Yuika Kitamura, Sự nổi lên của manga dành cho thiếu nữ và văn hóa thiếu nữ

(Nguyên bản đăng trong The Cambridge History of Japanese Literature, Haruo Shirane và Tomi Suzuki, cùng David Lurie chủ biên, Cambridge UP, 2016, tr. 748-752)

 

Truyện tranh trong văn hóa Tây phương gắn với giới độc giả nam trẻ tuổi, nhưng tại Nhật Bản thời hiện đại, truyện tranh (manga) lại gắn liền với những độc giả và tác giả nữ. Shōjo manga (truyện tranh thiếu nữ) xuất hiện ngay từ những năm 1910. Vào năm 1899, Sắc lệnh về trường phổ thông của nữ được ban hành với việc tách biệt nam nữ theo hệ thống trường đơn giới và chương trình học nhắm tới việc tạo ra những người vợ và người mẹ tốt. Sự tách biệt giới tính này tạo ra khái niệm shōjo (thiếu nữ), bởi vậy đã sinh ra văn hóa thiếu nữ. Các tạp chí dành cho thanh thiếu niên bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 1880, thoạt đầu nhắm tới cả nữ lẫn nam dù có những cái tựa như Shōnen no sono (Khu vườn của thiếu niên) nhưng rồi những tạp chí đó bắt đầu tách biệt theo giới tính ngay sau quá trình chia tách dựa trên giới tính trong nền giáo dục xảy ra sau Chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895). Vào năm 1902, Shōjokai (Thiếu nữ giới), là shōjo zasshi (tạp chí dành cho thiếu nữ) đầu tiên xuất hiện, theo sau đó là nhiều tạp chí dành cho thiếu nữ khác. Độc giả của những tạp chí đó nằm trong vòng hạn hẹp – chủ yếu là những thiếu nữ thuộc tầng lớp trung và thượng lưu có điều kiện đi học tại các trường trung học (chiếm chỉ 10-20% tổng số thiếu nữ) nhưng những tạp chí dành cho thiếu nữ này lại trở nên một phần thiết yếu của văn hóa thiếu nữ tiền Thế chiến II.

Những tạp chí dành cho thiếu nữ thời tiền chiến đăng một vài truyện tranh hài hước ngắn trong những koma (khung) hình vuông đơn giản được sắp theo những hàng ngăn nắp. Tuy nhiên, nổi tiếng nhất là những shōjo shōsetsu (tiểu thuyết dành cho thiếu nữ). Những truyện này đi kèm tranh minh họa. Những truyện của Yoshiya Nobuko (1896-1973) cùng với những bức tranh minh họa đi kèm của Nakahara Jun’ichi (1913-83) cực kì được ưa thích. Chúng đều có ảnh hưởng to lớn tới shōjo manga thời hậu chiến. Những độc giả nữ chia sẻ niềm say mê đối với những truyện có kèm tranh minh họa bằng cách đóng góp thư từ cho phần “thư độc giả” trong tạp chí.

Sau sự gián đoạn do Chiến tranh Thái Bình Dương, thời kì kiểm soát chặt chẽ của chính quyền, sự kiểm duyệt cùng chế độ phân phối giấy, tạp chí dành cho thiếu nữ hồi sinh – sự hồi sinh này không chỉ giới hạn ở những tiểu thuyết dành cho thiếu nữ mang phong cách tiền chiến mà còn hăng hái đăng tải những tiểu thuyết Tây phương dành cho thiếu nữ, những bài viết về thời trang, tin tức về những ngôi sao Hollywood, những nhân vật nổi danh người Nhật cũng như manga dành cho thiếu nữ nữa. Những bản dịch các tiểu thuyết Tây phương dành cho thiếu nữ như Anne Tóc Đỏ dưới Chái Nhà Xanh (Akage no an, bản dịch Nhật ngữ của Muraoka Hanako [1893-1968], 1952) có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với những thiếu nữ thời hậu chiến cùng với phim ảnh của Mỹ. Sự ngưỡng mộ văn hóa Tây phương có ảnh hưởng to lớn tới manga dành cho thiếu nữ – địa điểm, nhân vật và cốt truyện của các tiểu thuyết và bộ phim đó – đặc biệt là cho tới những năm 1970.

