Lâm Thanh Huyền, “Mười hai tấm thiếp hữu tình”

(Bài viết thuộc Zzz Review số 5, 20-4-2019)

Lâm Thanh Huyền (1953-2019) là nhà văn, nhà tản văn, nhà thơ, học giả người Đài Loan. Ông được xem là người viết khỏe nhất và đạt được nhiều giải thưởng văn học nhất trong số các nhà văn Đài Loan, cũng được tôn là một trong “Tám nhà văn lớn của tản văn Trung Quốc đương đại”[1]. Tác phẩm tiêu biểu: Bồ đề thập thư (Mười cuốn sách bồ đề), được giới truyền thông bình chọn là “Bộ sách bán chạy nhất và có sức ảnh hưởng nhất trong vòng bốn mươi năm gần đây”.

Đặc điểm lớn nhất của tản văn Lâm Thanh Huyền là sự dung hợp lĩnh hội tôn giáo của bản thân tác giả với văn học, ông dùng ngôn từ đẹp đẽ kết hợp với kinh nghiệm sống phong phú của mình để bàn về tinh thần Phật giáo.

Lâm Thanh Huyền mất ngày 23/01/2019. Status ông đăng trên Weibo một ngày trước khi mất được nhiều người chia sẻ: “Khi băng qua rừng, tôi cảm thấy cái chết của chim sẻ cho tôi vài điều gợi mở, tuy chúng ta sống giữa lưới trần, nhưng mãi mãi đừng đánh mất cái tâm muốn bay, đừng quên tư thế bay lượn.”

– Nguyễn Vinh Chi

lam thanh huyen
Ảnh từ fanpage của Lâm Thanh Huyền

 

KIẾP TRƯỚC

Kiếp trước, hẳn chúng ta cũng giã biệt bên dòng suối thế này!

Nếu không, vì sao tôi đi suốt từ con đường núi đến đây, nhìn thấy dòng suối này, cõi lòng đang rất mực bình yên lại dâng trào như sóng nước? Không khí xung quanh mát lạnh, khiến tôi cảm nhận được cái lạnh giá đáng sợ không rõ từ đâu chảy tới.

Lấy suối làm gương, tôi cố gắng muốn biết, dòng suối này có nhân duyên gì với tôi? Hoặc là, tôi làm sao đứng ở bờ này của suối, nhìn bóng dáng bạn xa dần? Hoặc là, ở chung một bờ, bạn xuôi xuống cuối nguồn, còn tôi lại ngược lên đầu nguồn?

Tôi chẳng soi ra gì cả, vì suối quá xao động.

Lúc này đã là mùa xuân rồi mà! Cỏ đang độ xanh, hoa đang đua nở, nắng đang rót ấm, vì sao nước suối lại có cảm giác lành lạnh mà trống vắng?

Chắc là có mối liên quan không thể biết với kiếp trước xa xưa.

Vào ngày xuân, đứng bên suối, càng cảm nhận thêm rõ rệt sinh mệnh là một dòng suối, chẳng tỏ từ đâu chảy lại, chẳng tường chảy đến nơi nào.

Tôi lúc này, dường như là, một chiếc lá vừa rơi xuống giữa dòng suối chảy xiết.

TRÔI ĐI

Tiệm đồ cổ tại ngã tư, góc gần cửa sổ, tôi ngồi xuống ghế bành lập tức đứng vội dậy, vì chiếc ghế kia còn lưu hơi ấm người khác từng ngồi.

Từ bé tôi đã không quen với những chiếc ghế còn nóng mà người khác vừa ngồi, thà đứng đợi ghế lạnh đi rồi mới ngồi xuống. Nhất là chiếc ghế trong tiệm đồ cổ, nghe nói truyền lại từ thời Thanh, hoa văn chạm trổ đẹp đẽ cho tôi biết đây không phải chiếc ghế nhà dân thường, ắt hẳn chủ nhân đầu tiên của nó từng là người giàu có!

