Bàn tròn Budapest

(Bài viết thuộc Zzz Review số 6, 31-7-2019)

Văn bản sau đây là bản dịch nội dung cuộc hội thảo bàn tròn giữa các nhà văn được Quỹ Wheatland New York mời đến Budapest tham dự Hội thảo Văn học Wheatland để bàn luận về khái niệm Trung Âu, bên cạnh nhiều chủ đề khác. Cuộc hội thảo diễn ra vào tháng Sáu năm 1989, ngay trước các biến cố đảo lộn đã làm thay đổi tình thế chính trị không chỉ ở Trung Âu mà là toàn thể châu Âu. Tuy nhiên những thay đổi ấy không làm mất đi giá trị của cuộc thảo luận này. Trung Âu như một mô hình văn hoá đang và sẽ tiếp tục là một vấn đề hóc búa, như bản ghi chép có lược bớt này đã cho thấy rõ.

Những người tham gia buổi toạ đàm bao gồm nhà thơ đoạt giải Nobel Czesław Miłosz; Adam Michnik, sử gia và nhà lãnh đạo nhiệt huyết của Công đoàn Đoàn kết Ba Lan; ba nhà văn tên tuổi của Hungary, Konrád György, Esterházy Péter và Mészöly Miklós; nhà thơ Áo H. C. Artmann; nhà thơ Estonia Paul Eerik Rummo; nhà văn người Ý và cũng là chuyên gia về Trung Âu Claudo Magris; nhà tiểu thuyết người Nga Eduard Limonov; và Danilo Kiš đến từ Nam Tư, một trong những cây bút tài năng nhất thời chúng ta, đã qua đời chỉ vài tháng sau cuộc hội thảo ở Budapest. Buổi toạ đàm được điều phối bởi Michael Scammell, giáo sư văn học Nga, cũng là người viết cuốn tiểu sử nổi tiếng về Aleksandr Solzhenitsyn.

 

Michael Scammell

Đây là một thời khắc khá là lịch sử đối với phần này của thế giới. Vậy nên, cuộc thảo luận của chúng ta sẽ rất khác so với những gì ta có thể hình dung dù chỉ vài tuần trước, bởi lẽ bối cảnh giờ đây đã thay đổi đến tận gốc rễ. Có một cảm giác rõ rệt rằng đây là phút cáo chung của một thời kỳ, và chúng ta mong nó đúng là như vậy. Cũng vì thế có thể nó còn là khởi đầu của một thời kỳ mới. Tôi hy vọng các thành viên của buổi toạ đàm sẽ thảo luận xem điều này có ý nghĩa thế nào với họ, với Trung Âu, với văn học và văn hoá của khu vực. Năm 1988 ở Lisbon, tại Hội thảo Văn học Wheatland Czesław Miłosz đưa ra ý kiến rằng ngay cái khái niệm Trung Âu, từ trong nguồn gốc và bản chất, đã chủ yếu mang tính chống Liên Xô. Ông biết rất rõ những thay đổi đã xảy ra kể từ thời điểm ấy. Trong phần trình bày của mình ông sẽ nói về việc nhận định ấy liệu có còn đứng vững không, liệu Trung Âu về bản chất vẫn là như cũ hay nội hàm của khái niệm đó đã thay đổi – thực tế là, liệu trong tương lai nó có còn tồn tại như một khái niệm hay không.

 

bàn tròn - Czesław Miłosz

Czesław Miłosz

Trong cái năm phi thường mang nặng hy vọng chính trị này, thật khó nói về văn học mà không đề cập đến chính trị. Thế nên cho phép tôi được bắt đầu với vài câu hỏi căn bản. Tại đây bên bờ sông Danube, cũng là tự nhiên khi tự hỏi liệu ý niệm Trung Âu có phải chỉ là ý tưởng bốc đồng của một vài trí thức, hay giờ đây nó có thể mang lấy ý nghĩa mới nào đó nhờ vào những mong ước dân chủ đã dâng lên trở lại ở nhiều nước.

Thực tế đơn giản là góc nhìn của chúng tôi, dù là người Ba Lan, người Hungary hay người Nam Tư, rất khác với góc nhìn của người Tây Âu, người Nga hay người Mỹ. Theo một luận điểm thường xuyên được đưa ra, “Trung Âu” là một ý niệm nhân tạo, bởi lẽ các quốc gia quy tụ dưới cái tên này vẫn mong mỏi trở thành một phần của Tây Âu và chỉ vậy thôi. Trong nhận định ấy có một phần sự thật, nhưng những người ủng hộ nó lại bỏ qua những sự việc nhất định và một vài sang chấn chưa nguôi ngoai.

Năm mươi năm trước, ngày 23 tháng Tám năm 1939, một sự kiện quan trọng đến thảm khốc đã diễn ra và trở thành tiền đề cho Thế chiến thứ hai. Đấy là việc ký kết Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, với những nghị định thư bí mật và điều khoản không được tiết lộ, định hình nên cái gọi là phạm vi ảnh hưởng, đã chia đôi phần châu Âu của chúng ta cho Đức và Liên Xô. Ngăn cách giữa chúng ta với sự kiện này là nửa thế kỷ, nhưng cũng còn là hàng triệu cái chết, những cuộc trục xuất hàng loạt, những cuộc tru diệt dân thường có kế hoạch, trại tập trung, trại khổ sai. Và có lẽ cái khác nhau cơ bản giữa hai nửa châu Âu là sự khác nhau giữa ký ức và không có ký ức. Với người Tây Âu hiệp ước ấy không là gì hơn ngoài ký ức mơ hồ về một quá khứ mù mờ. Với chúng tôi – tôi nói chúng tôi, vì bản thân tôi đã trải qua hậu quả từ cái hiệp ước ký giữa các siêu cường ấy – sự chia cắt châu Âu là một thực tế sờ sờ ở đấy, mà những ai sinh ra ở các nước chúng tôi sau cuộc chiến cũng đều cảm thấy. Vậy nên, tôi mạn phép đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về Trung Âu: tất cả những nước mà vào tháng Tám năm 1939 đã là đối tượng thật sự và trên giả thuyết bị đem ra trao đổi giữa Liên Xô và Đức. Có nghĩa là không chỉ mình khu vực vẫn thường được hình dung là nằm ở giữa, mà cả những nước Baltic – tức là khu vực nơi tôi ra đời.

Việc bị đẩy xuống chỉ còn là khách thể của lịch sử đã tạo nên những sang chấn đủ nặng nề, giải thích cho sự cảnh giác của chúng tôi khi nghĩ đến hai người hàng xóm lớn. Giành được độc lập từ Anh Cả phía Đông không nhất thiết nghĩa là được tiếp nhận vô điều kiện vào phương Tây, cái phương Tây được đại diện bởi sức mạnh kinh tế của Đức. Tôi phát ngôn đây không phải với tư cách một chính trị gia hay nhà kinh tế học, nhưng người cầm bút không thể từ bỏ việc xác định lãnh thổ cho những ưu tiên của mình trong văn chương.

