Natascha Wodin, Bà đến từ Mariupol (trích)

Nữ nhà văn Natascha Wodin, sinh năm 1945 tại Fürth, bang Bayern CHLB Đức, trong một gia đình người Ukraine (thuộc Liên bang Xô viết trước đây) bị bắt năm 1944 sang nước Đức quốc xã làm nhân công lao động cưỡng bức. Bà lớn lên trong các trại dành cho người di cư trước khi chuyển vào ở nội trú tại một trường nữ sinh trực thuộc Giáo hội Thiên chúa giáo cho đến khi trưởng thành. Sau khi tốt nghiệp trường chuyên ngữ, bà chuyển sang viết văn và biên dịch.

Chiến tranh chưa kết thúc được bao lâu thì mẹ bà qua đời mà không để lại mấy thông tin về nguồn gốc gia đình bà. Phải hơn năm chục năm sau, Natascha Wodin mới bắt tay lần tìm lại tông tích mẹ mình tại Ukraine thuộc Liên Xô xưa kia. Kết quả công cuộc tìm kiếm hết sức khó khăn đó là câu chuyện trong tác phẩm Bà đến từ Mariupol, câu chuyện soi rạng số phận bi thảm và cảm động của một gia đình tiêu biểu cho số phận hàng triệu gia đình khác ở một giai đoạn lịch sử mà các chấn động của nó cho đến tận giờ vẫn chưa hết dữ dội đau thương. Tác phẩm này của Natascha Wodin nhờ đó đã trở thành một sự kiện văn học ở Đức và được trao nhận nhiều Giải thưởng, như Giải thưởng văn học Alfred Döblin, Giải thưởng Hội chợ sách quốc tế tại Leipzig (CHLB Đức) năm 2017, v.v.

 

Phần I

Lúc gõ tên họ mẹ tôi vào công cụ tìm kiếm trên trang web của Nga, tôi cũng chẳng khác nào muốn thử một trò chơi cho vui vậy thôi. Suốt cả mấy chục năm nay rồi, tôi đã cố cách này cách khác nhằm dò ra các vết tích mẹ tôi để lại ở đời, tôi hết viết thư nhờ cậy Hội Chữ thập đỏ và các cơ quan làm dịch vụ tìm kiếm người thân ở chỗ này chỗ kia, lại dò hỏi các phòng lưu giữ hồ sơ có tăm có tiếng cũng như vài ba cơ sở nghiên cứu có tầm có cỡ tại nơi này nơi khác, tôi cũng gửi thư hỏi dò ở những người chẳng chút quen biết nào ở tận bên Ukraine và Moskva, tôi lục lọi cả trong những danh mục hay những hồ sơ lưu trữ đã bạc thếch vì năm tháng ghi danh tính các nạn nhân, nhưng tôi chưa bao giờ tìm thấy vết tích gì, dù chỉ là vết của vết thôi, hay một bằng chứng mỏng manh nào về cuộc đời mẹ tôi ở Ukraine, quãng đời mẹ trước khi tôi mở mắt chào đời.

Dạo Thế chiến hai, mẹ tôi mới hai mươi ba tuổi, cùng với bố tôi bị bắt và lùa từ Mariupol sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức, và tôi chỉ biết hai người từng phải vào làm tại một xưởng quân giới thuộc tập đoàn Flick ở Leipzig. Mười một năm sau chiến tranh, mẹ tôi tự vẫn, qua đời tại một thành phố nhỏ ở đất Tây Đức, một thành phố nằm không xa khu định cư của dân nước ngoài vô quốc tịch, một danh hiệu dạo ấy người ta vẫn dùng để gọi đám dân hôm xưa bị bắt sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức. Ngoài em tôi với tôi, có lẽ chẳng còn ai trên đời này biết đến mẹ tôi. Mà đến ngay cả em gái tôi với tôi, thật ra cũng chẳng biết gì về mẹ nốt. Hồi ấy, khi mẹ tôi, vào một ngày tháng Mười nào đấy trong năm 1956 không nói không rằng bỏ nhà ra đi rồi không quay về nữa, thì chúng tôi vẫn còn là trẻ con, em gái tôi mới tròn bốn tuổi, tôi lên mười. Trong trí nhớ tôi, mẹ chỉ thấp thoáng như một cái bóng, như một cảm giác mơ hồ thì đúng hơn là một kỷ niệm.

Đúng ra thì từ lâu, tôi đã thôi, không tìm mẹ tôi nữa. Mẹ tôi sinh ra hơn chín mươi năm về trước và cũng chỉ sống có ba mươi sáu năm, những năm tháng không hề bình thường, mà là những năm tháng nội chiến, những năm tháng thanh trừng nội bộ và nạn đói lan tràn trên đất Liên Xô, rồi những năm tháng của Thế chiến hai và chế độ Quốc xã. Mẹ tôi rơi vào giữa nanh vuốt của hai nền độc tài, nền độc tài dưới trướng Stalin ở Ukraine trước, rồi đến nền độc tài dưới trướng Hitler ở Đức. Hàng chục năm sau, giữa cả một đại dương mênh mông tràn ngập những nạn nhân đã bị lãng quên này mà tôi lại mong ước lần tìm dấu tích một phụ nữ trẻ tuổi, một người mà ngoài họ tên, tôi chẳng biết gì nhiều hơn ấy, thì quả thực là rất viển vông vậy.