Giờ đây, người giàu có ấy và của cải của ông ta tất nhiên đã tan tác, thân thể ông ta chắc chắn cũng đã tiêu tan trong thời gian và không gian, để lại bộ ghế này, không có khóc cười, lặng lẽ trong ánh nắng chiều, gần như đang ngủ.

Tôi đi một vòng trong tiệm đồ cổ, như thể cùng trôi đi với thời gian và không gian, ngựa gốm ba màu thời Đường, lò hương bằng đồng thời Minh, đồ sứ thời Thanh, bát đĩa thời đầu Dân Quốc, có nhiều món vẫn đẹp lành như mới. Có một bức thêu Bát Tiên, mới đến mức tưởng như vừa có người phụ nữ vẻ mặt hiền hậu thêu lên từng mũi kim một, đường kim còn trên mặt gấm, mà người đã xa rồi, tựa không khí, tựa tiếng chuông đồng khe khẽ.

Trong tiệm đồ cổ, ta có thể cảm nhận được rõ ràng sự vô tình của thời gian và sự ngắn ngủi của cuộc đời, bước ra khỏi đó tôi cảm thấy, cho dù đang là đầu xuân, cũng nên trân quý thời gian đang trôi đi.

MƯA TRONG NÚI

Tôi thấy em cười, không nghe tiếng, từ dưới núi đi lên giữa mưa bụi lất phất, chiếc ô hoa em cầm nở từng đóa từng đóa ở mỗi bậc thềm đá, đỗ quyên ven đường tháng Ba đỏ thắm như ô của em. Giữa lâm thâm mưa xuân, nỗi đau buồn của tôi riết lấy nhau như cỏ dại trong mưa, cơn mưa đau buồn rơi ngay trong mắt tôi.

Em sắp tới đỉnh núi, lại ẩn mình sau khúc ngoặt trên con dốc, ẩn đi như phong cảnh trong núi, tĩnh mặc. Mưa, cũng không nghe tiếng.

Trong ngôi đình hóng mát trên đỉnh núi, có người đang chơi cờ. Vì ngang tài ngang sức, nên cả hai yên lặng ngồi đối diện nhau, thỉnh thoảng đưa tới một tiếng “Chiếu tướng”, cũng vòng tới vòng lui giữa núi rừng rồi mới tan biến.

Tôi ngắm mưa giăng đầy trời, cảm thấy cơn mưa này mãi mãi không bao giờ tạnh.

Em quả thật không lên tới đỉnh núi, vòng qua con dốc lại xuống núi rồi, tôi nhìn bóng lưng em đi xuống núi, rẽ ở khúc ngoặt liền tan biến mất, tan biến thành ngọn núi trong mưa, ngọn núi trống vắng.

Mưa trong núi không tạnh, cơn mưa đau buồn trong lòng tôi cũng y hệt mưa trong núi.

Cơn mưa này mãi mãi không tạnh đâu! Ngắm mưa giăng đầy trời, tôi nghĩ vậy.

Chợt nghe trong đình hóng mát đưa tới một tiếng lanh lảnh: Chiếu tướng!

THÁNG TƯ

Tôi thích nhất ánh nắng tháng Tư, ánh nắng tháng Tư vừa phải, trong suốt ấm nhuần như bằng ngọc lưu ly.

Ánh nắng tháng Tư khiến mỗi đóa hoa đều do pha lê tạc nên, hát bài ca của hy vọng trong gió, tiếng hát năm màu như cầu vồng.

Ánh nắng tháng Tư khiến mỗi ngọn cỏ đều do ngọc bích sinh ra, viết vần thơ của ngày mai trên đất, câu thơ xanh thẳm tựa biển cả.

Trong ánh nắng tháng Tư, ta trút bỏ lớp áo xám xịt của mùa đông rét mướt, chạm khẽ vào cái nóng ấm từ chân trời xa xăm truyền đến, làm tôi nhớ đến thời thơ ấu, mình trần chạy băng băng qua cánh đồng tháng Tư, ánh nắng như thể vòng tay ấm áp của mẹ, sau đó bọn tôi nhảy xuống dòng suối còn lưu hơi lạnh mùa đông năm ngoái mà bơi. Cuối cùng, bọn tôi khắp người mang những giọt nước lưu ly nằm trên tảng đá lớn, nước tan vào không trung từng chút một, bọn tôi thiếp ngủ ngay bên suối.

