh biến hình? Và thứ hai, tình trạng gia đình của anh ra sao sau khi anh biến thành côn trùng và bỏ lại gia đình?

Đáp án câu hỏi đầu tiên khá là phức tạp. Nhìn bề ngoài Gregor là hình mẫu người con trai lý tưởng tận tuỵ gánh vác trọng trách gia đình. Năm năm trước đó công việc kinh doanh của cha anh thất bại và Gregor lập tức lao vào hành động: anh mong muốn giải cứu gia đình mình khỏi tình cảnh vô vọng, và vì thế anh bắt đầu làm việc điên cuồng và nhanh chóng trở thành trụ cột chính và duy nhất trong nhà. Không còn nghi ngờ gì nữa, Gregor đã làm điều đúng đắn: anh đã hành xử thật cao thượng.

Thế nhưng “công trình” hoành tráng này cũng đầy rẫy khiếm khuyết như cái hang lộng lẫy của con vật. Mặc dù Gregor rất tận tâm đóng vai người bảo hộ duy nhất của gia đình, anh lại xem bản thân mình là một vị thánh tử nạn. Anh ghét công việc mình đang làm. Việc thì vô cùng mệt mỏi, sở làm thì ngược đãi anh, và anh không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ở mãi vị trí vô cùng thấp kém đó để nuôi nhị vị thân sinh và cô em gái. Và để làm mọi chuyện tồi tệ hơn, anh cảm thấy rằng thái độ của gia đình đối với việc anh bao nuôi họ thiếu đi sự yêu thương ấm áp cần có.

Và vì sao lại như vậy? Chúng ta chỉ cần nhìn vào tình trạng của họ để biết vì sao. Cha anh đã không làm việc trong vòng năm năm, và chính xác hơn là không còn khả năng làm việc vì mập lên và trở nên hậu đậu. Ông dường như chỉ mặc áo ngủ ngồi không hoặc nằm vạ vật trên giường, khó khăn lắm mới đứng lên được, và nếu có đi ra ngoài thì cũng chỉ có thể lạch bạch những bước chầm chậm. Mẹ anh cũng không hề khá hơn chút nào: phần lớn thời gian bà nằm trên sofa, khó thở vì bệnh hen suyễn. Em gái anh, Grete, cũng trở nên vô dụng: cô ngủ rất nhiều, chỉ ham mê chưng diện quần áo đẹp và chơi violin, và đến cả hai vị phụ huynh cũng nghĩ rằng cô là thứ con gái vô tích sự.

Cả ba thành viên trong nhà đều ăn không ngồi rồi và cuộc sống của họ hầu như trống rỗng. Nhưng có một chi tiết vô cùng vô lý về cuộc sống của gia đình này: căn hộ mà Gregor thuê cho cả nhà không chỉ đủ chỗ mà lại còn xa xỉ và rộng hơn diện tích cần trên thực tế. Làm sao điều này lại hợp lý với việc Gregor căm ghét việc phải làm việc vô cùng vất vả để nuôi gia đình? Anh hoàn toàn có thể làm việc ít lại và thuê cho họ một căn hộ nhỏ phù hợp với nhu cầu hơn.

 

Chúng ta bàn về câu hỏi thứ nhất thế là đủ rồi, giờ hãy tiến đến câu hỏi thứ hai: chuyện gì xảy ra với cả nhà khi Gregor biến thành côn trùng, không thể nuôi họ thêm ngày nào nữa, rồi cuối cùng chết đi và biến mất khỏi cuộc đời họ? Câu trả lời chính là trong truyện ẩn chứa một sự hoá thân thứ hai – sự hoá thân của gia đình này. Vài tháng sau khi biến thành côn trùng, Gregor nấp sau cửa nhìn lén và thấy mọi người trong nhà. Cha anh giờ đây ăn vận một bộ đồng phục màu xanh thanh lịch với những khuy bấm bằng vàng để đi làm công việc mà ông tự xin được. Đôi mắt ông đã tìm lại sức sống vốn có và tóc chải lại gọn gàng. Hoá ra ông vẫn có thể đi làm để nuôi thân và gia đình này. Hai người phụ nữ trong gia đình cũng trải qua những thay đổi tương tự. Mẹ của Gregor nhận may quần áo cho một hãng quần áo thời trang, còn Grete vừa bán hàng vừa học lớp tốc ký và tiếng Pháp buổi tối để có thể tìm việc tốt hơn. (Ta sẽ quay lại bàn luận về tham vọng của cô ở phần sau.) Cả ba người bọn họ đều tràn trề sức sống và năng suất.