“Story manga” (truyện tranh có cốt truyện) chiếm thế thượng phong trong những tạp chí dành cho thiếu nữ thời hậu chiến, với việc bộ truyện Ribon no kishi (Hiệp sĩ đeo nơ, 1953-1956) của Tezuka Osamu (1928-1989) gặt hái được thành công cực kì to lớn. Takahashi Makoto, một họa sĩ manga nổi danh khác đã kết hợp story manga với những bức tranh minh họa đầy chất trữ tình. Ông vẽ những bức tranh minh họa thiếu nữ trong những khung hình được sắp đặt tự do – chẳng hạn như một khung hình ba cột nhằm mô tả những câu chuyện giàu kịch tính và cảm xúc như Arashi o koete (Sau cơn bão, 1958). Manga dành cho thiếu nữ dần trở nên độc đáo hơn, tập trung vào tâm lí của con người và sử dụng những khung hình linh hoạt. Ngược lại, manga dành cho nam thiếu niên lại mô tả hành động (như các môn thể thao và bạo lực) trong những khung hình vuông giống như phim.

Trong những năm 1960, tình yêu trở thành chủ đề phổ biến trong manga dành cho thiếu nữ. Bộ truyện Hoshi no tategoto (Hạc cầm của ngôi sao, 1960) của Mizuno Hideko (s. 1939) là manga dành cho thiếu nữ đầu tiên mô tả tình yêu nam nữ (hoàng tử và công chúa trong thần thoại Bắc Âu). Một ví dụ tiêu biểu khác là bộ truyện Remon to sakuranbo (Chanh và anh đào, 1966) của Nishitani Yoshiko (s. 1943). Bộ manga này mô tả tình yêu tuổi mới lớn và cuộc sống tại một trường trung học bình thường ở Nhật.

Tỉ lệ truyện manga mỗi lúc một lớn hơn trong những tạp chí dành cho thiếu nữ trong khi các tiểu thuyết dành cho thiếu nữ lại dần mất đi sự ưa chuộng của độc giả. Từ cuối những năm 1950, tuần san và nguyệt san dựa hoàn toàn vào manga dành cho thiếu nữ tăng trưởng mạnh. Điều này tạo ra một nhu cầu đối với những họa sĩ manga mới và nhiều tạp chí khuyến khích độc giả tự gửi những tác phẩm manga của riêng mình. Các biên tập viên lựa chọn những cộng tác viên tiềm năng, đào tạo rồi giới thiệu họ trong tạp chí. Hiện tại, các họa sĩ manga dành cho thiếu nữ chủ yếu là phụ nữ và sự khác biệt về độ tuổi giữa họa sĩ và độc giả ngày càng nhỏ lại.

Manga dành cho thiếu nữ có bước đột phá mạnh mẽ trong những năm 1970. Những kĩ thuật phức tạp được phát triển, bao gồm bố cục khung hình cực kì linh hoạt, tenbyō (vẽ chấm bi) và kakeami (đánh bóng kiểu đan lưới mắt cáo); cùng một lượng lớn từ ngữ – lời thoại, suy nghĩ nội tâm, lời kể chuyện và lời bình của tác giả – được sắp xếp một cách khéo léo không chỉ bên trong mà cả bên ngoài fukidashi (khung thoại). Những kĩ thuật này cho phép manga dành cho thiếu nữ thể hiện được những câu chuyện phức tạp cũng như việc mô tả tâm lí một cách chi tiết.