Chúng ta đang bước vào thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi và, nhìn nhận tổng thể, chúng ta không thể không gọi nó là một thế kỷ cách mạng. Dẫu cho việc đánh đồng cách mạng chính trị với cách mạng nghệ thuật hay văn học sẽ là sai lạc, thì sự tồn tại của mối liên hệ nối liền nghệ sĩ và người làm cách mạng là điều không phải bàn cãi. Cuộc phản kháng của đám nghệ sĩ bôhêmiêng thế kỷ mười chín trước giới tư sản và philistine đã để lại một di sản rõ rệt – ví dụ như trong lịch sử phái siêu thực. Giờ đây trong một thời kỳ đôi khi được gọi là hậu hiện đại, chúng ta tự hỏi liệu có phải mình đã bị ném vào một tình thế khiến cho ta không thể cự tuyệt trật tự hiện có của vạn vật, và liệu có phải mối ác cảm của chúng ta với đám tư sản và philistine đã hoàn toàn mất cơ sở. Sự tan rã của giáo điều cộng sản, của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa v.v đã bỏ mặc nghệ thuật và văn học cho định luật cung cầu, dù là ở Đông hay Tây. Phương Tây suy đồi bên cạnh phương Đông giàu nội lực và lành mạnh về đạo đức – hình ảnh ấy đã vỡ vụn. Và các nước Trung Âu chúng tôi không còn được bảo bọc bởi những hàng rào nhân tạo ngăn chặn những lời lẽ, âm thanh và màu sắc tràn vào từ phương Tây.

Bởi lẽ tôi đang sống ở Mỹ và trong chừng mực nào đó là một nhà thơ Mỹ, đáng ra tôi nên vui mừng trước chiến thắng của tự do này – dù mới chỉ là tự do tương đối, vì các hàng rào vẫn tồn tại. Nhưng chính những gì trải qua tại Mỹ đã lại củng cố cho niềm tin của tôi rằng con người không chỉ sống nhờ bánh mì. Tôi không thể vui được khi thấy chúng ta, dù sống ở đâu, bước vào một giai đoạn mà tuyên bố rằng con người cần nhiều hơn là bánh mì sẽ chỉ được đáp lại bằng cợt nhạo. Hay là nhiều hơn tình dục và bạo lực, tuỳ người. Nỗi thống khổ của hàng triệu con người dưới bàn tay các chính quyền toàn trị sẽ bị dìm vào quên lãng nếu không có một thứ quý giá đã được cứu ra từ thảm hoạ, đấy là sự khám phá ra cái ranh giới rõ ràng giữa thiện và ác, sự thật và dối trá. Các nước Trung Âu đang khám phá ra điều này, trong khi với những trí thức người Mỹ hay Tây Âu sự đối lập thiện ác đang trở thành một ý niệm có phần lỗi thời.

Thái độ phê phán của các nhà văn Trung Âu với các đồng nghiệp phương Tây là hoàn toàn hiểu được. Những người chiến đấu chống lại việc xoá mờ ranh giới giữa xấu và tốt thường lên án, đôi khi là bất công, các văn nghệ sĩ trong quá khứ đã từng ca tụng cuộc khủng bố chính trị của nhà nước ấy. Tôi thậm chí từng thấy một danh sách đen do một số văn sĩ Moskva soạn ra. Danh sách ấy liệt kê tất cả những ai ở phương Tây, bắt đầu là Bernard Shaw, đã tự bôi nhọ chính mình khi công khai khen ngợi một chế độ đã bắt nhốt hàng triệu công dân Liên Xô vào các trại gulag.

Hàng thập kỷ đau đớn và nhục nhã – đó chính là cái đã khiến các nước Trung Âu khác với những nước phương Tây. Văn chương không thể tránh khỏi dấu ấn từ vấn đề ấy, mà thường là theo một cách khá bất ngờ.

Các văn sĩ ở Ba Lan (và Ba Lan hoàn toàn có thể đại diện cho vài nước khác) đã khám phá ra những nguy hiểm mang lại từ việc dính líu và tham gia trực tiếp vào chính trị. Sự hèn nhát và chủ nghĩa cơ hội thuần tuý không phải là những động lực duy nhất khiến một số người nghe theo giáo điều của đảng Cộng sản thời hậu chiến, tuy nhiên ngay cả những người xuất phát từ lý do đạo đức cũng không khỏi nhận thấy cái thực tế khốn cùng và những sự dối giá của báo chí. Rồi đến thập niên 70 văn học Ba Lan chuyển sang phe bất đồng và mau chóng trở thành đồng minh của Công đoàn Đoàn kết, cả trong thời điểm vinh quang của nó những năm 1980-1981 lẫn trong lúc nó bị truy lùng dưới thời thiết quân luật. Thời ấy sự đúng sai về đạo đức đã rõ như ban ngày và không một văn sĩ nghiêm túc nào đứng về phía bộ máy đảng. Không may thay, những tác phẩm quan trọng không nhất thiết được sinh ra từ một trái tim vàng và những ý định tốt đẹp. Thứ thơ ca văn học ám ảnh nhai đi nhai lại một chủ đề của thập niên vừa rồi là nạn nhân của mối bận tâm chỉ xoáy vào mục tiêu độc nhất là giải phóng khỏi một hệ thống chính trị nát bấy – hẳn nhiên là một nhiệm vụ cao cả. Nhưng thơ ca văn học có luật lệ riêng của nó; nó bị ràng buộc bởi những đòi hỏi về hình thức và về sức sống lâu dài.

Có một câu hỏi chính đáng là sẽ thế nào nếu một văn sĩ Ba Lan, Hungary hay Litva quyết định tạm dừng chú mục vào cái hiện tại để quan tâm đến những chủ đề bên ngoài là tình yêu và cái chết. Anh ta có ở cùng vị thế với một nhà thơ hay nhà tiểu thuyết sống ở London, Paris hay New York không? Theo tôi nghĩ là không. Đến đây, chúng ta đụng chạm đến một vấn đề thực sự đau đầu và không mấy liên quan đến những lựa chọn tôn giáo, triết học, chính trị đặt ra cho mỗi người văn sĩ. Mà nó liên quan đến toàn bộ não trạng của người đó, một não trạng không hẳn hình thành một cách có ý thức. Một đóng góp cụ thể từ khu vực này của châu Âu cho văn học thế giới có lẽ chính là việc đưa cái não trạng đặc thù ấy lên trang giấy, với cả những điểm mạnh lẫn điểm yếu của nó.

Trong lúc dịch sang tiếng Anh và chuẩn bị xuất bản những bài thơ sắc dục của Anna Świrszczyńska, một nữ thi sĩ người Ba Lan, tôi nhận thức được thơ bà khác biệt thế nào với các nhà thơ nữ đương đại người Mỹ. Thay vì giọng điệu xưng tội, ở đây có một thái độ xa cách rất nhất quán, sự quan sát ra chiều thú vị về bản thân bà và một người đàn ông. Người đọc không khỏi nhận thấy sự khách quan độc ác đến ngỡ ngàng và sự vắng mặt mọi yếu tố tâm lý học. Đây mới chỉ là một ví dụ. Một người bạn Mỹ cùng dịch với tôi đã có lần hỏi, “Tại sao anh và các nhà thơ Ba Lan khác lại hứng thú với việc suy nghĩ các vấn đề triết học thông qua thơ đến vậy?” Câu trả lời tôi đưa ra có lẽ phản ánh một trải nghiệm tập thể; đó là chúng tôi cùng mang một nhận thức cụ thể về lịch sử, bị áp đặt cho chúng tôi dù không hề mong muốn. Cái trải nghiệm dự phần vào một tấn kịch lịch sử và vòng cương toả của xã hội với cá nhân có lẽ đã đem đến một thái độ khách quan nhất định, kể cả là trong thơ tình. Nhưng những câu trả lời kiểu vậy không hẳn là đã hoàn toàn đủ. Rất có thể ở đây còn có cảm giác về sự cân xứng, rằng một vài cách viết, cách suy nghĩ nhất định dường như là quá hời hợt phù phiếm khi đối diện với những thói quen diệt chủng của con người. Dù là gì thì tôi cũng có cảm giác mình đang chạm đến một cái gì đó rất thật mà tôi chưa thể gọi tên ra.