Tuy nhiên, điều mà tất cả đều vô cùng mong muốn chính là dọn ra khỏi căn hộ quá khổ mà Gregor đã đẩy họ vào. Nhưng họ đã không thể làm gì khi Gregor còn sống. Cuối cùng họ cũng phải đối mặt với vị trí thật sự của anh: anh là một nỗi phiền toái không hơn không kém, một nỗi phiền toái họ hoàn toàn vui lòng tống khứ. Gregor sớm chết đi, nhưng không có gì là đau khổ trong phản ứng của họ cả. Ngược lại, cả ba cùng nhau rời khỏi căn hộ, “điều mà bao tháng nay họ không có dịp làm,”[3] và cùng nhau lên tàu điện đi về miền quê. Cách ăn mừng này đáng chú ý không phải vì nó hào hứng gay cấn mà bởi vì nó chỉ là một việc bình thường xoàng xĩnh. Họ đã lấy lại được cuộc sống thường nhật của mình – cuộc sống đã bị Gregor tước đoạt.

 

Giờ đây ta có thể quay lại câu hỏi luôn luôn được đặt ra đầu tiên về câu chuyện này: Gregor đã biến thành con vật gì? Thực trạng gia đình giúp ta giải đáp thắc mắc này. Từ một thành viên trẻ tuổi trong nhà, anh đã trở thành một con thú săn lợi dụng sự yếu đuối của họ mà kiểm soát ngấu nghiến và vắt kiệt sức sống. Từ mà Kafka dùng để miêu tả con vật này là “ungeziefer”, nghĩa sát nhất chính là vật ký sinh/vật gây hại. Nhưng đó không phải là từ dùng để miêu tả đặc điểm vật lý hay tên gọi một loài sinh vật nhất định; nó được dùng để ám chỉ giống vật nào đó vừa ghê tởm vừa ăn hại. Sự thay đổi về mặt hình thức của Gregor chỉ là biểu hiện bên ngoài về sự thoái hoá của anh trong mắt họ. Anh đã làm cả gia đình hoàn toàn lệ thuộc vào mình và đẩy họ vào tình thế vô cùng khổ sở, nhưng khi anh không còn có thể thống trị được nữa họ đã vượt qua và quay trở lại trạng thái con người bình thường.

Vậy đây có phải một kết cục có hậu? Có lẽ không. Câu chuyện có cái kết vô cùng thú vị: “Và như để khẳng định cho những mơ ước mới mẻ cùng những ý đồ tốt đẹp của bố mẹ, đến cuối cuộc hành trình người con gái đứng phắt dậy trước tiên và vươn thẳng tấm thân thanh xuân phơi phới.” Sau tất cả những gì xảy ra với Gregor, hành động vươn vai của Grete chẳng khác nào một điềm gở: liệu cô cũng đang cảm thấy sức mạnh của mình tăng dần? Như Gregor trước đây, cô cũng đang học tập để có thể kiếm được thêm nhiều tiền. Liệu cô cũng sẽ dùng nó để kiểm soát và bắt cha mẹ phụ thuộc vào mình? Cô đã hành động theo chiều hướng đó khi chiếm lấy Gregor và căn phòng của anh, khăng khăng với gia đình rằng đó là nơi chốn của riêng mình cô. Vấn đề không chỉ nằm ở một mình Gregor: đây là một phần của thân phận con người.

Sự đảo ngược những giá trị trong “Hoá thân” phần nào làm ta nhớ đến hiện tượng tương tự trong “Cái hang”. Trong truyện đó, tâm huyết con vật đổ vào lý trí trở nên vô lý và dần huỷ hoại nó, còn trong “Hoá thân” Gregor bề ngoài thì đang hết mình vì công cuộc đỡ đần và nuôi gia đình, nhưng thật ra lại nắm giữ quyền lực bạo chúa chi phối bọn họ. Nhưng cả hai đều đi ngược lại với giáo điều Triết học Khai sáng. Thế giới tốt đẹp hơn, dịu dàng hơn mà kỷ Khai sáng hình dung ra khi lý trí lên ngôi đã không trở thành hiện thực, bởi lẽ Gregor đã dùng chính những giá trị tốt đẹp và tử tế đó để thoả mãn những thôi thúc làm chủ và đàn áp đã tồn tại từ lâu. Lòng tốt là vũ khí của anh, và anh đang giết gia đình mình chết dần chết mòn bằng chính thứ lòng tốt này.