Cũng chính trong khoảng thời gian này, Hana no nijū-yonen-gumi (Nhóm Năm 24 Hoa, những nữ họa sĩ truyện tranh sinh trong quãng năm 1949, năm Chiêu Hòa 24) bắt đầu hoạt động. (Người ta cũng gọi họ là Nhóm 49). Nhiều tác phẩm của họ tới giờ đã được coi là kinh điển trong thể loại manga dành cho thiếu nữ. Tōma no shinzō (Trái tim của Thomas, 1974-1975) của Hagio Moto (s.1949) là một trong những tác phẩm như vậy. Bối cảnh là một trường nội trú nam tại Tây Đức. Nhân vật chính gồm Juli và hai nam sinh khác là Oskar và Erich. Bộ manga này bắt đầu với cái chết của Thomas Werner, nam sinh mười ba tuổi trong trường. Tōma no shinzō chứa đầy những điều bí ẩn – cái chết của Thomas, hành xử vô cảm của Juli, người cha đích thực của Oskar và căn bệnh của Erich – tất cả được khảo sát tỉ mỉ thông qua những bức vẽ tinh tế. Chung cục, các cậu bé trưởng thành và Juli quyết định trở thành tu sĩ rồi rời khỏi trường nội trú.

Những bộ manga dành cho thiếu nữ của Nhóm 49 mang những nét gần gũi với những tiểu thuyết nghiêm túc. Tōma no shinzō có không khí một Bildungsroman (tiểu thuyết trưởng thành) Đức khi đề cập tới tôn giáo, cái chết, tình yêu, bạo lực (tình dục) và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Nhóm 49 viết ra những câu chuyện hấp dẫn đôi khi gây tranh cãi về những chủ đề khác nhau như sự bất tử (Hagio, Pō no ichizoku [Thị tộc Poe], 1972-1976), việc một cô gái mới lớn mang thai (Ōshima Yumiko [s. 1947], Tanjō [Đản sinh] 1970), và tình yêu đồng tính (Takemiya Keiko [s. 1950], Kaze to ki no uta [Bài thơ gió và cây] 1976-84).

Một phong trào khác có chung mối liên hệ trong những năm 1970 là otomechikku manga (truyện tranh con gái). Chúng thiết lập một chủ đề quan trọng trong manga dành cho thiếu nữ – tình yêu và việc tự khẳng định bản thân nhờ vào một người đàn ông (cậu thiếu niên). Những món đồ dễ thương và lãng mạn được minh họa trong thể loại này (ví dụ như bánh quy nhà làm, một bó hoa xinh xinh, những bức rèm ren màu trắng trên những cánh cửa sổ Pháp) giúp phát triển ý niệm kawaii (dễ thương), một trong những đặc trưng chính của văn hóa thiếu nữ Nhật Bản.

Trong những năm 1970, nước Nhật chứng kiến phong trào giải phóng phụ nữ. Hơn 30% số nữ sinh trung học theo học tiếp lên đại học hoặc cao đẳng. Sự tham gia của nữ giới trong xã hội tăng lên và cách sống của họ đã trở nên đa dạng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế nghiêm ngặt. Cả manga của Nhóm 49 và otomechikku manga đều cho thấy phụ nữ và thiếu nữ đang tranh đấu để tìm không gian riêng cho mình cũng như một phương tiện tự biểu hiện khác. Ví dụ Nhóm 49 thường chọn những nam thiếu niên làm nhân vật chính như trong Tōma no shinzō. Họ tạo ra những khả năng mới dưới lốt vỏ của những nhân vật “nam thiếu niên”, những người không phải chịu những hạn chế áp đặt lên phụ nữ trong thế giới thực. Họ cũng đi vào khám phá tình dục và tính sắc dục, một điều cấm kị chính đối với manga dành cho thiếu nữ. Truyện tranh BL (boy’s love) – manga về tình yêu giữa nam với nam – cũng ra đời trong những năm 1970 và trở thành một phần không thể thiếu trong manga dành cho thiếu nữ.