Tôi không có ý định che giấu sự thật rằng tôi cũng mang trong mình một sự cuồng tín nhất định, dù cho không – ít nhất là tôi hy vọng không – mang tính giáo điều. Sự cuồng tín này nhằm chống lại những xu hướng trong văn học phương Tây đương đại đi ngược lại nhu cầu về lịch sử của tôi – một lịch sử những giá trị, hình thức và phong cách. Tôi không có những đáp án có sẵn; như đã nói, tôi cố gắng dựa vào thực nghiệm mà lần tìm các công thức chỉ bằng việc lưu ý những cách tiếp cận quen thuộc trong các tác phẩm văn chương viết ra tại khu vực này của châu Âu.

Thuật ngữ “óc tưởng tượng lịch sử” là cái không thể định nghĩa, nhưng hẳn nhiên là một số người có nó, một số không. Tôi tin rằng một người sở hữu óc tưởng tượng kiểu ấy có thể đọc vị được chính xác các sự kiện bằng cách liên hệ chúng với một nơi chốn và thời gian cụ thể. Một trong những hệ quả có thể nhận thấy rõ của công nghệ hiện đại và giáo dục đại chúng ở các nước phương Tây là sự mơ hồ trong tất cả những ý niệm liên quan đến lịch sử, thế nên điểm khác biệt giữa thế kỷ mười ba và thế kỷ mười tám đã bị xô lấp, các ngôn ngữ của các vùng đất khác nhau bị nhầm lẫn với nhau, ngày tháng thì lẫn lộn.

Óc tưởng tượng lịch sử có lẽ được rèn giũa bởi ký ức về một sự đau khổ tập thể. Nếu điều đó là đúng, các văn sĩ Trung Âu có nhiệm vụ tận dụng nó trong tác phẩm. Óc tưởng tượng lịch sử tái dựng lại quá khứ và làm cho chúng ta ý thức được sức sống lâu dài khủng khiếp của nó. Ví dụ như, nhắc đến các thành phố Trung Âu ta cần phải lưu ý là chúng luôn mang dấu vết của hai đế quốc thời thế kỷ mười chín: Sa hoàng ở phương Bắc và Habsburg ở phương Nam. Tương tự vậy, trải nghiệm toàn trị sẽ để lại một vết sẹo vĩnh viễn, kể cả nếu, như mong đợi của chúng ta, trải nghiệm đó sẽ không được truyền lại cho các thế hệ sau này.

 

bàn tròn - Eduard Limonov

Eduard Limonov

Khái niệm Trung Âu là một thứ giả trá, đấy là nói nhẹ nhất. Mọi người nên biết rằng, năm 1935 Ba Lan đã ký hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau với Đức, trước cả Hiệp ước Xô-Đức năm 1939. Năm 1938 Ba Lan chiếm một phần đất của Tiệp Khắc. Các vị không nhớ điều đó; các vị chỉ nhớ Hiệp ước Xô-Đức năm 1939.

 

 

bàn tròn - Mészöly Miklós

Mészöly Miklós

Cho phép tôi nói nhanh đôi điều về ý kiến của Czesław Miłosz. Thế kỷ vừa rồi, tại phần này của thế giới, không thể bàn về văn học mà không đả động đến chính trị. Tuyên bố của Jeanne d’Arc, “Khi người Pháp ở Pháp và người Anh ở Anh, ta có hoà bình,” đã dự báo trước việc châu Âu chia nhỏ thành các nhà nước và việc mài sắc các ý thức dân tộc. Nhưng giờ đây, theo rất nhiều cách, một số các nhà nước châu Âu đó, nặng gánh với các thứ vũ khí và tập tục chính trị lỗi thời, đã cạn kiệt hết ý nghĩa. Thời đại mà chúng ta sống vượt ra ngoài lịch sử Trung Âu bởi lẽ những vấn đề này không phải chỉ của riêng chúng ta. Tôi nghĩ cái chúng ta có chỉ là một trong các phiên bản, phiên bản Trung Âu. Tất cả đều là kết quả từ cuộc tranh đấu giữa các đế quốc và các quốc gia dân tộc. Trong lịch sử hiện đại, chúng ta đã phải chống đỡ với ba công cuộc bành trướng đế quốc liên tiếp nhau: đế chế Habsburg, Đức phát xít, và, gần đây nhất, chủ nghĩa cứu thế cuồng tín của Liên Xô. Ngay lúc này đây tương lai văn hoá và chính trị của chúng ta phụ thuộc vào khả năng tận dụng cái cơ hội lịch sử mà Liên Xô đã đem lại.

Coi Trung Âu tách biệt với châu Âu là rất không tự nhiên, dù cho không phải không có tiền lệ trong lịch sử. Trong rất nhiều các giai đoạn Trung Âu bị cô lập về chính trị, nó vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới và nuôi dưỡng châu Âu – cái châu Âu chung mà thực tế là không thể bị chia cắt. Châu Âu là tất cả chúng ta.

Nói rộng hơn, châu Âu đã đem lại nhiều đóng góp về văn hoá, chính trị, đạo đức cho lịch sử thế giới. Lượng xuất khẩu văn minh và công nghệ tạo ra bởi tinh thần châu Âu này đã trở thành một phần văn hoá toàn cầu. Tuy nhiên giờ đây nó lại vấp phải một thái độ nước đôi và lo lắng bởi người ta cảm nhận được cả những điều quý giá và những nguy hiểm nó mang lại. Buồn một điều là di sản văn hoá và tinh thần của Đông Âu lại không được là một phần của văn hoá thế giới như thế.

Chúng ta không thể bước vào thiên niên kỷ kế tiếp nếu không hiểu những nền tảng đạo đức trong văn hoá của ta, không nhận diện được cái bối cảnh chính trị trên đó văn học khu vực Trung Âu phát triển những nét tính cách đặc thù của nó, không thừa nhận đóng góp văn hoá của Trung Âu. Cho phép tôi giới thiệu với các vị một vài nét nổi trội của thế giới chúng ta: tính triết học đậm nét trong văn học Ba Lan và các khía cạnh tiên phong của kịch phi lý Ba Lan; tư duy siêu hình chủ quan của “con người bé nhỏ” trong văn chương Séc; sự phong phú của văn học Croatia và Dalmatia; cái trữ tình bi tráng trong những miêu tả về các cuộc tranh đấu lịch sử đầy anh dũng của văn học Serbia; phong cách Byzantium, được đẩy đến tối đa và rực rỡ, quấn quyện với chất hoài niệm Latinh trong văn học Rumani; và cuối cùng, cái giọng điệu cay đắng, bi thảm, nặng tính hiện sinh, tự đày ải của văn học Hungary. Những yếu tố này đã thấm vào ngôn ngữ chung của châu Âu, mà thường là không ai để ý.