Cũng tại đây, Kafka hồ như đã hiểu được điều mà các nhà triết học Khai sáng không thể hiểu được: kể cả khi việc sử dụng lý trí có dẫn đến một sự thay đổi rõ ràng về mặt đạo đức thì bản chất con người cũng không thể thay đổi nhanh chóng đến vậy: nó sẽ chỉ tìm cách thể hiện ra bằng những cách mới hơn thôi. Trong “Hoá thân”, lòng tốt trở thành công cụ chuyên chế. Bản chất xúc cảm của ta bám rễ quá sâu để có thể thay đổi một sớm một chiều được. Những con người và con vật của Kafka đã phá vỡ những giá trị Khai sáng kể cả khi tuân thủ những giá trị sống đó.

 

Bách khoa Toàn thư Triết học Stanford định nghĩa các nhà triết học Khai sáng là những người có niềm tin lớn lao vào khả năng tri thức của nhân loại và “thường đi đôi với thái độ ngờ vực hoặc thù ghét những hình thức hoặc chủ thể quyền lực khác (như truyền thống, mê tín, định kiến, huyền thoại, và phép màu).” Mê tín và huyền thoại quả thật không phù hợp với con người hiện đại, những người không nên tin vào những sinh vật huyền bí không ai kiểm chứng. Những kẻ chưa được “khai sáng” có thể để những thứ huyễn hoặc này đóng một phần trong cuộc sống của mình, gán cho chúng những phẩm chất vốn không có, nhưng con người lý trí chỉ tin vào những gì thấy tận mắt nghe tận tai. Nhưng có thật như vậy không? Đó là vấn đề mà Das Schloss (Lâu Đài) phải vật lộn.

the castle
Bìa bản dịch tiếng Anh của Oxford University Press.

Trong Lâu Đài, một nhân viên đạc điền tên K. đến một ngôi làng nhỏ nằm dưới bóng một toà lâu đài thấp thoáng trên đồi cao. Thật khó nhìn thấy được toà lâu đài ẩn sau sương mờ và bóng đêm. Rõ ràng anh đã được Lâu Đài (thể chế, không phải toà nhà) thuê làm. Nhưng khi anh dừng chân ở một quán rượu trong làng, câu hỏi phát sinh rằng liệu có thật là anh đã được thuê làm cho Lâu Đài không, và chính xác là ai đã thuê anh. Gọi điện đến Lâu Đài thì nhận được câu trả lời rằng không, không hề thuê anh, nhưng rất nhanh sau đó lại có một cuộc gọi khác với câu trả lời khác. Đây phải chăng chỉ đơn giản là một lỗi lầm đã nhanh chóng được sửa sai? Không, bởi vì sau đó vấn đề anh có được thuê hay không vẫn tiếp tục được dấy lên. Rất nhanh sau đó, tất cả những sự hoang mang này bắt đầu dẫn đến một câu hỏi quan trọng: ai là người lên tiếng cho Lâu Đài? Chắc chắn đã có người thuê anh, nhưng liệu đó có đồng nghĩa với việc Lâu Đài thuê anh không? Và điều này lại dẫn đến một điều hệ trọng hơn: cái thứ gọi là Lâu Đài này là gì? Và ta có thể tìm thấy tiếng nói thẩm quyền của nó ở đâu?

Đầu tiểu thuyết, K. nghĩ rằng anh sẽ nắm bắt được chuyện gì đang xảy ra nếu đi lên Toà-nhà-Lâu-Đài. Nghe thì khá là khả quan: nếu bạn muốn biết Lâu Đài đang giở trò gì, tại sao không chất vấn thẳng nó? (K. vẫn chưa hiểu ra rằng Lâu Đài không bao giờ có thể là cùng một thứ với toà lâu đài.) Nhìn từ xa toà lâu đài khá nguy nga sang trọng, nhưng khi đến K. mới phát hiện nó hoá ra là một cụm nhà nhỏ chồng chất lên nhau, đổ nát đến không còn sửa chữa nổi. Không hề có một toà lâu đài nào cả. Việc không có một công trình lớn bao quát mà chỉ có những vật nho nhỏ này có nghĩa gì? Và có nghĩa như thế nào với thể chế Lâu Đài?