Trong ánh nắng tháng Tư, đồng cỏ, rừng cây, dòng suối, tảng đá đều là tịnh thổ, ít ra đối với trẻ con vô lo vô nghĩ. Do đó, bất kể tôn giáo nào, đều nói chúng ta nên giữ tấm lòng thuần khiết như trẻ sơ sinh, mới có thể tiến vào miền đất thanh tịnh.

Tháng Tư vẫn là tháng Tư, ánh nắng ấm áp vẫn thế, tiếc rằng chúng ta đều chẳng còn là trẻ thơ.

SƯ TỬ ĐÁ

Khi chúng ta đi qua cánh đồng sự sống, phải giống như chúa sư tử, bước bước mạnh mẽ, mỗi bước để lại một dấu chân.

Lúc chúng ta vượt qua dòng sông sự sống, phải giống như voi sáu ngà, trụ cột vững vàng, cắt sông mà chảy, nắm giữ dòng chảy và phương hướng của cuộc đời mình.

Chúng ta đi trên con đường rừng sự sống, phải giống như vua hươu xám, uy nghiêm mà dịu dàng, hùng tráng mà thương xót, khiến bầy hươu đi theo chúng ta đều được bình an no ấm.

Đây đều là ngụ ngôn trong kinh Phật, là muốn chúng ta mong đợi bản thân uy mãnh như sư tử, vững chãi như voi, ôn hòa trang nghiêm như vua hươu vậy. Khi chúng ta nhớ đến mấy loài động vật này, thật sự giống như mình đang đứng trên đỉnh núi cao, nhìn xuống rừng cây rậm rạp và đồng cỏ mênh mông, cũng có khí chất như vậy.

Sư tử là vật cưỡi của Văn Thù Bồ tát, voi trắng là vật cưỡi của Phổ Hiền Bồ tát, đều là hộ pháp rất uy nghi, nhất là sư tử càng hay gặp, cả chùa chiền bình thường chốn dân gian đều nhờ đến sư tử hộ pháp.

Hôm nay đi ngang qua một ngôi chùa, nhìn thấy sư tử đá trước cổng có biểu cảm khác lạ, gần như là đang mỉm cười, sau đó tôi nhớ lại sư tử ở trước từng ngôi chùa, tuy tạc đá mà thành, nhưng biểu cảm mỗi con đều có khác biệt nho nhỏ.

Cho dù là sư tử đá, cũng có trái tim, đặc biệt là trong gió nhẹ sớm mai của tháng Năm ấm áp.

NIỀM VUI

Một hôm Hoàng Sơn Cốc[2] đến thăm Thiền sư Hối Đường, hỏi: “Chỗ uyên áo của Thiền tông rốt cuộc là gì?”

Thiền sư Hối Đường đáp: “Luận ngữ có câu ‘Các trò ngờ rằng ta có điều gì giấu các trò chăng? Ta chẳng có điều gì giấu cả.’ Thiền cũng chẳng có điều gì giấu các ông, ông hiểu ý này không?”

Hoàng Sơn Cốc nói: “Tôi không hiểu.”

Sau đó, hai người đều im lặng, bên nhau đi dạo trên đường núi, bấy giờ, hoa quế đang nở, thơm lừng khắp núi.

Hối Đường hỏi: “Ông ngửi thấy mùi thơm rồi chứ?”

“Vâng, tôi ngửi thấy rồi!” Hoàng Sơn Cốc đáp.

“Tôi giống như hương hoa quế này vậy, không giấu ông đâu!” Thiền sư nói.

Hoàng Sơn Cốc nghe xong, như thể đột nhiên mở tâm nhãn, bỗng chốc khai ngộ.

Đúng thế, thế giới này chưa bao giờ giấu giếm chúng ta, tai ta nghe thấy tiếng sông chảy, mắt ta nhìn thấy đóa hoa nở, mũi ta ngửi thấy hương hoa, lưỡi ta có thể nếm trà, da ta có thể cảm nhận ánh nắng… Trong mỗi một tấc thời gian đều có niềm vui, ở mỗi một nơi đều có thiền lạc.

