Những cuộc chiến tranh của Bảo Ninh

(Bài viết thuộc Zzz Review số 5, 20-4-2019)

Khi chúng tôi bấm chuông cửa nhà tiểu thuyết gia lừng danh Việt Nam, thì bản Für Elise bắt đầu vang lên. Bảo Ninh, tác giả của cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được thế giới ca ngợi, vẫn còn sống ở thành phố tuổi ấu thơ của ông – chính cái thành phố nơi nhân vật chính của ông – anh chàng cựu chiến binh Kiên luôn dày vò dằn vặt, đi lang thang hằng đêm, khi “Hà Nội nhất vẫn là Hà Nội giờ khuya, Hà Nội mưa rơi, Hà Nội như chính lúc này đây khi mà các đường phố trở nên gần như hoang vu ướt át và cô quạnh, lạnh lẽo, da diết buồn”. Ngôi nhà của nhà văn, một kiến trúc đô thị Việt Nam thẳng đứng điển hình, nằm trong con ngõ, rẽ xuống từ đường phố chính, ở ngay phía nam Hồ Tây, nơi mà Kiên và Phương, người bạn gái từ tuổi ấu thơ của anh, đã cùng nhau xuống bơi vào ngày trước khi anh ra chiến trường, và điều đó đã khơi gợi trong Kiên nỗi hoài niệm tuyệt vọng khi anh trở về, 10 năm sau.

Bảo Ninh, vốn là một cựu chiến binh Bắc Việt, vẫn thường được hỏi cuốn tiểu thuyết của ông có phải là một cuốn tự truyện hay không. Câu trả lời là không. Và mặc dù hôm nay ta có thể đi dạo quanh Hà Nội nhìn ngắm phố xá và các hồ nước thường được Kiên nhắc tới, Hà Nội của anh vẫn là một thế giới xa cách. Vào ngày chúng tôi tới thăm Bảo Ninh, mùa hè Hà Nội đang ở đỉnh điểm và Hồ Tây vẫn chói chang ánh nắng. Các gia đình ăn uống trên cỏ và những người giàu lái xe BMW chầm chậm dọc theo con đường hẹp ven hồ. Về phía đông là khu Phố Cổ đông đúc và những biệt thự của chính phủ ở khu trung tâm sầm uất của Hà Nội; về phía tây là những khu chung cư cao tầng mới và những đại lý xe hơi ở vùng ven thành phố ngày càng mở rộng ra.

Bản Für Elise kết thúc và cửa nhà mở ra. Chúng tôi ngồi trên đi văng ở phòng khách, nhấm nháp tách trà và không ai đụng đến đĩa hoa quả bày trên bàn. Trong khi chuyện trò, Bảo Ninh lúc thì ôm chiếc gối, lúc thì bỏ xuống bên cạnh, rồi lại ôm lên. Ông gầy đanh với mớ tóc xoăn rối bù đã bạc trắng. Ông thường kết thúc câu nói bằng cách hơi nghiêng đầu ra phía sau và nhướng đôi lông mày cứ như thể thách bạn dám biểu lộ sự khó chịu hay phản đối những lời của ông, những lời ông đã nói một cách cởi mở và không hề nghĩ tới hậu quả của chúng. Ở tuổi 65, ông mới cảm nhận rõ sự hữu hạn của đời người: đầu năm nay, lần đầu tiên trong cả chục năm, ông mới đi kiểm tra sức khỏe và bác sĩ kết luận rằng ông phải phẫu thuật tiền liệt tuyến. Vào ngày chúng tôi đến gặp, ông đã về nhà dưỡng bệnh.

Bảo Ninh không cho xuất bản một tiểu thuyết nào khác, sau Nỗi buồn chiến tranh, cuốn sách in lần đầu với nhan đề Thân phận của tình yêu năm 1990. Một tập truyện ngắn của ông xuất bản một cách lặng lẽ vào năm 2013 và tiếp sau là tập tản văn xuất bản vào năm 2016. Giờ đây ông đang thực hiện một dự án lớn, nhưng ông không muốn gọi nó là tiểu thuyết (hoặc hoàn toàn không muốn nói về nó). Khi chúng tôi tới, ông nói rằng ông đồng ý trả lời phỏng vấn chỉ bởi vì ông nghĩ chúng tôi chỉ muốn hỏi ông về tác phẩm của các nhà văn khác. Nhưng vì chúng tôi đã ở đây, thôi thì nói gì cũng được.