 

bàn tròn - H. C. Artmann

H. C. Artmann

Cái làm tôi thấy nghịch tai là thuật ngữ “Trung Âu”; tôi chỉ biết đến khái niệm Mitteleuropa. Thực tế mà nói, trong buổi thảo luận này, nội hàm thuật ngữ này đã bị đẩy đi quá xa – đến tận khu vực Baltic. Tôi cho là Estonia thuộc về khu vực Scandinavia. Là một người Áo – người Áo duy nhất ở đây – tôi không được tính là người đến từ phần đất nằm giữa châu Âu, vì chúng tôi đã may mắn giành lại được độc lập năm 1955. Tôi chỉ muốn nói có vậy.

 

bàn tròn - Adam Michnik

Adam Michnik

Chúng ta hãy bàn đến hiện tượng văn học Trung Âu đương đại, bởi giờ đây nó đang thu hút mọi sự chú ý, giống như toàn bộ khu vực địa lý đã sinh ra nó.

Sức mạnh của phần này của châu Âu đã luôn nằm ở sự hoà quyện các tôn giáo và ngôn ngữ, các dân tộc và văn hoá. Cái tập hợp phong phú, đa dân tộc, đa văn hoá này đã tạo ra được một thứ văn học đề cao những giá trị của chủ nghĩa đa nguyên văn hoá và sự khoan dung văn hoá. Đặc trưng của khu vực này là các nhà nước đa dân tộc, các nhà nước quy tập trong đường biên giới của nó những dân tộc nói nhiều thứ tiếng khác nhau. Sống cùng với nhau đã buộc người ta phải biết cách khoan dung. Họ hoặc là phải học cách sống chung với sự khác biệt hoặc là đánh nhau đến chết. Đó chính là số phận của các dân tộc tại khu vực này: họ hoặc là sống cùng nhau hoặc là đánh lẫn nhau.

Văn học ở Trung Âu bị ép phải chung sống với chính trị. Sau năm 1945 khi các chế độ toàn trị được khôi phục, cảnh chung sống đó thuộc loại khá đặc biệt: văn học bị đóng sống vào chính trị nhằm thực hiện trách nhiệm hợp pháp hoá cái trật tự mới. Và văn học, bằng cách của mình, quả đã hợp pháp hoá cái trật tự mới – cái trật tự đã đề cao những giá trị như sự bình đẳng, sự giải phóng tầng lớp công nhân và sự suy tôn các viễn cảnh không tưởng xã hội chủ nghĩa. Có lẽ không ai có thể kể lại chính xác cuộc dan díu giữa trí thức Trung Âu và chủ nghĩa cộng sản đến như Czesław Miłosz trong hai tác phẩm lớn của ông, Tư duy bị cầm tùMột châu Âu khác. Cuộc dan díu ấy là một vấn đề trí thức, một vấn đề văn học, nhưng trên hết nó là một vấn đề hiện sinh. Một người viết văn xuất thân từ phần này của châu Âu chúng ta phải đối mặt với một thách thức đặc biệt khó khăn. Sớm muộn gì anh ta cũng phải va chạm với nó. Anh ta được trao cho vị trí kỹ sư tâm hồn, theo như cái mệnh lệnh bất hủ của Yosif Stalin. Và anh ta trở thành kỹ sư tâm hồn, có nghĩa là anh ta dự phần vào lời nói dối ấy, vào việc nhào nặn lại thực tại. Thời ấy, văn học Trung Âu tựa như tiếng thét inh tai từ loa phóng thanh. Trong thời kỳ ấy chỉ một vài người là đủ sức tạo nên một thứ văn chương thì thầm, một cuộc đối thoại bằng lương tâm với một hiện thực quá ư ác độc, quá ư tàn nhẫn, về một sự suy tàn quá ư rộng khắp, đến nỗi chỉ lời thì thầm kia mới là ngôn ngữ của sự thật. Cái thời đó, ai muốn nói lên sự thật đều chỉ có nước thì thầm. Nhưng văn chương thì thầm không chỉ đơn thuần là văn chương. Thét lác phù hợp với các buổi họp chính trị, nhưng thì thầm lại dành cho buồng xưng tội. Thứ văn học ấy một đằng là sự xách động chính trị ầm ĩ, một đằng là lời thú tội thì thầm của một con người bị giày vò.

Văn học khu vực chúng ta thoát thai từ một môi trường có đặc trưng là thiếu vắng các thiết chế dân sự, thiếu vắng những suy ngẫm khoa học và trí thức bình thường. Thế nên nó phải đảm nhiệm tất cả những vai trò ấy cùng một lúc. Nó phải thế chỗ cho điều tra xã hội ghi chép lại sự thật về cuộc sống đời thường. Nó phải thế chỗ cho thảo luận chính trị và đóng vai trò không phải là không giống một nghị viện không tồn tại. Cuối cùng, nó phải thế chỗ cho giáo dục dân sinh và tạo nên kiểu mẫu về đạo đức cho các công dân muốn sống trong sự thật giữa những lời dối trá và muốn được tự do giữa cảnh nô lệ.

Giai đoạn một loạt cuộc nổi dậy sau khi Stalin chết mở ra những khả năng mới cho văn học. Nhà văn trở thành chất xúc tác đặc biệt quan trọng trong tiến trình chuyển mình của xã hội. Cho tới hôm nay, chưa ai viết ra được cuốn lịch sử trí thức thực sự của năm 1956. Và đó là một lịch sử hấp dẫn, vì chính vào lúc ấy đã ra đời cách suy nghĩ mà sau sẽ được gọi là tiếng nói phê bình dân sự với nhà nước toàn trị.

Định mệnh của văn học Trung Âu là tha hương, theo đúng nghĩa đen tức là đi di cư. Không chỉ là trùng hợp khi các nhà văn tên tuổi nhất của Ba Lan, từ Mickiewicz, Słowacki đến Miłosz, Kołakowski, và Gombrowicz – cũng như các nhà văn Tiệp Khắc như Milan Kundera, Josef Škvorecký, các nhà văn Nga như Vladimir Nabokov, Ivan Bunin và Aleksandr Solzhenitsyn, các văn sĩ Rumani như Eliade và Cioran – tất cả đều viết văn khi tha hương. Định mệnh của thứ văn chương này còn là tha hương theo một nghĩa khác – bị xua đuổi khỏi việc lưu hành chính thức. Ở Ba Lan là Zbigniew Herbert, ở Tiệp Khắc là Václav Havel, Bohumil Hrabal, ở Hungary là Konrád György và Haraszti Miklós, ở Nam Tư là Danilo Kiš, ở Nga là Joseph Brodsky và Viktor Erofeev và ở Litva là Tomas Venclova, tất cả đều sáng tác bên ngoài những khung khổ chính thức của đời sống văn học.

Văn học giữ vai trò trọng yếu khi ký ức gặp nguy – vai trò tái dựng lại dòng chảy tiếp nối của văn hoá dân tộc. Nhưng nó còn đóng vai trò trọng yếu khi cái lâm nguy là cuộc nổi dậy nhằm chống lại cái ký ức ấy, nhằm đả phá tất cả những gì dường như là lỗi thời, dường như là một định kiến chết.