Càng đọc sâu vào tiểu thuyết, điều này ngày càng đại diện cho ý tưởng mà K. sẽ phải vật lộn xuyên suốt cuốn tiểu thuyết. Các thể chế không tồn tại giống công trình xây dựng – nhìn thấy được và chạm vào được. Thể chế chỉ là những dàn xếp giữa con người với nhau, và nó chỉ tồn tại chừng nào những người liên quan còn tin vào sự tồn tại của nó, và điều này nghe chẳng khác gì một niềm mê tín.

 

Vậy thì Lâu Đài ở đâu? Kỳ thực, K. đã được cho biết về vị trí của nó. Khi mới đến, anh được bảo rằng ngôi làng thuộc về Lâu Đài, và vì thế tất cả người trong làng và cả những vị khách vãng lai đều nằm trong Lâu Đài. Nó vừa hữu hình vừa bất khả kiến, hệt như một sinh vật huyền bí.

Thứ mà K. tìm kiếm không bao giờ có thể tồn tại theo ý anh. Và dù không ai có thể nhìn thấy hay chạm vào, mọi người vẫn luôn hành xử như thể nó có ý chí và tính cách riêng. Lâu Đài khiến tất cả kinh khiếp và sự hiện diện của nó luôn bao trùm và thống trị ngôi làng. Khi K. nói với chủ quán rượu rằng anh thà sống tự do bằng cách tránh xa toà lâu đài, người chủ nói như báo trước rằng: “anh không biết Lâu Đài đâu.” Điều này khiến nó nghe như một con người với đầy đủ các tính cách tự thân. Câu chuyện mà Amalia (em gái của Barnabas người đưa thư của Lâu Đài) kể càng làm ta cảm thấy rằng Lâu Đài là một cá nhân có phẩm giá và vì thế có thể cảm thấy bị xúc phạm và âm mưu trả thù. Amalia nhận được một lá thư từ một quan chức Lâu Đài ra lệnh cho cô phải ngủ với hắn. Khi Amalia không tuân lệnh, cô bị trừng phạt không phải vì cô đã từ chối hắn mà vì cô đã xúc phạm đến Lâu Đài. Những gì xảy ra tiếp đó là sự trả thù của Lâu Đài, nhưng ai mới thật sự là người đang thực hiện hành vi trả thù? Như thế thì việc đi lên những ngôi nhà đổ nát túm tụm trên đồi cũng chẳng giải quyết được việc gì.

Phần lớn nội dung tiểu thuyết theo chân K. đi tìm tiếng nói thực có thẩm quyền của Lâu Đài. Nhưng liệu thứ đó có tồn tại không? Làm sao mà một thể chế gồm bao nhiêu con người khác nhau như vậy có thể có một tiếng nói chung được? K. luôn luôn tìm kiếm ai đó để làm mắt xích đầu tiên, làm đòn bẩy bật anh lên những thứ bậc của Lâu Đài để chạm đến tiếng nói thật sự của nó. Đầu tiểu thuyết, một chàng thanh niên tự giới thiệu mình là con của quan tổng quản lâu đài, và điều này tràn trề triển vọng. Nhưng những khởi đầu hứa hẹn nhiều thường chóng phai: quan tổng quản lâu đài có thể có quyền lực ngang ngửa một ông thống đốc hay thấp kém cỡ viên chức quèn, mặc dù điều này cũng chẳng còn ý nghĩa gì lắm vì K. sớm được cho hay rằng chàng trai chỉ đang khoa trương thôi; anh ta chỉ là con của phụ tá, và vấn đề với những người ở chức phụ tá chính là lúc nào cũng có hàng đống người như thế, và cứ bao nhiêu chức phụ tá thì có bấy nhiêu ý kiến khác nhau. Tiếng nói của Lâu Đài lại một lần nữa đột nhiên cách xa nghìn trùng.

Tiếp theo, K. đến gặp lý trưởng. Điều anh muốn từ ông ta là một câu trả lời xuất phát từ phía lãnh đạo: “có” hay “không” việc anh đã được thuê. Anh không nhận được câu trả lời mình cần (mặc dù lý trưởng cũng có ý kiến riêng – một ý kiến tiêu cực) nhưng thay vào đó đã biết được điều có ích hơn. Khi K. phản đối rằng quan điểm của lý trưởng trái ngược với lời của vị quan chức Lâu Đài đã thuê anh, ông đã chia sẻ một vài sự thật quan trọng về những thể chế kiểu như Lâu Đài:

 

Tôi có thể giải thích để ông hiểu. Trong một cơ quan chức trách lớn như của ngài bá tước vẫn có thể xảy ra việc ban ngày chỉ thị cái này, ban nọ chỉ thị điều kia, các ban không biết chỉ thị của nhau, việc kiểm tra của cấp trên tuy hết sức kỹ càng, nhưng do bản chất của nó nên việc kiểm tra xảy ra rất muộn, rốt cuộc dẫu sao cũng có thể xảy ra lộn xộn nho nhỏ.