DSC08726

Khi nào ông phát hiện ra rằng mình cần phẫu thuật?  

Tôi được mời tới thuyết trình tại một festival về văn học tại Hàn Quốc. Một trong số các nhà văn ở đó, tình cờ lại là một bác sĩ, đã nói với tôi rằng, ông nhìn không được khỏe lắm và nên đi xét nghiệm. Nếu thời gian đó tôi ở Việt Nam, tôi chắc đã chẳng bận tâm. Nhưng các dịch vụ y tế ở Hàn Quốc tốt hơn ở Việt Nam nhiều, và tôi muốn biết đại thể tình trạng sức khỏe của tôi ra sao. Những xét nghiệm đã phát hiện ra rằng tôi có một khối u lớn ở tiền liệt tuyến. Theo các bác sĩ, tôi đã thật bất cẩn. Khi tôi nhìn thấy khối u trên màn hình, tôi phải nói rằng nó đã lớn thật rồi.

Ca mổ đã diễn ra như thế nào?  

Cũng chỉ là mổ nội soi thôi mà. Điều duy nhất phải lo lắng là kích thước của khối u.

Bây giờ ông cảm thấy như thế nào?

Đỡ hơn nhiều, nhưng chưa phải một trăm phần trăm. Cho tới lúc khỏe hẳn, các bác sĩ nói với tôi rằng không nên hút thuốc và uống rượu. Tôi vẫn hút, mặc dù có ít hơn trước, nhưng không đụng tới giọt rượu nào. Trong chiến tranh, khi còn trẻ, tôi chẳng sợ gì hết, nhưng bây giờ già rồi, tôi cũng thấy hơi sợ.

Ca mổ có ảnh hưởng đến nếp sinh hoạt và công việc viết lách của ông như thế nào?

Nó có tác dụng cực kỳ tích cực. Tôi có thêm nhiều ý tưởng cho công việc viết lách của mình. Nhìn tôi thì khó có thể nói, nhưng tôi vốn quen với lối sống tĩnh tại. Tôi nghĩ chẳng việc gì phải vội, thế nên tôi trở thành lười nhác. Nhưng tôi đã trở nên chăm chỉ hơn từ sau khi phẫu thuật. Chí ít thì tôi đã có mục tiêu trong đầu, mặc dù tôi không biết mình có đạt được hay không.

Tôi không gặp rắc rối gì khi chuyển sang cách sống mạnh khỏe hơn. Bác sĩ của tôi rất thông cảm; ông nói tôi có thể uống chút ít nếu thấy thèm, vì ông lo rằng tôi có thể bị sốc hoặc sao đó nếu tôi đột ngột dừng uống. Bỏ rượu là tốt cho cơ thể tôi, mà có lẽ nó cũng tốt cho cả tinh thần nữa. Tôi thường không uống một mình, nhưng đôi lúc, khi có bạn bên cạnh, tôi có thể trở thành gã sâu rượu.

Ông cảm thấy cấp bách như vậy có phải bởi vì ông biết rằng thời gian còn lại của ông không nhiều nữa?

Đúng thế. Tôi giờ đã già rồi, vì vậy tôi không thể trì hoãn được nữa. Tôi sợ. Bệnh tật sẽ ảnh hưởng đến tôi trước tiên, sau đó là đến gia đình tôi.

Ông đang viết gì trong thời gian này?

Chỉ là một truyện ngắn.

Không phải là tiểu thuyết sao?

Tôi cũng có một số ý tưởng, nhưng viết dài đòi hỏi rất nhiều công sức. Việt Nam có câu thành ngữ: nói trước bước không qua. Vậy tôi sẽ không nói về nó. Tôi có một tập truyện ngắn, xuất bản năm 2013, bao gồm những truyện tôi viết đã lâu cùng với một số truyện mới. Hiện tôi vẫn viết hằng ngày. Đó là một sở thích, nhưng công bố thì không hẳn.

Thế đề tài của ông là gì?