Witold Gombrowicz, bậc thầy ngôn ngữ, là người tuyên chiến với tất cả những mặt nạ của Ba Lan, tất cả thói tuân thủ của Ba Lan. Gombrowicz và Miłosz đều cho thấy sự thống nhất này giữa ký ức và nổi dậy, bảo tồn và thách thức, khôi phục và cách mạng. Tất cả những gì có giá trị đạt được ở Ba Lan trong một vài năm vừa rồi, cuộc tái sinh tinh thần lớn lao ấy, đều đã có tiền lệ trong văn học Ba Lan. Văn học chính là thứ đầu tiên tiên báo trước và phác hoạ ra chiến thắng của Ba Lan trước cảnh nô lệ tinh thần.

Khi suy nghĩ về hiện tượng văn hoá Trung Âu đương đại, điều theo tôi là quan trọng nhất lại hoàn toàn không phải ở chỗ nó là thứ văn học chống toàn trị, hay nó bảo vệ tự do trước sự nô dịch. Quan trọng nhất nó là thứ văn học có bàn tới câu hỏi về tôn giáo. Hai thập niên vừa rồi có hai cuốn sách đặc biệt gây ảnh hưởng lên thế hệ chúng tôi và cách suy nghĩ ở Trung Âu – một tuyển tập bài viết của Simone Weil và những chiêm nghiệm thần học của Dietrich Bonhoeffer, khi bị xử tội chết đã thực hiện một cuộc đối thoại với Đức Kitô im lặng trong xà lim.

Chính vì những câu hỏi tôn giáo mà người ta bị xử tội chết ở Auschwitz, ở các trại gulag của Liên Xô, và vào nhiều thời điểm khác bị truy đuổi, bị nhổ lên, và bị bắn. Nadezhda Mandelstam, người vợ goá của Osip Mandelstam, thi sĩ lớn của nước Nga, đã kể lại cho thế giới câu chuyện về hoàn cảnh của người văn sĩ dưới sức ép toàn trị. Không phải là tình cờ mà ánh sáng ẩn giấu trong cuốn sách của bà là ánh sáng tôn giáo. Simone Weil đã dùng đúng cái ẩn dụ ấy, ẩn dụ về ánh sáng. Mô tả lại trải nghiệm tôn giáo của mình, bà nói rằng ánh sáng không có trọng lượng, rằng ta không thể giữ ánh sáng trong tay, ánh sáng không thể được đo đếm hay cầm nắm. Và người mù có thể sống cả đời mà không hề có nhận thức về ánh sáng. Nhưng thiếu ánh sáng thực vật không thể sống, cây sẽ không vươn thẳng và đất sẽ không cho mùa màng.

Theo lẽ này câu hỏi ở tầm cao hơn chi phối văn học Ba Lan đương đại là câu hỏi về tôn giáo. Là câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời và ý nghĩa của sáng tạo nghệ thuật; về ý nghĩa của lòng dũng cảm và ý nghĩa của chống đối; về ý nghĩa của sự khiêm nhường và ý nghĩa của lòng tự trọng. Miłosz và Herbert, Kołakowski và Konwicki, Herling-Grudziński và Barańczak, Krynicki và Adam Zagajewski – không ai trong số họ tự nhận mình là một nhà văn tôn giáo. Nhưng thiếu đi câu hỏi tôn giáo, toàn bộ trải nghiệm của họ sẽ trở nên mịt mù không thể hiểu nổi. Trở lại với tôn giáo không giống như cải đạo. Người ta không nên cứng nhắc gắn sự phục hưng rực rỡ của Công giáo ở Ba Lan, đi liền với việc Giáo hoàng John Paul II được bầu, với hiện tượng tôi đang nói đến. Đúng là có những liên hệ, song tinh vi hơn rất nhiều. Ba Lan là một nước Công giáo. Giáo hội Công giáo ở Ba Lan rất có sức mạnh, nhưng nó bị chia rẽ chẳng kém gì cái dân tộc này. Chính giáo hội ấy đã tạo nên tất cả những gì tốt đẹp nhất ở Ba Lan: nhóm làm tạp chí Tygodnik Powszechny, Jerzy Turowicz và Hanna Malewska, Andrzej Kijowski và Jan Błoński, đó mới chỉ là vài ví dụ. Nhưng giáo hội cũng không miễn nhiễm với những gì là tồi tệ nhất của Ba Lan: mỉa mai thay, cả chủ nghĩa sô vanh, sự bài ngoại, hận thù và bảo thủ cũng tìm được chỗ đứng trong Giáo hội Công giáo.

Nhưng điều mà chúng ta nói tới đã vượt ra ngoài chính trị. Nó bắt ta phải suy nghĩ xem chính trị nên như thế nào, nên bị bắt tuân theo những giá trị nào. Đó là nỗ lực đem chính trị ra đối chất với những câu hỏi căn bản. Dường như chính đây là cái hiện tượng thú vị nhất của văn hoá Trung Âu. Đấy là nền văn hoá của những câu hỏi căn bản. Hay, nói cách khác, giữa tư duy duy lý và dân chủ, tức là lựa chọn của một kiểu chính trị nhất định có đặc trưng bền vững nhất là thoả hiệp, lại vươn lên trải nghiệm của những nhà tiên tri Kitô giáo, đặt ra – như mọi nhà tiên tri đặt ra với mọi kẻ thống trị – những câu hỏi gai góc từ Phúc âm: “Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem, nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta?” (Gio-an 18:23)

 

bàn tròn - Konrád György

Konrád György

Tôi rất thích luận đề của Czesław Miłosz – nó rất thuyết phục. Khu vực của chúng ta là nơi mà quyền tự quyết, trên mọi khía cạnh cá nhân, xã hội và dân tộc, liên tục bị cản trở bởi chúng ta bị đối xử như khách thể – như đối tượng của các thoả thuận, hoà ước và sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa các đế quốc. Chúng ta bị phân chia theo các thoả thuận rất khác nhau của các nước lớn từ thế kỷ mười chín đến giờ, từ Viên đến Yalta, mảnh đất của chúng ta là một phần phiền hà, đáng ghét của châu Âu, và trên thực tế hai cuộc thế chiến đã bắt nguồn từ những bất đồng, xung đột và bất ổn khởi sinh tại vùng đất phía Đông này của châu Âu. Chúng ta nói “Trung Âu” bởi nhẽ còn nhiều vùng châu Âu nằm xa về phía Đông hơn nữa, và đúng là mới đây thôi ta mới bắt đầu ý thức được về rất nhiều những xung đột văn hoá, chính trị, lịch sử khác của châu Âu tại những vùng phía Nam Liên Xô mà thực tế vẫn nằm ở phía châu Âu. Vậy là gần đây phần phía Đông này của châu Âu, từ Baltic đến Kavkaz đang bắt đầu sống động lên; một khu vực đa màu sắc, đa văn hoá, đa dân tộc, kể cả đối với chúng ta là những người vốn đã quen với sự muôn màu muôn vẻ, và vì vậy chúng ta đang bắt đầu sợ rằng mình chỉ thuộc về cái rìa ngoại vi Trung Âu. Sự kiêu hãnh, tự phụ, nỗi sợ hãi, lo lắng khiến chúng ta muốn đứng tách khỏi tất cả phần còn lại. Chúng ta thuộc về một lãnh thổ to lớn, một lục địa to lớn, tức là phần phía Đông của châu Âu, và nó không chấm dứt tại dãy Ural – vì Ural có là cái gì đâu, chỉ là một dãy núi, và cũng chẳng cao gì. Nó không tượng trưng cho một đường biên giới chính trị; thế nên bỗng chốc ta đã ở châu Á và lục địa Á-Âu càng lúc càng là một thực tế thị giác với ta. Chúng ta có mặt ở đây, nhân dịp tròn một năm Hội thảo Wheatland vừa rồi ở Lisbon. Trong một năm vừa rồi đã có chuyện xảy ra – đúng hơn, rất nhiều chuyện đã xảy ra.