 

Việc nhắc đến nhân vật Bá tước này tựa như đang chỉ ra một người thật có thể lên tiếng nói về Lâu Đài, nhưng hoá ra cũng chỉ là ảo tưởng: vị Bá tước này không bao giờ được tìm kiếm hay tìm thấy mà chỉ âm thầm biến mất khỏi thiên truyện. Về sau, Olga, một đồng minh, đã lần nữa khẳng định điều này mạnh mẽ hơn: “Trong ban ngành của mình thì ông ta có thể hiểu được hàng loạt điều chỉ từ một từ thôi, còn chuyện thuộc phòng ban khác thì dù được người ta giải thích hàng giờ liền, ông ta có lẽ sẽ lịch sự gật gù nhưng vẫn chẳng hiểu gì.” Nếu K. thật sự tâm niệm những lời này, anh sẽ phải kết luận rằng việc tìm kiếm tiếng nói thật của Lâu Đài khó như mò kim đáy bể.

Lý trưởng tiếp tục nói rằng việc tất cả các phòng ban bộ phận có phát biểu trái ngược nhau không phải hoàn toàn xấu. Ngược lại, từ sự hỗn loạn này thi thoảng nảy sinh ra những lời giải vô cùng xuất sắc và dứt khoát cho các vấn đề. Tất nhiên, ông nói, anh chắc chắn sẽ không tìm ra câu trả lời cho kịp lúc cần dùng đến. Nhưng kể cả nếu có tìm được cách giải quyết dứt khoát, làm sao anh biết được rằng sẽ không có lời giải theo sau phủ định lại nó? Anh không biết được đâu.

Và bất chấp tất cả những dấu hiệu cho thấy không bao giờ có thể tìm thấy tiếng nói có thẩm quyền của Lâu Đài, mọi người vẫn bị ám ảnh với những thái độ và tầm ảnh hưởng của nó, và vì thế tuyệt vọng cần tiếp cận được nó và những người có vẻ giữ vai trò quan trọng trong đó. Lạy Giời, Lâu Đài luôn che giấu kỹ hoạt động nội bộ. Olga nói với K. rằng: “Ở đây có câu thành ngữ: ‘Những quyết định hành chính rụt rè như gái tơ’.”

 

Suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết, một vài người xuất hiện và có vẻ có tiềm năng tiếp cận đến bộ não hay tiếng nói của lâu đài, và K. luôn nhiệt tình theo đuổi những người này. Anh đặc biệt muốn tìm đến những vị tai to mặt lớn của Lâu Đài. Ứng cử viên hàng đầu cho vị trí lãnh đạo Lâu Đài xuất hiện trong truyện là Herr Klamm.

Trong chương hai, người đưa thư Barnabas, anh trai của Olga, tìm đến K. với một lá thư từ Klamm gửi cho K. Có vẻ Klamm là trưởng ban X, một chức vụ mà vào lúc đấy chắc hẳn vô cùng ấn tượng và huyền bí – cho đến khi lý trưởng cho hay một số phòng ban làm chuyện này và một số khác làm chuyện kia. Lá thư của Klamm xác nhận rằng K. đã được thuê, và gã gửi K. đến chỗ lý trưởng để nhận chi tiết công việc. Nhưng khi gặp lý trưởng, K. (tất nhiên) lại một lần nữa bị nói rằng anh chưa bao giờ được thuê.

Klamm trở thành Chén Thánh muôn đời tìm kiếm của K., và anh dành rất nhiều thời gian cố gắng tìm gặp và trò chuyện với gã (mặc những lời cảnh báo của lý trưởng) bởi anh đinh ninh rằng Klamm có thể dẫn anh đi vào đúng con đường tìm kiếm tiếng nói thật sự của Lâu Đài. Nhưng khoảng cách gần nhất giữa anh và Klamm chỉ xảy ra khi Olga dẫn anh đến một quán rượu mà Frieda, cô phục vụ ở đó, nói với anh rằng mình là nhân tình của Klamm. Cô để anh nhìn lén Klamm qua một cái lỗ nhỏ trên tường phòng gã. K. đợi bên ngoài quán rượu, hy vọng sẽ gặp được Klamm khi gã bước ra ngoài, nhưng bao giờ Klamm cũng tìm được cách tránh mặt anh.