Chiến tranh. Nhưng cũng không hẳn thế. Tôi viết về thời chiến tranh – đó là thời của tôi – nhưng không chỉ chuyên về chiến tranh. Có thể lý giải như thế này: nếu anh viết về thời của anh và ai đó nói anh đang viết về thời bình, tôi sẽ nói rằng không đúng; đó chỉ là thời anh đang sống mà thôi. Ai cũng có thời của mình cả.

anh tac gia Bao Ninh
Bảo Ninh năm 1992, ảnh của Catherine Karnow.

Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm tốt nghiệp của Bảo Ninh ở Trường viết văn Nguyễn Du, ngôi trường được thành lập sau chiến tranh nhằm đào tạo những người viết văn để phục vụ nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những nhà văn nhiều tuổi hơn gom tiền để photocopy tác phẩm này. Ban đầu tác phẩm được lưu hành ở thủ đô, mà chủ yếu là bí mật. Năm 1994, bản dịch tiếng Anh của Phan Thanh Hao và Frank Palmos đã được công bố và được quốc tế khen ngợi, đồng thời nó cũng được các nhà phê bình hoan nghênh, coi đó là một cửa sổ nhìn vào một xã hội mà họ được chứng kiến chỉ qua các bức ảnh đen trắng.

Câu chuyện của Kiên được kể một cách đứt đoạn, dịch chuyển đột ngột từ những cảnh bạo liệt tàn khốc của chiến tranh và hài hước u tối, sang những cảnh ảm đạm của Hà Nội thời hậu chiến, rồi lại chuyển sang những ký ức thời ấu thơ với Phương, khi ông chuẩn bị bản thảo trong những cơn độc tưởng ngây ngất hơi men. Không hề có niềm hân hoan chiến thắng, và rất ít chính trị hay ý thức hệ, và điều này giải thích tại sao cuốn sách lại gây chấn động đến thế khi nó được xuất bản và tại sao nó lại trái ngược với lối kể chuyện chính thống về cuộc chiến tranh vẻ vang của Đảng cộng sản.

Năm 1986, khi chính phủ khởi xướng “Đổi mới”, một loạt những cải cách kinh tế và chính trị, chiến tranh qua đã lâu nhưng giọng điệu và phương pháp tuyên truyền thời chiến vẫn cứ tồn tại một cách dai dẳng; nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến, người sáng lập và là hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du, lý giải rằng các nhà văn Việt Nam mô tả “hiện thực phải đạo”. Nhưng nhà văn Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh ngay khi Đổi mới đã làm thay đổi tất cả các phương diện của đời sống ở Việt Nam, kể cả văn học. Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài và Bảo Ninh đã đập tan những cấm kỵ và gây ra những tranh luận gay gắt do những mô tả đen tối của họ về nghèo đói, bất đồng xã hội và tham nhũng.

Khi Đổi mới đã làm biến đổi nền kinh tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam, thì những cơ hội cho văn học cũng thu hẹp lại. Dương Thu Hương phải đi lưu vong. Nỗi buồn chiến tranh bị cấm trong thời gian ngắn, Nguyễn Huy Thiệp không xuất bản từ giữa những năm 2000. Ngày hôm nay các nhà văn vẫn bị theo dõi và kiểm duyệt gắt gao. Bảo Ninh vẫn bước đi cẩn trọng trong môi trường đó. Ông đã được ca ngợi công khai và những bản photocopy bản dịch tiếng Anh The Sorror of War vẫn được bày bán tại tất cả những quán sách trong các khu du lịch của Hà Nội, nơi chúng được bày trên giá cạnh cuốn sách hướng dẫn du lịch Lonely Planet MyanmarHồ Chí Minh tuyển tập.