Tôi từng sống ba năm tại một thành phố nở đầy hoa phượng, năm nay nhìn thấy một cây phượng nở hoa, giống như đang hát vậy, khiến mắt tai mũi lưỡi thân thể tâm ý tôi đều tràn đầy niềm vui thời niên thiếu.

SÂN NHÀ

Mùa thu ở nông thôn đến muộn, nhưng khi đã đến thật đều rất dễ chịu.

Điều cảm thấy đầu tiên là cuối cùng đã có ráng chiều rồi, khi gió nhẹ bên sông thổi qua, chúng tôi đeo cặp sách nặng trĩu về nhà, đứng ở khoảng sân trước nhà nhìn về phía núi xa, đúng lúc mặt trời nhuộm đỏ nửa bầu trời; mây kia đỏ như lá phong, dường như từng vầng từng vầng sắp rụng xuống. Thế là, tôi thường đứng ngẩn ngơ trong sân, mãi đến lúc chân trời vẩy mực mới giật mình tỉnh lại.

Tiếp đó, bồng bềnh phơ phất, mang theo ngọn đèn lạnh mùa thu chỉ chiếu rọi con đường của chính mình, đom đóm không biết từ bờ bên kia sông hay sâu trong rừng cây bay tới, nhiều quá mức tưởng tượng, muôn nghìn ngọn lướt qua khoảng sân, xuyên qua con ngõ, la đà trên chóp bụi cỏ. Có người nói đom đóm thắp đèn để tìm tình duyên kiếp trước, cho nên ngọn đèn mới lạnh lẽo lập lòe như thế, xao xuyến lòng người.

Cuối cùng, người lớn phe phẩy quạt, ngồi trên ghế tre hắng giọng: “Ngày xửa ngày xưa…”, kể câu chuyện trung hiếu tiết nghĩa truyền lại suốt từ đời đời ông cha, nghe những chuyện này, tôi cảm thấy mùa thu thật là dịu dàng, trong sự dịu dàng đó dòng máu tình nghĩa đang chảy. Khoảng sân nơi chúng tôi nghe kể chuyện ấy, nghe nói còn là do ông cố dùng đá tự tay lát nên.

Mây đỏ như lá phong mùa thu, đom đóm thê lương, khoảng sân lát nên bằng truyện cổ vẫn đang lấp lánh, đáng tiếc hiện tại không phải mùa thu, cũng không tìm thấy khoảng sân ấy nữa rồi.

HỮU TÌNH

“Ba ơi, vì sao mà hoa lại nở vậy ba?” Một hôm, con đột nhiên hỏi tôi.

Sững lại trước câu hỏi đột ngột, tôi đáp: “Hẳn là vì mùa xuân.”

Con chẳng thấy câu trả lời ấy thỏa mãn chút nào: “Nhưng có hoa nở vào mùa hè, có hoa nở vào mùa đông đó ba!”

Tôi hỏi: “Thế thì, con nghĩ hoa làm sao mà nở nhỉ?”

“Tự hoa muốn nở, thì nở đó mà!” Con cười ngây thơ: “Vì nụ hoa quá lớn, căng rách ra đó!”

Nói xong con liền chạy đi. Phải rồi! Đối với một đóa hoa và đối với vũ trụ cũng vậy, chúng ta đều đầy ắp những câu hỏi, vì chúng ta không biết sức mạnh và trật tự của nó chính xác đến từ nơi nào.

Hoa nở, là sức mạnh của chính nó tự nhiên bộc lộ trong nhân duyên, nó tích trữ sức mạnh của mình, khiến mình đủ đầy, sau đó phá bung ra, giống như ánh nắng xuyên toạc mây đen lúc ban mai.

Hoa nở là một lẽ hữu tình, là một dạng đạt đến hoàn thành của sinh mệnh bên trong, điều này ấm áp biết bao! Khiến tôi nghĩ đến, chúng ta cũng nên tích lũy, đủ đầy, bung nở, mãi mãi theo đuổi nhằm đạt đến chính mình.