Trước hết, ở một vài nước trong số chúng ta giờ đây đã có những tiếng nói dân chủ tự do; họ nói rất thẳng và đã tới mức ảnh hưởng được đến chính sách. Chúng ta đã được nếm trải một thứ gì gần giống như vận động chính trị dân chủ bình thường kiểu phương Tây. Đó là cái đang xảy ra ở Ba Lan, ở Hungary, ở Slovenia và có lẽ là cả ở Croatia. Và nhìn thấy trên truyền hình Moskva giáo sư Sakharov, người đại diện cho phe đối lập dân chủ tự do tuyệt vời trong Quốc hội Liên Xô, ta nhận ra rằng thậm chí cả ở Liên Xô cũng có chỗ cho phát triển dân chủ thuộc một kiểu nào đó. Đây là một sự kiện lịch sử. Nhưng ta cũng quan sát thấy một vài động thái tiêu cực. Giờ đây có mối nguy cơ từ những phiên bản khác quy mô nhỏ hơn của chủ nghĩa Stalin, những luồng tư tưởng kiểu Stalin độc lập, tồn tại ngoài vòng bảo trợ của Moskva, nhưng lại có mong muốn và đủ khả năng duy trì cái cấu trúc quyền lực ấy, và sử dụng thứ ngôn từ cổ xúy lòng tự tôn dân tộc như một thứ công cụ. Và có những người sẵn sàng chuyển qua chuyển lại từ ngôn từ xã hội chủ nghĩa kiểu cộng sản sang ngôn từ xã hội chủ nghĩa kiểu dân tộc, chuyển từ hệ chuyên chế này sang hệ khác, mà gần như không nhận ra mình đã băng qua cái ranh giới mong manh giữa ngôn ngữ cộng sản và ngôn ngữ dân tộc chủ nghĩa. Nhìn Cộng hoà Dân chủ Đức, nhìn Tiệp Khắc, Rumani, Bulgaria, và Serbia, ta nhận thấy ví dụ ở Serbia, người ta tình nguyện và nhiệt tình gia nhập cái phe dân tộc chủ nghĩa cực đoan và nhân danh nó mà ủng hộ ti tỉ các biện pháp chuyên chế hà khắc. Còn có cả một nguy cơ có thực là rồi đây ta có thể có một kiểu liên minh giữa các chủ nghĩa Stalin dân tộc chủ nghĩa. Người Hungary chúng tôi đang phải nếm trải những tín hiệu đầu tiên, những nước đi và tuyên bố cực kỳ thiếu thiện chí từ phía lãnh đạo của Tiệp Khắc và Rumani. Đây có thể là khởi đầu của quá trình tiêu cực này. Tôi không muốn đi tiên đoán xằng bậy về tương lai đen tối, nhưng tôi muốn trình bày những quan sát này để các vị lưu ý bởi chúng có thể trở nên nghiêm trọng trong thời gian tới. Tôi đoán rằng theo một nghĩa nào đó, có hai lựa chọn triết học và chính trị cho khu vực này: một kiểu liên bang dân chủ và một kiểu chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa Stalin dân tộc chủ nghĩa. Khu vực này có thể hình thành một liên minh; thậm chí các nước Khối Warszawa cũng có thể trở thành một liên minh những chế độ độc tài riêng rẽ, dựa vào nhau để duy trì quyền lực. Có thể phần phía Tây của Đông Âu – ý tôi là Ba Lan, Hungary, Slovenia và Croatia – sẽ tìm cách muốn một cái gì đó khác, nếu Moskva cho phép. Nhưng nếu không, tình thế sẽ lại một lần nữa bất lợi cho chúng ta. Tôi xin nói tiếp một điều sẽ khiến các đồng nghiệp phương Tây khó chịu. Cách tiếp cận của các vị với vấn đề Trung Âu là kiểu hai mặt: một đằng là ngôn từ chính trị, một đằng là chiến lược chính trị và luôn có sự chia rẽ giữa hai thứ ấy. Về ngôn từ thì các vị ủng hộ mọi dạng thức dân chủ hoá, hoan nghênh tất cả những mục tiêu dân chủ và tỏ ý không vui khi bất cứ tiến trình dân chủ nào bị chặn đứng. Một mặt khác, tranh đấu phản cách mạng – phản cách mạng theo cách hiểu của Stalin – lại cũng trái ý tất cả các lãnh đạo dân chủ phương Tây.

Người Đông Âu đã phải kinh qua nhiều trải nghiệm đau thương không chỉ dưới bàn tay phương Đông – cái đó thì đã rõ ràng và ai cũng biết cả – mà còn cả bàn tay phương Tây, cái phương Tây vốn luôn là hy vọng của người Đông Âu hoặc của các dân tộc ở nửa phía Đông của Trung Âu. Ví dụ như, các vị có thể nhớ lại lúc Tướng Patton dẫn đầu quân đội và xe tăng Mỹ xuất hiện ở ngoại vi Praha, ông ta đã dừng quân đợi Nguyên soái Koniev tiến quân vào chiếm đóng thành phố. Tại sao ư? Bởi đó là thoả thuận giữa họ. Các vị có quyền không đồng ý. Vậy là, tôi đoán giờ đây chúng ta đang ở trong một tình thế địa chính trị rất phức tạp, phương Tây không thể mời chào phần thưởng nào có thực để đổi lấy ảnh hưởng chính trị ở nước nào nằm trong cái vùng phía Đông của Trung Âu này. Gần như là bất khả thi, cái việc mua – kể cả là với một thay đổi đáng kể trong cấu trúc quân đội – một đất nước như Hungary, mà đó là nó còn ở ngoài rìa khối Xô Viết. Vậy nên, chúng ta phải ở lại trong cái khung Khối Warszawa, không đáng mong đợi gì cho lắm, nhưng tôi không thấy được giải pháp nào khác. Đơn phương tìm đường ra sẽ bị trừng phạt nặng nề. Chúng ta phải ở lại trong cái tập hợp này, và chúng ta phải chịu trận tất cả những luồng sóng dân tộc chủ nghĩa giận dữ đang dâng cao này, tất cả những thù hận nhằm vào nhau này, mà nguồn gốc từ đâu ra thì chịu không ai hiểu được. Thế nên có lẽ cái nhóm người Trung hay Đông Âu ngồi hoà thuận với nhau tại cái bàn này đúng là thể hiện một cách tiếp cận không tưởng, xứng đáng với thời kỳ Khai sáng; nhưng có lẽ thực tế lại tăm tối hơn nhiều.