Với sự phát triển của manga dành cho thiếu nữ trong những năm 1970, giới độc giả dần dần mở rộng sang phụ nữ trưởng thành (thỉnh thoảng cả nam giới), điều này dẫn tới việc các tạp chí manga dành cho thiếu nữ mới trong những năm 1980 nhắm tới độc giả thuộc những nhóm tuổi khác nhau, thí dụ như một thể loại mới gọi là redīsu komikku (ladies’ comic, truyện tranh của phụ nữ). Truyện tranh dành cho phụ nữ đặc trưng bởi sự mô tả mạnh bạo về tình dục tạo nên sự bùng nổ về xuất bản trong những năm 1980. 

urn-cambridge.org-id-binary-alt-20180929051351-31803-mediumThumb-02903fig03
Bộ truyện Trái tim của Thomas của Hagio Moto, Matt Thorn dịch (Seattle, 2012). Juli nói chuyện với Erich về cảm xúc của mình dành cho người đã khuất là Thomas. Những suy nghĩ của Juli được trình bày bên ngoài khung thoại. Fantagraphics Books.

Manga dành cho thiếu nữ trong những năm 1980 thường kể về một nhóm thiếu niên. Ví dụ như bộ truyện Banana fisshu (Banana fish, 1985-1994) của Yoshida Akimi (s. 1956) mô tả tình bạn và tình yêu (không có quan hệ tình dục) giữa Ash, thủ lãnh một băng đảng thiếu niên đường phố ở New York, và Eiji, một thiếu niên người Nhật bình thường. Dàn nhân vật trong truyện cũng rất đông đảo, gồm găng-tơ, mafia và chính trị gia đang làm việc tại Hoa Kỳ.

Trong những năm 1990, một thể loại mới là truyện tranh yangu redīsu (young ladies’, dành cho phụ nữ trẻ) xuất hiện; nó là thể loại trung gian giữa manga dành cho thiếu nữ và truyện tranh dành cho phụ nữ, và nó mô tả những vấn đề khác nhau của phụ nữ trẻ khi đi làm (như mối quan hệ với đồng nghiệp, thành tựu trong công việc và đời sống cá nhân). Sentō bishōjo (nữ chiến binh xinh đẹp) cũng trở thành từ khóa của những năm 1990. Bộ truyện tranh Bishōjo senshi Sērā Mūn (Thủy thủ Mặt trăng, 1992-1997) của Takeuchi Naoko (s.1967) là ví dụ tiêu biểu. Nó thu hút độc giả trẻ cũng như độc giả nước ngoài. (Cũng trong khoảng thời gian này truyện tranh Nhật Bản bắt đầu được dịch ra ngoại ngữ và trở thành một kiểu hình văn hóa nhóm mang tính toàn cầu.)

Rekishi fantajī (truyện kỳ ảo lịch sử) và wa-mono (truyện tranh mô tả văn hóa truyền thống Nhật Bản) lại chiếm ưu thế trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 21. Ōoku (Hậu cung, 2005-) của Yoshinaga Fumi (s. 1971), một bộ truyện kỳ ảo lịch sử được hoan nghênh trên toàn thế giới, mô tả một thế giới đảo ngược về giới tính trong thành Edo nơi shōgun (tướng quân) là nữ và vợ cùng tình nhân của bà ta là nam. Bộ truyện giành Giải thưởng James Tiptree Jr. 2009 cho tiểu thuyết khoa học viễn tưởng hoặc kỳ ảo thúc đẩy hiểu biết tốt hơn về giới tính.

Manga dành cho thiếu nữ, phát triển từ bước đầu khiêm tốn, đã đóng một vai trò cốt yếu trong văn hóa thiếu nữ thời hậu chiến. Gần đây, nó đã mở rộng ra khỏi văn hóa thiếu nữ để có được lượng độc giả rộng lớn hơn bao gồm phụ nữ trưởng thành, nam thiếu niên, đàn ông và độc giả toàn thế giới.

 

Trịnh Kha chuyển ngữ

(Bài viết thuộc Zzz Review số 3, 30-10-2018)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s