HƯƠNG TRONG LÒ

Một hôm, một bà cụ hỏi Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm: “Làm sao đến cõi Cực Lạc?”

Triệu Châu đáp: “Mọi người đều đến cõi Cực Lạc đi! Ta chỉ nguyện mãi mãi ở lại bể khổ.”

Tôi đọc đến đây, trong lòng chấn động, hồi lâu không thể kìm nén cảm xúc, một vị thiền sư đã khai ngộ không theo đuổi Cực Lạc mà mong rằng bản thân ở lại cùng một nơi với chúng sinh, sống trong bể khổ, đây là lòng từ bi vĩ đại thực sự. Cũng như bên ao sen, mọi người đều vội đến ngắm sen, lúc đi qua bước chân lộn xộn, giấy rác bừa đất, còn ngài chỉ nguyện ở lại quét dọn ao sen.

Ngẩng đầu lên, tôi nhìn thấy lò đàn hương bên bàn, khói hương lượn lờ, bay đến nơi xa nào không hay biết, hương thơm quanh quẩn không tan trong phòng. Có phải khói này cũng bay tới cõi Cực Lạc không nhỉ? Nhưng nếu không có lò hương nâng đỡ, chấp nhận lửa đốt, khói đàn hương cũng không thể bay đến phương xa.

Triệu Châu chính là muốn làm lò hương lớn ấy, dùng nỗi khổ khi mình bốc cháy để thắp sáng khao khát hướng về cõi Cực Lạc mà chúng sinh kính ngưỡng.

Tôi cũng nguyện làm lò đồng đốt hương, chứ không muốn chỉ làm một làn hương.

BẦU TRỜI

Tôi và người bạn đi tham quan di tích cổ, chúng tôi vào một ngôi đình, ngồi xuống nghỉ ngơi, mới nhận thấy trên trần điêu khắc nhiều hình phức tạp, tinh tế, màu sắc tươi đẹp, là thứ mà người ta gọi là “tảo tỉnh[3]”.

Bạn tôi hỏi: “Vì sao người xưa phải chạm trổ trần nhà thành hình dạng phức tạp như thế?”

Tôi đáp: “Chắc là để cho đẹp!”

Bạn tôi nói không phải như vậy, vì người ta đâu có ngần ấy thời gian cả ngày ngẩng đầu ngắm trần nhà!

“Vậy thì vì lẽ gì?” tôi thắc mắc.

“Bầu trời mà người giàu nhìn thấy là kiểu dáng này đấy! Rực rỡ bảy màu, vàng bạc lấp lánh, giống như rương châu báu của họ vậy.” Đây là cách nói lần đầu tiên tôi nghe thấy, trong mắt bất giác hiện lên dấu chấm hỏi, bạn tôi bổ sung: “Ít ra, họ hy vọng bầu trời trong nhà là thế này, đầu óc con người nhét đầy tiền của thì sẽ cảm thấy bầu trời không nên chỉ là màu xanh lam, bầu trời chỉ có một kiểu xanh lam thì tẻ nhạt lắm!”

Bạn tôi như cười như không ngắm tảo tỉnh, rồi lại ngắm bầu trời bên ngoài đình.

Tôi cũng cười.

Khi chúng tôi bước ra khỏi ngôi đình hóng mát có tảo tỉnh, tôi cảm thấy trời xanh đơn thuần đẹp biết bao! Có khí chất biết bao!

Nước vì có trăng mới biết lặng, trời bởi không mây mới thấy cao. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ này.