  1. càng cố gắng với tới cấp bậc cao hơn trong Lâu Đài bao nhiêu thì lại càng tụt lại bấy nhiêu – tụt xuống đến tận những viên chức thấp nhất trong Lâu Đài. Anh tràn trề hy vọng khi gặp Herr Momus, người tự giới thiệu là thư ký làng của Klamm. Nhưng đến đây rồi thì anh nên biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo: hoá ra Momus chỉ là một trong vô vàn thư ký của Klamm, và như thường lệ điều này lại làm giảm đi sự quan trọng của bất kì ai trong số đó.

Nỗ lực leo cấp của K. bắt đầu trượt dốc không phanh khi Olga kể cho anh nghe về những điều Barnabas nghi ngờ về Klamm: giờ đây anh không biết liệu người tự nhận là Klamm có đúng là Klamm không. Tin nhắn của Klamm gửi cho K. thông qua Barnabas là điều đầu tiên cho anh hy vọng về một phán xét rõ ràng và uy tín của Lâu Đài, lẽ vì vậy sự nghi ngờ này mới thật sự làm lung lay ý chí anh. Nhưng Olga cũng ngờ vực Barnabas không kém: anh ta đi ra đi vào nhiều văn phòng, cô nói, nhưng liệu những phòng ban đó có phải là Lâu Đài thật không? Những ngờ vực của riêng K. đối với vị trí của Barnabas trong Lâu Đài lại tiếp tục xâu chuỗi thành những suy tưởng vô cùng điên cuồng và quay cuồng trượt giảm, bởi với mỗi cơ hội đều kéo theo những phủ định của chính nó, và K. đành phải chấp nhận những điều nhỏ hơn:

 

[Barnabas] được phép vào trong các văn phòng hoặc vào một phòng ngoài, nếu cô thích gọi như thế; được rồi, vậy thì đó là một phòng ngoài, nhưng có các cửa dẫn đi tiếp… Barnabas nói chuyện với ai ở đó, tôi không biết, có thể tay thư thủ nọ là người đầy tớ cấp thấp nhất, nhưng dù là cấp thấp nhất gã cũng có thể đưa cậu ấy tới cấp cao hơn và nếu không thì ít ra gã cũng có thể nêu tên người đó và nếu không thể nêu tên, gã vẫn có thể chỉ cho cậu ấy người nào có thể nêu tên được. Người được gọi là ngài Klamm có lẽ chẳng mảy may giống ngài Klamm thật… hắn có thể là kẻ thấp nhất trong các viên chức, có khi còn chưa là viên chức nữa cơ, nhưng hắn vẫn có nhiệm vụ nào đó ở cái bàn đứng, hắn đọc gì đấy trong quyển sách to tướng của hắn, hắn thì thầm gì đấy với tay thư thủ… và ngay cả nếu tất cả những điều này không có thật và hắn cũng như hoạt động của hắn hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì, thì vẫn có ai đấy đã đặt hắn đứng ở đó và với ý định nào đấy.

 

Công cuộc tìm kiếm của K. giờ đã hoàn toàn bị đảo lộn. Khi không thể với tới cấp lãnh đạo trên cùng của Lâu Đài để tìm tiếng nói thật, anh chạy thục mạng tới những hàng ngũ thấp nhất, nơi mà cả những thành phần thấp kém nhất của Lâu Đài cũng phải ít nhiều có liên quan gì đến mục đích cao cả của nó, và vì thế chắc hẳn phải soi sáng cho anh đôi chút về mục đích đó.

Tất cả những điều này lại làm ta nhớ về những nỗ lực điên cuồng của con vật trong việc giải nghĩa cái hang của nó trong “Cái hang”. Như con thú, K. tự vắt kiệt sức mình bằng việc không ngừng phân tích một câu hỏi không có lời giải hợp lý. K. và con vật cứ càng cố tìm lời giải lý tính bao nhiêu thì càng phải gấp đôi nỗ lực bấy nhiêu để tìm ra đáp án.