Mặc dù Bảo Ninh nói rất cởi mở về những vấn đề của nước Việt Nam đương đại – tham nhũng, sự biểu lộ chính kiến bị bóp nghẹt, một nhà nước như Orwell miêu tả – nhưng ông nói rằng ông không làm chính trị. Nỗi buồn chiến tranh là một đột phá khi nó được xuất bản, bởi vì nó mâu thuẫn với lối kể chuyện mang nặng tính tuyên truyền về chiến tranh. Nhưng Bảo Ninh coi văn học chống chính phủ gay gắt cũng tội lỗi chẳng kém gì nghệ thuật tồi vậy. “Các nhà văn không phải là nhà báo, họ cũng không phải là nhà chính trị,” ông nói. “Các nhà văn chỉ vẽ chân dung cuộc sống, và cái chuyện chính phủ xấu hay tốt không phải là việc của họ. Cuộc sống có các quy luật riêng của nó. Và một chính phủ tốt có thể sống bình yên với nhân dân của nó, nhưng một chính phủ tồi…”

DSC08727

Khi đã nổi tiếng thế giới với tư cách là một tác giả người Việt xuất sắc nhất hiện đang còn sống và là người đại diện của văn học Việt Nam, ông cảm thấy như thế nào?

Tôi không nghĩ rằng mình vĩ đại đến như thế; tôi chắc chắn mình không phải đại diện của cái gì hết. Đó chẳng qua chỉ là do sách của tôi được dịch ra tiếng Anh, và sau đó ra tiếng Hàn, mà nhờ đó tôi được mời đến Hàn Quốc thuyết trình mà thôi. Trong đầu tôi không bao giờ nảy ra ý nghĩ rằng mình là đại diện cho Việt Nam. Khi đi ra nước ngoài, tôi có cơ hội trò chuyện với các nhà văn nhiều nước khác. Nhưng có trở ngại là tôi chỉ nói được tiếng Việt.

Các phương tiện truyền thông ở nước ngoài thường nói rằng tôi là nhà văn Việt Nam xuất sắc nhất hiện còn đang sống. Tôi nghĩ rằng điều đó không đúng, bởi vì trong văn học không có nhà văn xuất sắc nhất hay kém cỏi nhất. Những nhà văn kém cỏi thì có ở khắp nơi, tất nhiên, nhưng họ không thực sự là nhà văn theo đúng nghĩa của nó. Nhưng nếu anh là nhà văn thực sự, thì không có thứ hạng. Tôi cũng không nghĩ các nước có nền văn học quốc gia riêng. Người ta thường nói về văn học Việt Nam, văn học Thái, hay văn học Mỹ, tôi không nghĩ có sự phân biệt rạch ròi như thế. Chẳng hạn, Nguyễn Ngọc Tư hay Nguyễn Bình Phương rất khác, biệt lập với tôi, chẳng có gì chung hết. Ý tưởng về một nền văn học quốc gia là thứ gì đó do giới truyền thông bày đặt ra mà thôi.

Tôi nghĩ tôi nổi tiếng ở nước ngoài vì tác phẩm của tôi đã được dịch ra tiếng Anh, không giống như phần lớn các tác phẩm của Việt Nam… Nếu các tác phẩm của Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng được dịch ra tiếng Anh thì độc giả ở các nước nói thứ tiếng đó chắc cũng sẽ rất thích.

Ông thích Nỗi buồn chiến tranh được bạn đọc nước ngoài cảm nhận như thế nào?

Tôi viết cuốn sách này là cho bạn đọc Việt Nam. Tôi không thích nó được dịch ra tiếng Anh. Khi những người nước ngoài tới thăm tôi, tôi thường hỏi họ nghĩ gì về cuốn sách này – không phải về nội dung mà là ngôn ngữ. Thi thoảng tôi có đọc văn học thế giới qua bản dịch tiếng Việt, nhưng phiên bản tiếng Việt dở tới mức tôi phải vứt cuốn sách đi bất kể tác giả của nó là nhà văn lớn tới cỡ nào. Chẳng hạn, có khá nhiều bản dịch tồi các tác phẩm của Hemingway. Và mặc dù tôi cũng biết Hemingway vĩ đại cỡ nào, nhưng tôi cũng vứt hết những bản dịch mà tôi có. Một bản dịch khác mà tôi kiếm được gồm một số truyện ngắn của Tolstoy, nhưng cũng không đọc được. Và đó cũng là nỗi sợ của tôi, rằng bản dịch tiếng Anh tác phẩm của tôi không đạt. Nhưng tôi cũng chẳng có kỳ vọng gì, thôi thì số độc giả càng lớn càng tốt.