NHƯ NƯỚC

Quân sư Kuroda Yoshitaka từng giúp Toyotomi Hideyoshi thống nhất toàn Nhật Bản, ông giỏi tác chiến bằng nước, từng dùng nước đánh chiếm lâu đài Takamatsu tấn công mãi không hạ được, vì vậy có biệt hiệu Josui, “như nước” trong lịch sử Nhật Bản. Ông từng viết “Năm quy tắc của nước”:

  1. Tự chuyển động, đồng thời có thể đưa đẩy người khác, là nước.
  2. Luôn luôn tìm kiếm hướng đi của mình, là nước.
  3. Gặp chướng ngại vật có thể phát huy sức mạnh gấp trăm lần, là nước.
  4. Dùng tinh khiết của mình rửa sạch vẩn đục của người khác, độ lượng dung nạp cả trong lẫn đục, là nước.
  5. Biển cả bao la, có thể bốc hơi thành mây, biến thành mưa, tuyết, hoặc hóa thành sương mù, hay ngưng tụ thành mặt băng như gương sáng lóng lánh, bất kể biến hóa thế nào vẫn không đánh mất bản tính, cũng là nước.

“Năm quy tắc của nước” này, cũng chính là “Năm đức của nước”, đáng được nghiền ngẫm, hằng ngày chúng ta dùng nước rất nhiều, có từng nghĩ nước là gì không? Nên làm thế nào để học tập nước?

Muốn học tập nước, chúng ta phải làm người có thể đưa đẩy người khác, luôn tìm kiếm hướng đi của mình, dùng sức mạnh gấp trăm lần vượt qua chướng ngại, độ lượng dung nạp trong đục, mãi mãi không đánh mất bản tính.

Muốn học tập nước, trước tiên phải thanh tịnh, vô ngại như nước mới được.

VỊ TRÀ

Tôi thường một mình ngồi uống trà, cùng một lượt pha, nước thứ nhất đắng chát, nước thứ hai ngọt thơm, nước thứ ba đậm sâu, nước thứ tư mát lành, nước thứ năm thanh đạm, trà ngon đến mấy, qua nước thứ năm sẽ mất đi mùi vị.

Cuộc trà này khiến tôi nghĩ đến đời người, thiếu niên non nớt xanh chát, thanh niên trong sáng ngọt ngào, trung niên trầm tĩnh sâu sắc, tráng niên ổn định an lành, và cao niên ngày càng đạm bạc nhạt nhòa, dần dần mất đi ý vị của đời người.

Tôi cũng hay đối ẩm với người ta, đối ẩm tốt nhất là chẳng nói lời nào, chỉ nhẹ nhàng thưởng trà; tốt nhì là đôi ba câu, tốt ba là dăm bảy câu, kể chuyện cuộc sống gần đây; tốt bét là mồm năm miệng mười, tán hươu tán vượn; tệ nhất là nói năng bừa bãi, bình luận phải trái của người khác.

Cùng người đối ẩm thường khiến tôi nghĩ rằng cảnh giới của cuộc đời quả thực vượt qua lời nói, trong tâm hồn hữu tình không cần trò chuyện, cũng có thể chứng thực lẫn nhau. Trong uống trà có đủ các cảnh giới nước sâu sóng lặng, suối chảy róc rách, hoa đỏ liễu xanh, chim chóc líu lo, ngựa xe tấp nập.

Tôi thích nhất là uống trà vào mùa đông gió rét căm căm, đêm khuya đến mức mọi âm thanh đều im ắng, một mình thưởng trà trong thanh vắng, một hơi uống cạn, hai tay ôm chiếc tách không, còn cảm thấy hơi ấm của trà trong tách, hơi ấm, nhanh chóng lan đến tận đáy lòng.

Ví như đời người sau khi trải hết thê lương, khuya đến ngắm lòng mình, nhìn thấy, và cảm thấy, nhiệt huyết sục sôi thời trai trẻ vẫn còn trong lồng ngực.

Nguyễn Vinh Chi dịch

[1] Có vài cách chọn khác nhau, nhưng một cách phổ biến là Băng Tâm, Trương Trung Hành, Uông Tăng Kỳ, Dư Quang Trung, Dư Thu Vũ, Giả Bình Ao, Lâm Thanh Huyền và Lưu Lượng Trình.

[2] Tức Hoàng Đình Kiên (1045-1105), nhà thơ, nhà thư pháp nổi tiếng thời Bắc Tống.

[3] Các khung hình vuông trang trí trên trần nhà.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s