 

bàn tròn - Esterházy Péter

Esterházy Péter

Cho phép tôi được trung thành với cuộc thảo luận này và nói thật với các vị. Sự thật là chiều nay tôi đã không còn hiểu nổi Trung Âu là gì nữa. Lúc nghỉ giải lao, trong nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng, tôi quay sang Susan Sontag và hỏi, “Nói tôi nghe đi, Susan, Trung Âu là gì?” Susan giữ im lặng và tôi đã không biết được câu trả lời.

Tôi có một vấn đề là: dường như tôi là một kẻ phản bội chạy từ thái cực này sang thái cực khác. Tôi thậm chí còn đồng tình với Joseph Brodsky và cho rằng không tồn tại cái gọi là Trung Âu hay Đông Âu. Chính xác hơn nữa – một việc khá mạo hiểm, bởi Danilo Kiš đang có mặt ở đây – tôi có thể định nghĩa Trung Âu là sông Danube chẳng hạn. Nhưng sông Danube là gì đây? Kể cả Claudio Magris cũng không biết. Thôi thì ta có thể tạm nói sông Danube vẽ nên các nước Trung Âu. Nhưng tôi dám chắc rằng không tồn tại cái gọi là một nhà văn Trung Âu. Trong khi đấy nhà văn Anh thì lại có, bởi có tồn tại cái gọi là ngôn ngữ Anh. Khi các vị đồng nghiệp người Anh muốn làm nhà văn châu Âu, họ thất bại. Hay ít ra đó là cái ấn tượng ta có thông qua bản dịch. Tôi nghĩ nhà văn thuộc về một ngôn ngữ chứ không thuộc về một vùng đất.

Tôi tin rằng ý niệm “nhà văn Trung Âu” xuất phát từ kiểu suy nghĩ tự vệ, từ nỗi sợ. Chúng ta tự vệ trước đủ các kiểu cường quốc, đủ các kiểu dốt nát, và kết quả là chúng ta bị lùa vào trong hàng rào mang tên văn học Trung Âu. Rất dễ chịu, rất tốt, rất hữu dụng đấy, nhưng không thực sự nghiêm túc và hoàn toàn không thực tế chút nào. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói.

 

bàn tròn - Danilo Kiš

Danilo Kiš

Tôi thì muốn bàn xem làm một nhà văn Trung Âu là như thế nào. Esterházy có toàn quyền tự do nói gì ông muốn, nhưng tất cả chúng ta ngồi quanh bàn này đều có điểm chung, một lịch sử chung, với những biến thể tuỳ theo lịch sử dân tộc, nguồn gốc sắc tộc và mâu thuẫn nội tại của từng nước. Tất cả làm nên những đặc trưng này khác trong văn học của chúng ta. Cuối cùng, tôi xin mạn phép nhắc đến người Do Thái. Họ đã đóng góp và dự phần vào lịch sử Trung Âu, và họ đại diện cho một thế giới đã biến mất, họ đại diện cho một sự vắng mặt có thể nhận thấy rõ trong văn chương của ta. Sự vắng mặt này là một đặc điểm của văn học Trung Âu. Và để kết luận, trải nghiệm cộng sản là một yếu tố hết sức quan trọng. Mỗi ngày viết là một ngày tôi phải chiến đấu với tất thảy những yếu tố này; đó là trận chiến mà các nhà văn Trung Âu khác đều phải tham gia; đó là trận chiến mà tôi phải vật lộn cả chính trong chiều hôm nay.

 

bàn tròn - Paul-Eerik Rummo

Paul-Eerik Rummo

Tôi sẽ phát biểu bằng tiếng Nga, và tôi thật lòng mong các vị không xem đây như là một dấu hiệu hay biểu tượng nữa của một cuộc xâm lược nữa của Đế quốc Nga vào mảnh đất Trung Âu, mà là ngược lại, đây là một dấu hiệu cho thấy trong năm mươi năm qua, kể từ khi Estonia, Latvia và Litva bị Liên Xô thôn tính, chúng tôi đã mất đi mối liên hệ đáng kể với Tây Âu, với văn hoá thế giới. Kết quả là, người Estonia thế hệ tôi nói tiếng Nga giỏi hơn những thứ tiếng mà đến giờ vẫn chính thức gắn mác “nước khác” hay ngoại ngữ. Việc tôi ngồi ở cái bàn này gần như là một sự tình cờ, bởi theo địa lý mà nói Estonia không thuộc Trung Âu. Chỉ cần nhìn bản đồ là ta sẽ thấy ngay sông Danube không chảy qua Estonia! Thế nhưng, chúng tôi vẫn thuộc về Trung Âu theo định nghĩa của Czesław Miłosz – chúng tôi cũng là nạn nhân của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Theo lẽ này, chúng tôi đúng là có chịu chung số phận với Trung Âu, phần giữa châu Âu. Nhưng tôi không ưa cái lối suy nghĩ phân chia như thế – tôi không muốn nói tới Tây Âu hay Trung Âu hay Đông Âu gì hết. Tôi cảm giác khi nói năng như vậy, chúng ta cho thấy mình đã rơi vào một cái bẫy, một hệ tư tưởng khép kín, rằng chúng ta cho rằng mình tách riêng với châu Âu tổng thể. Như ai đó ở đây đã nói, chúng ta bắt đầu thấy mình ngoại vi và tỉnh lẻ. Tôi nghĩ như thế là hết sức nguy hiểm. Rơi vào cái bẫy hệ tư tưởng của các siêu cường là điều nguy hiểm. Và tôi e rằng nếu ta nói về Trung Âu, Đông Âu và đại loại vậy, thì chúng ta đang nhai lại một nguyên tắc của các nước lớn đã có từ rất lâu, nguyên tắc chia để trị, và dĩ nhiên đã đến lúc cần bài trừ nguyên tắc ấy rồi. Tôi muốn nói đôi lời về vai trò mà người Estonia chúng tôi và các dân tộc Baltic khác, những dân tộc thiểu số, có thể đóng trong tình thế chính trị mới nổi lên gần đây. Giờ tôi chỉ nói về người Estonia mà thôi – chúng tôi có chung một số phận với Hungary, chung một số phận lịch sử, đặc biệt là từ Thế chiến thứ II, và chúng tôi có chung một số phận sắc tộc với Hungary. Giống như Hungary, chúng tôi là một dân tộc Phần Lan-Ugria và nói một thứ ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Phần Lan-Ugria. Chúng tôi có chung một số phận với người Ba Lan, ít nhất là từ Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, nếu không nói là sớm hơn thế. Và chúng tôi còn có một điểm chung khác với người Ba Lan – Biển Baltic. Cứ như vậy chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều mối dây gắn bó giữa Estonia và các nước cũng như các dân tộc khác của vùng đất rất đỗi rộng lớn này. Thêm vào đó, chúng tôi có mối gắn bó chặt chẽ với Phần Lan và người Phần Lan. Chắn giữa hai nước là Vịnh Phần Lan, một cái vịnh hẹp tí. Tallinn thủ đô Estonia và Helsinki thủ đô Phần Lan chỉ cách nhau khoảng tám mươi kilômét đối diện hai bên vịnh. Và tương tự với người Hungary, chúng tôi là họ hàng rất gần của người Phần Lan. Nhưng đến đây cần phải nói tới một khái niệm mới, khái niệm Baltic-Scandinavia. Chúng tôi không chỉ là một dân tộc Baltic, chúng tôi là một phần của khu vực Baltic-Scandinavia, bởi Phần Lan có họ hàng với các nước Baltic. Phần Lan vốn đã là một phần của Scandinavia và các dân tộc phương Bắc. Các ranh giới về văn hoá và văn học giữa chúng tôi không quá cứng nhắc. Văn hoá này hoà vào với văn hoá kia. Tôi thấy dường như giờ đây Estonia, với lợi thế địa lý và chính trị của nó, có thể đóng vai trò người trung gian, ví dụ như giữa khu vực giờ đây được gọi là Trung Âu với khu vực giờ đây được gọi là Scandinavia và các dân tộc phương Bắc.