Tôi tin vào khả năng sử dụng tiếng Việt của mình, vì đó là lãnh địa của tôi. Nhưng tôi cảm thấy thiếu tự tin hơn khi tác phẩm của tôi chu du ra ngoài ngôn ngữ gốc của nó. Còn về nội dung thì tôi nghĩ mỗi người có quan điểm riêng của mình về Chiến tranh Việt Nam, nhưng chắc sẽ không ai cho rằng cuộc chiến tranh đó đúng như tôi đã mô tả. Văn học không phải là lịch sử hay chính trị; văn học là văn học. Sẽ là rất sai lầm nếu đọc sách của tôi với ý định để hiểu cuộc chiến tranh này.

Thế những ai là bạn đọc lý tưởng của Nỗi buồn chiến tranh?

Tôi chưa bao giờ nghĩ xa đến mức ấy. Các nhà văn chỉ biết viết thôi. Tôi viết cho những người lính, về cuộc Chiến tranh Việt Nam, từ quan điểm của một Việt Cộng, tức những người lính Bắc Việt. Vào thời kỳ đó, những người lính được đọc những thứ rất nực cười. Tôi muốn viết cái gì đó cho những người lính Bắc Việt, một cái gì đó thật gan ruột đối với họ. Tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1986 là rất công thức, giáo điều và giả dối. Nó không có giá trị gì.

Vào giai đoạn cuối cuộc chiến, khi mà giao thông đã bắt đầu được cải thiện, từ miền Bắc, chính phủ đã chuyển vào cho những người lính chúng tôi không chỉ gạo và súng đạn mà còn có cả sách nữa, rất nhiều sách. Hồi đó tôi là bí thư đoàn của đơn vị nên cũng được chỉ định làm thủ thư luôn. Tôi nhận thấy rằng những người lính không muốn đọc những thứ vớ vẩn đó. Họ quẳng những cuốn sách đó đi, mặc dù thậm chí những cuốn sách đó nói về họ. Không ai muốn đọc những loại tiểu thuyết như thế. Làm sao bạn có thể chịu nổi cuốn sách ca tụng bạn đến mức ngớ ngẩn? Những cuốn sách mà họ muốn đọc là văn học dịch, đặc biệt là những truyện ngắn trong tập Bút ký người đi săn của nhà văn Nga Turgenev. Họ đã nghiền ngẫm cuốn sách cho tới khi nó nhàu nát, mặc dù nó chẳng ca ngợi ai và chẳng nói gì về chiến tranh hay các trận đánh hết. Không ai nhớ tới các quyển sách khác, mặc dù thậm chí tôi không có thẩm quyền để loại bỏ chúng. Tôi nhớ rằng những cuốn sách đó rất dày, được viết ở Hà Nội, một nơi rất xa chiến trường, và ngay từ trang đầu tiên đã không thể đọc được. Thậm chí một số trong đó còn nói những chuyện hoàn toàn dối trá. Chúng không phải là tiểu thuyết mà là tuyên truyền được tiểu thuyết hóa. Đọc chúng thì thà đọc các nghị quyết chính trị còn hơn. Ở một mức độ nào đó, tôi tin những cuốn sách ấy đã hạ thấp cuộc chiến tranh này, bằng cách tầm thường hóa nó và các tác động của nó đến nhân dân Việt Nam, mô tả họ như những kẻ cứng nhắc hay những con robot. Nhưng làm sao những con robot có thể chiến đấu được với lính Mỹ?

Phương pháp viết của ông có tương tự phương pháp của Kiên, cũng chính là người kể chuyện trong Nỗi buồn chiến tranh trong đó cuốn sách là sự chồng chất những mảnh vỡ?

Chỉ đúng một phần. Nhưng đó là sự nói quá lên, mà nói quá là một phần rất căn bản của văn học, miễn sao đừng quá trớn. Nhưng tôi không nghĩ rằng có một nhà văn nào có thể viết như thế, tức trộn các sự kiện lại với nhau. Nhưng tôi đã viết quyển sách này theo cách đó và hình như bạn đọc cũng thích phong cách phân mảnh và cách sử dụng ngôn ngữ của tôi. Nhưng Kiên và tôi không có gì chung hết, trừ điều là chúng tôi đều là lính. Rất nhiều người hỏi có phải tôi chính là Kiên không; tôi nói là không, hoàn toàn không. Họ thậm chí còn đi xa hơn nói tôi viết câu chuyện về đời tôi. Nhưng tôi chỉ là một người lính bình thường và đời tôi chẳng có gì đặc biệt cả. Tôi giống như mọi người khác ở thời đó. Nếu như bây giờ có chiến tranh thì tôi nghĩ anh cũng sẽ đi chiến đấu như tôi thôi.