Sẽ là một sai lầm nếu nhìn nhận Lâu Đài là một tác phẩm châm biếm về chủ nghĩa quan liêu. Chủ đề châm biếm đó đã được viết đi viết lại nhiều lần, nhưng những mối quan tâm của nó không hề giống với những vấn đề của Kafka. Trọng tâm của văn học châm biếm luôn là những chủ đề chống lại sự quan liêu bàn giấy quen thuộc: tính vô hiệu quả của nó, sự tầm thường, tự phụ, thiển cận, vô hồn và ngắc ngoải của nó, cùng với sự vô trách nhiệm của tâm lý làm việc theo giờ hành chính. Lâu Đài lại nói về một chủ đề hoàn toàn khác: mâu thuẫn giữa cách chúng ta công nhận thể chế là một phần bình thường trong cuộc sống của mình với hiện thực rằng chúng là những điều vô cùng kỳ quái bắt buộc ta phải hành xử khác với tính chất thật của chúng. Ta tin chúng dù không thể nhìn thấy, nghe thấy, hay chạm vào. Ta gán vào đó nào là động cơ, cá tính, khát khao, và cả bản ngã đạo đức. Ta lẫn lộn những công trình vật chất với bản thể của chúng: toà lâu đài khác với Lâu Đài. Nhưng kể cả câu hỏi đơn giản nhất cũng khiến ta gặp rắc rối: ai lên tiếng cho Lâu Đài? Thể chế là những tập hợp con người, nhưng sự tồn tại của chúng không cần đến riêng một cá nhân nào cả. Chúng ta bắt buộc phải đối xử với chúng theo cách ta đối xử với một con người thực thụ, nhưng điều đó là một sự hư cấu đã gây cho K. và tất cả chúng ta những phiền toái bất tận.

Lâu Đài của Kafka có thể giống một tác phẩm châm biếm thể chế, nhưng bất kỳ ai từng viết một lá thư giận dữ gửi đến một tổ chức lớn đều không sớm thì muộn nhận ra rằng mình không hề viết gửi cho một cá nhân cụ thể nào cả. Trong thế giới hiện đại, những lời hồi âm được lập trình sẵn trên máy tính càng minh chứng cho sự vô vọng này, nhưng cũng không thể làm gì để thay đổi cục diện. Gia đình của Amalia cố gắng cầu xin Lâu Đài tha cho nàng tội báng bổ, nhưng nếu nàng được tha lỗi thì đó cũng không phải là nhờ Lâu Đài mà là nhờ ơn ai đó ở đâu đó mà thôi.

Một thể chế khá giống một sinh vật huyền bí ta đồng tình tin tưởng vào. Các triết gia Khai sáng không đồng tình với việc tin vào huyền thoại, nhưng những sinh vật huyền bí không ai nghe thấy nhìn thấy mà các triết gia nghĩ đến đều không hề có sức ảnh hưởng thật đối với cuộc đời ta, trong khi Lâu Đài của Kafka lại là một thế lực vô tiền khoáng hậu.

 

“Auf der Galerie” (“Trên khán đài”) là một truyện vô cùng ngắn, chỉ gói gọn trong một trang, nhưng lại là tác phẩm phác hoạ chính xác nhất thái độ điển hình của Kafka đối với sự tương phản gắt gao giữa viễn cảnh về thế giới Khai sáng tốt đẹp và bản chất cảm xúc tiền-Khai sáng vẫn tiếp tục đeo đuổi mỗi cá nhân. Câu chuyện chỉ bao gồm hai tình huống giả định về cùng một sự việc xảy ra trong rạp xiếc: trên vũ đài, viên quản rạp chỉ đạo một nữ kỵ sỹ cưỡi ngựa biểu diễn trước vô vàn khán giả dõi theo. Trong giả định đầu, nàng kỵ sỹ mong manh yếu ớt, tên quản rạp thì tàn nhẫn và bạo lực, không ngừng quất ngựa bắt nàng cưỡi mãi vòng quanh sân khấu, còn khán giả cũng không bao giờ thấy thoả mãn hay mảy may động lòng thương xót trước cảnh tượng bất nhân này. Trong giả định thứ hai, nàng kỵ sỹ xinh đẹp ngời ngời, viên quản rạp dịu dàng che chở, và khán giả lại vô cùng mê mẩn nàng.