 

bàn tròn - Claudio Magris

Claudio Magris

Các ranh giới của Trung Âu là thứ rất khó định vị hoặc định nghĩa – trên thực tế là không chỉ mình những ranh giới ấy. Khái niệm Mitteleuropa không thể dịch thẳng thành “Trung Âu” mà còn hàm chứa một ý niệm nhất định về sự thống nhất, về tính cộng đồng, bất chấp vô số những khác biệt và mâu thuẫn sâu sắc. Cái từ Mitteleuropa được đặt ra vào thế kỷ 19 như một sự định danh mang tính lịch sử-chính trị – một cương lĩnh chính trị, thực vậy. Nó nói lên cuộc chạm mặt của văn hoá Đức với các văn hoá khác cùng khu vực, nhưng hàm nghĩa chủ yếu của nó lại là địa vị tối cao của Đức hay ít nhất cũng là của Đức-Hung ở Trung Âu: List, Bruck, von Stein và sau này là Naumann với Srbik ủng hộ luận điểm này, và với những cấp độ và sắc thái thích hợp tùy từng thời điểm, nó đã thịnh hành từ thời chủ nghĩa tự do đến qua suốt thời Đức Quốc xã.

Ngày hôm nay từ Mitteleuropa lại mang ý nghĩa ngược hẳn lại. Nó gợi ra hình ảnh nhiều dân tộc hòa lẫn vào với nhau, hình ảnh của một thế giới “hinter-national”, như nhà văn người Praha Johannes Urzidil đã nói, một thế giới “ở đằng sau” các dân tộc (như thể người ta không biết mình thuộc quốc tịch nào, như thể quốc tịch của mỗi người có tính đa trùng, phức tạp và đa sắc tộc). Trong tiểu sử của nhiều người đang ngồi quanh bàn này, và trong tiền sử gia đình mỗi chúng ta, vẫn thường tìm thấy những sự pha trộn quốc tịch như vậy, một sự dịch chuyển không ngừng nghỉ về căn tính, một tiến trình trong đó căn tính được làm phong phú lên và/hoặc mất đi.

Sự phức tạp về căn tính của nó hẳn nhiên là đặc trưng quan trọng nhất của Trung Âu; đấy là một trong những lý do Trung Âu đã cho ra đời rất nhiều những tác phẩm văn chương vĩ đại, những cuốn sách khai thác chủ đề phổ quát là căn tính dân tộc, căn tính văn hoá và căn tính cá nhân. Sự khó khăn trong việc định nghĩa mình đôi khi dẫn tới những áng văn tuyệt vời và đôi khi dẫn tới một mớ lộn xộn về hệ tư tưởng. Tại khu vực của tôi, ở Trieste và Friuli, có hai phong trào chính trị đều tự xưng là Trung Âu: một đến từ phe cực tả, tả hơn cả đảng Cộng sản; bên kia thì lại là kiểu thủ cựu-phản động. Đến ngày 18 tháng Tám cả hai đều ăn mừng sinh nhật Hoàng đế Franz Joseph trong khi lăng mạ lẫn nhau.

Vậy đâu là những đặc trưng của văn hoá Trung Âu, nếu nó quả có tồn tại? Tôi chỉ có thể nêu ra vài yếu tố, mà hẳn nhiên không làm nên một thể thống nhất. Ta có chẳng hạn xu hướng muốn phân tích, muốn bảo vệ cá nhân trước cái toàn thể, bảo vệ cái bên lề trước cái trung tâm và trước tất cả những khuôn mẫu quy chuẩn hoá. Ta có vai trò siêu dân tộc của văn hoá Do Thái và quá trình đả phá những hệ thống triết học giáo điều kềnh càng đang muốn quàng dây cương lên tính đa dạng và đa thể của thế giới. Và còn có cả cảm giác rằng mọi thứ – lịch sử, thực tế – có thể khác đi so với hiện trạng của nó bây giờ.

Ngày hôm nay làn sóng phục hưng Trung Âu thường là một cái mốt vờn vỡ hoặc một công thức rẻ tiền, nhưng trên hết nó là biểu hiện cho sự bứt rứt trước lịch sử và cho sự kháng cự lại cái bứt rứt ấy. Nó còn là ẩn dụ về phản kháng – phản kháng lại ách cai trị của Liên Xô với Đông Âu và với lối sống kiểu Mỹ ở Tây Âu. Tại Áo, làn sóng này là liều thuốc chống lại sự bất an về căn tính của dân tộc. Nhưng chủ yếu văn hoá Trung Âu là một văn hoá đã chỉ ra cái trống rỗng của thế giới trong khi cưỡng lại chính cái trống rỗng ấy bằng cách từ chối chấp nhận cái nguyên trạng ấy là định mệnh.

Tôi tin rằng trong những ngày này, người ta không thể thử làm người Trung Âu cho vui. Trung Âu nên là một phần trong văn hoá của chúng ta, trong cảm nhận của chúng ta, trong cách chúng ta nhìn và trải nghiệm thế giới. Vào lúc này Trung Âu đang phải trải qua nhiều thay đổi dữ dội và gấp rút, và nhiều nước đang cố gắng đạt đến mô hình của các nền dân chủ phương Tây. Hẳn nhiên là có rất nhiều thứ Trung Âu có thể học hỏi từ các nền dân chủ phương Tây. Nhưng nó cũng có rất nhiều thứ để trao đi – khía cạnh nhân bản, được phát triển qua những bi kịch của Trung Âu và nhờ kháng cự lại những bi kịch ấy, một tính chất nhân bản đã trở nên hiếm hoi ở phương Tây. Một phần cái tính chất này là sự đề cao khả năng độc lập về tư duy của từng cá nhân, khước từ việc hùa vào với cách vận hành của thế giới. Trước đây ở Łódź, Poldi Beck, một người Do Thái sống sót qua nạn diệt chủng Quốc xã, đã đưa cho tôi một bản thảo, một bài thơ, “Cuốn sách về huýt gió,” mà trong đó bi kịch của lịch sử được thể hiện dưới dạng một bài luận giễu nhại về nghệ thuật huýt gió. Khi được mời bước lên chuyến xe điện lịch sử, người kể chuyện trả lời: “Anh đi đi. Lát nữa tôi mới đi, hoặc là mùa quýt.” Sự tự cự tuyệt đầy mỉa mai này cũng rất Trung Âu.

H. C. Artmann, Esterházy Péter, Danilo Kiš, Konrád György, Eduard Limonov, Claudo Magris, Czesław Miłosz, Paul Eerik Rummo, Mészöly Miklós và Adam Michnik

Ngọc Dao dịch


(Bài viết đăng trên tạp chí Crosscurrents 10: A Yearbook of Central European Culture. Yale University Press. 1991. Tr. 17-30.)

Advertisements

One thought on “Bàn tròn Budapest

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s