Thành công của cuốn sách có làm thay đổi cách viết của ông không?

Có lẽ cách viết của tôi đã thay đổi nhưng không phải vì cuốn sách này. Đó chỉ là do tôi đã già và những suy nghĩ của tôi đã thay đổi theo tuổi tác.

Ông có nghĩ rằng những hy sinh của ông trong chiến tranh là đáng không?

Mỗi thế hệ có mối quan tâm riêng của mình. Sẽ là không khôn ngoan nếu nghĩ quá xa về tương lai. Khi còn trẻ, chưa quá 30, trước mắt tôi là bọn Mỹ xâm lược, vì vậy điều duy nhất tôi có thể làm là chiến đấu với bọn chúng. Làm sao người ta có thể nhìn xa tới cả thế kỷ sau, vốn nằm trong tay của thế hệ tiếp theo được?

Ngày hôm nay anh có thể thấy rằng người dân Việt Nam hân hoan về chuyến tới thăm của cựu tổng thống Mỹ Obama. Và hàng hóa của người Mỹ tràn ngập khắp nơi ở đây. Một số người thậm chí còn nghi ngờ ý nghĩa của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhưng bạn không thể nói thế được. Những người khác đi xa tới mức nghi ngờ cuộc kháng chiến chống Pháp. Một số người còn nói rằng nếu chúng ta không chiến đấu chống lại thực dân Pháp, thì Việt Nam bây giờ sẽ văn minh hơn và giàu có hơn nhiều. Đã quá nhiều người Việt bị giết trong hai cuộc chiến tranh này, nhưng Việt Nam lại không được giàu có như Singapore hay thậm chí Thái Lan. Nhưng anh không thể nói như vậy được. Ngày hôm nay là thời của anh; những sự kiện hiện thời không thể làm cho anh ân hận về quá khứ được.

Ông nghĩ câu chuyện chủ đạo của ngày hôm nay là gì?

Các nhà văn viết về lương tâm của thời đại mình. Tôi thuộc một thời khác, nên tôi không thể nói cho những nhà văn thời nay được. Tuy nhiên, các nhà văn ngày hôm này có điểm nhìn để từ đó xem xét lại quá khứ và họ có quyền đặt những câu hỏi như tại sao chúng ta lại đánh Mỹ, chẳng hạn, và đã đạt được cái gì. Nhưng nếu là tôi, tôi sẽ thách thức những câu hỏi như vậy; ở thời tôi, đánh Mỹ là một niềm tự hào. Một nhà văn trẻ hôm nay đặt những câu hỏi mà nhiều độc giả giỏi sẽ có câu trả lời. Nhiều năm trước, nếu anh hỏi những câu như thế thì sớm muộn cũng sẽ vào tù.

Quang cảnh văn hóa và văn học ở Việt Nam đang trở nên tốt đẹp hơn và nó sẽ tiếp tục phát triển. Người dân giờ đây có thể suy nghĩ tự do hơn và đặt ra nhiều câu hỏi có tính phê phán. Chẳng hạn như “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì? Khi tôi còn học phổ thông, không thể có những chuyện như vậy. Tại sao trần đời này một nước cộng sản lại có một khái niệm như thế? Tôi không phải đảng viên cộng sản, nhưng tôi không nghĩ chủ nghĩa cộng sản và nền kinh tế thị trường lại có thể đi đôi với nhau. Một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế tập thể và kế hoạch hóa tập trung. Phải vậy không? Còn trái lại, thị trường thì thuộc chủ nghĩa tư bản. Vậy thì cái “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có nghĩa là gì? Một nhà văn có thể đặt câu hỏi như vậy.

Sự kiểm duyệt của nhà nước ảnh hưởng như thế nào đến các nhà văn?