Nhưng tình huống đầu tiên được xây dựng trên nền tảng điều kiện: nếu mọi chuyện không đổi, ta được biết, thì một chàng thanh niên dưới hàng ghế khán giả sẽ chạy lên vũ đài và la lớn: Dừng lại ngay! Nhưng, ta lại được biết thêm, sự việc đã không xảy ra theo giả định ban đầu. Thay vào đó, thực tế lại chính là tình huống thứ hai và “bởi lẽ đây là sự thật, nên chàng trai dưới khán đài đành gục đầu lên lan can khán đài, và, như thể chìm dần vào một giấc mộng buồn khi màn biểu diễn đi đến hồi kết thúc, chàng vô thức bật khóc.”

Ngạc nhiên thay, tình huống thứ hai chứ không phải tình huống thứ nhất mới gây đau khổ khôn nguôi. Viễn cảnh thứ hai miêu tả thế giới hoàn hảo của kỷ Khai sáng nơi mà ai ai cũng đều tốt bụng và quan tâm lẫn nhau. Không có chỗ cho người hùng, bởi lẽ thế giới đó đâu cần gì đến anh hùng. Chính xác hơn, nó không có chỗ dung thứ cho những vất vả đời thường quen thuộc với ta. Đó là một thế giới ngập tràn ánh sáng và sắc đẹp, và Kafka càng nhấn mạnh điều này bằng cách miêu tả nó cầu kỳ và chi tiết hơn hẳn viễn cảnh thứ nhất: người quản xiếc nhẹ nhàng nâng nữ kỵ sỹ đặt lên yên ngựa trắng; gã chạy bên ngựa và dõi theo từng chuyển động của nàng; gã nào dám lấy roi quất ngựa; gã không thể tin vào mắt mình trước tài nghệ điêu luyện của nàng; và gã bắt dàn nhạc im tiếng khi nàng chuẩn bị cho cú nhảy nhào lộn.

Nhưng vấn đề ở đây là thế giới này không có chỗ cho bi kịch, hay những hành động dũng cảm lên tiếng khẳng định đúng-sai. Không ai được yêu cầu làm gì ngoài việc ngồi yên chiêm ngưỡng vẻ đẹp của màn trình diễn. Nhưng con người bằng xương bằng thịt sẽ chịu ngồi yên tới bao giờ? Đây chính là tóm tắt định hướng của Kafka. Con người được sinh ra cho viễn cảnh thứ nhất chứ không phải viễn cảnh thứ hai. Chính sự không hoàn hảo của con người khiến cuộc đời này trở thành hiện thực – và đáng quý. Vị khán giả trong rạp xiếc cố gắng tưởng tượng ra cho mình một vai trò có nghĩa đối với chuyện đang xảy ra, nhưng lại cảm thấy bị ruồng bỏ bởi cảnh tượng đẹp đẽ không tì vết trên vũ đài. Chúng ta không được trang bị để sống cuộc đời chỉ gồm những tình huống lý tưởng như thế.

Các tác phẩm của Kafka ta bàn luận trong phần đầu của nghiên cứu này có thể chia làm hai dạng chính. Dạng thứ nhất, bao gồm “Cái hang” và Lâu Đài, tập trung vào những phương diện của cuộc đời mà trong đó lý trí dù lợi hại đến mấy cũng chỉ là con dao hai lưỡi. Dạng thứ hai, “Hoá thân” và “Trên khán đài”, kể về việc thế giới trong mơ tốt đẹp và dịu dàng của các triết gia Khai sáng đã bị đảo lộn ra sao bằng sự tái thiết lập hệ giá trị xưa cũ. Câu chuyện nổi tiếng của Kafka mang tên “Das Urteil” (“Lời tuyên án”) là một ví dụ điển hình cho dạng thứ hai, và ta sẽ tiếp tục bàn luận về nó trong phần sau.

John M. Ellis

Alicia Oanh Le dịch

Bản gốc tại: https://www.newcriterion.com/issues/2018/10/how-to-read-kafka-part-i

Phần tiếp theo tại đây.


 

[1] Các đoạn trích Lâu Đài lấy từ bản dịch của Lê Chu Cầu, Nhã Nam 2018.

[2] Các đoạn trích lấy theo bản dịch với tiêu đề “Hang ổ” của Nguyễn Văn Dân trong Tuyển tập tác phẩm Franz Kafka, Đông Tây 2003.

[3] Các đoạn trích lấy theo bản Vụ án/Hóa thân của Phùng Văn Tửu-Đức Tài dịch, NXB Văn học 1989.

 

One thought on “Đọc Kafka như thế nào: Phần I

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s