Kiểm duyệt là một khái niệm nực cười của Ban tuyên giáo. Tôi không nghĩ các quan chức cấp cao nhất biết về điều đó. Thật nực cười, chẳng hạn, mới đây người ta cấm cuốn Mối chúa của Tạ Duy Anh vừa mới xuất bản. Bất cứ khi nào tôi ra nước ngoài, tôi nói với những người khác rằng tình hình ở Việt Nam hiện nay tốt hơn nhiều, tự do hơn nhiều so với trước năm 1986. Tôi không nói xạo, đó là sự thật. Việc xuất bản trọn vẹn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đánh dấu một sự cải thiện căn bản về quyền tự do biểu đạt ở Việt Nam. Cuốn sách này được tái bản thậm chí mặc dù nó đã bị phê phán, tuy chỉ trong giới văn nghệ. Nghĩa là mọi chuyện đã thay đổi. Giờ đây đã có nhiều tự do hơn để viết.

Nhưng một số người nước ngoài không đồng ý với tôi và nói rằng tôi nịnh chính phủ. “Thế còn Mối chúa thì sao?”, họ hỏi. Họ biết nó đã bị cấm.

Kiểm duyệt là một quyền lực cổ lỗ, bảo thủ và ti tiện, nhưng nó không còn mạnh như xưa nữa. Tất nhiên, những người trong Bộ Văn hóa có thể cấm một quyển sách nhưng điều đó ít có ý nghĩa. Các nhà văn vẫn viết, và sự rủi ro do kiểm duyệt không hề thay đổi cách làm việc của họ. Trong phong trào Nhân văn Giai phẩm, ở những năm 1950, thời đó rất sôi sục. Kiểm duyệt ngày hôm nay vẫn còn và nó cũng có một số tác động nhất định – một số nhà văn đã bị cấm xuất bản – nhưng nói chung đó là một trò đùa. Về cốt lõi, ngày hôm nay nó đã hoàn toàn khác với thời xưa.

Ông chờ đợi gì về sự tiếp nhận tác phẩm sắp tới của mình?

Vì thời của tôi là thời chiến tranh, nên điều không tránh khỏi đối với tôi là viết về chiến tranh. Nhưng đối với Việt Nam, không chỉ có chiến tranh, mà còn hơn thế nữa. Đất nước này đã chuyển từ cộng sản sang bán cộng sản, và rồi sẽ thành cộng sản giả hiệu. Bây giờ nó thậm chí không còn là một nước cộng sản nữa: chủ nghĩa thịnh hành bây giờ là tư bản đỏ. Vậy tại sao tôi lại không chống lại nó? Nhân dân ở Việt Nam có cuộc sống riêng của mình, và sống ở đây cũng có những ưu thế của nó. Bối cảnh chính trị mỗi thời mỗi khác. Việt Nam một thời đã chiến đấu quyết liệt chống lại người Mỹ nhưng rồi bây giờ lại hoan nghênh họ. Nói thực lòng, đa số người Việt Nam thích Mỹ hơn Trung cộng. Tôi cũng thế. Tôi viết, nhưng xuất bản lại là chuyện khác. Và bởi vì tôi sống ở một nước “cộng sản”, nên tôi không thể nói tất cả những thứ mà tôi muốn được. Còn nghĩ là quyền của tôi, tất nhiên, nhưng ở Việt Nam đôi khi tôi không thể nói những điều mình nghĩ được. Tôi vẫn sẽ tiếp tục suy nghĩ, và tôi vẫn sẽ tiếp tục biểu đạt những quan điểm của mình, nhưng một số thứ tôi viết tôi sẽ giữ kín trong ngăn kéo của tôi.

John Fuller

Phạm Văn Thiều dịch

DSC08716  

(Bài phỏng vấn đã được đăng trên Mekong Review số 12 tháng 8 năm 2018 dưới tiêu đề “Bao Ninh’s Wars”.

Xin cảm ơn Mekong Review và nhà văn Bảo Ninh đã cho phép chúng tôi đăng bản dịch này trên Zzz Review.)

One thought on “Những cuộc chiến tranh của Bảo Ninh

  1. Bài này trong file epub có một đoạn bị lặp lại, là đoạn nói về cuốn sách được photocopy truyền tay nhau.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s