Vậy mà, vào cái đêm hè giữa năm 2013 ấy, khi tôi đưa tên họ mẹ tôi vào trang web của Nga, thì công cụ tìm kiếm độp ngay cho tôi một kết quả. Nhưng rồi tôi cũng chỉ sững sờ mất vài giây. Một sự thực luôn gây trở ngại cho các cuộc tìm kiếm trên mạng của tôi là mẹ tôi mang một cái tên quá hay thường gặp ở Ukraine, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các bà các cô Ukraine đều mang họ như mẹ tôi. Mặc dù dòng chữ về nhân vật nào đó hiện ra trên màn hình cũng mang phụ danh như mẹ tôi, cũng là Evgeniya Yakovlevna Ivashchenko đấy, nhưng Yakov, tên bố đẻ của mẹ tôi, cũng là tên gọi phổ biến đến mức kết quả tôi tìm ra chưa có ý nghĩa gì hết cả.

Tôi mở đường link ra đọc: Ivashchenko, Evgeniya Yakovlevna, năm sinh 1920, nơi sinh Mariupol. Tôi trân trân nhìn vào entry, nó trân trân nhìn lại. Dù vốn hiểu biết của tôi về mẹ tôi có ít ỏi thế nào đi nữa, thì tôi cũng biết mẹ tôi sinh năm 1920 ở Mariupol. Liệu có thể có hai bé gái trùng tên, trùng họ, lại trùng cả tên bố là Yakov, mở mắt chào đời cùng năm tại một thành phố nhỏ tí ti như Mariupol hồi đó không?

[…]

Dạo ấy tôi hầu như không biết tí gì về Mariupol. Suốt thời gian tìm tòi tư liệu về mẹ tôi, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện tìm hiểu về cái thành phố mẹ tôi xuất thân làm gì. Thành phố Mariupol, cái thành phố suốt bốn chục năm liền mang tên Zhdanov, mãi đến khi Liên Xô tan rã ít lâu mới mang lại tên cũ của nó ấy, chỉ là một địa danh nằm sâu thăm thẳm trong lòng tôi, một địa danh tôi không bao giờ lôi ra gắn với thực tại. Đã từ lâu, tôi náu mình trong thế giới các giả định, với các bức tranh cùng những tưởng tượng của riêng mình. Thế giới thật bên ngoài đe dọa thế giới bên trong ấy của tôi, cho nên, tôi tìm mọi cách lẩn tránh nó cho bằng được.

Bức tranh nguyên sơ của tôi về Mariupol bị chi phối hoàn toàn bởi bức tranh tôi mang suốt một thời thơ ấu, cái thời không ai phân biệt nước này với nước kia trong Liên bang Xô viết cả, dân chúng mười lăm nước cộng hòa tuốt tuồn tuột đều là dân Nga hết. Mặc dù thời trung cổ xa xưa, nước Nga vốn bắt nguồn từ Ukraine, tức là từ Kiev Rus – cái nơi mà thiên hạ vẫn mệnh danh là cái nôi nước Nga thật -, và chính Kiev cũng là thành phố mẹ đẻ ra mọi đô thành khác trên đất nước Nga đấy, nhưng đến cả bố mẹ tôi vẫn chỉ xem Ukraine như một phần của nước Nga mà thôi – một phần của đất nước rộng nhất thế gian, như bố tôi vẫn nói, của quốc gia vĩ đại, với lãnh thổ trải rộng suốt từ Alaska tới đất Ba Lan và diện tích chiếm hẳn một phần sáu diện tích các châu lục. So với nó, nước Đức chỉ là một vết con con tí tẹo trên bản đồ.

Với tôi, mọi thứ của Ukraine đều tan vào những gì thuộc về Nga, và, nếu tôi có hình dung mẹ tôi trong cuộc đời trước đây của mẹ tại Mariupol, bao giờ tôi cũng thấy mẹ tôi cùng với tuyết nước Nga. Khoác trên người chiếc áo choàng màu xám cổ lỗ sĩ, cổ và tay áo bằng nhung – chiếc áo choàng duy nhất tôi từng thấy mẹ mặc – mẹ tôi đi xuyên qua các con phố tối tăm và đầy băng giá trong một bầu không gian vô cùng vô tận nào đó, một nơi mà bão tuyết hoành hành không nguôi từ ngàn xưa thiên cổ đến giờ. Tuyết Siberi phủ ngập cả Mariupol lẫn mọi nơi khác trên khắp nước Nga, một đất nước bí hiểm muôn đời lạnh giá, một đất nước mà tại đó những người cộng sản đang nắm quyền cai trị.

[…]

Một lần, trong lúc đang lật lật báo và hờ hững đọc lướt qua các trang, tôi lật đến mục thể thao và, đã toan lật tiếp, thì cái chữ Mariupol bỗng đập vào mắt. Rằng một đội bóng đá Đức nào đấy sang Ukraine để thi đấu với đội Illichivets Mariupol. Chỉ riêng cái việc thành phố này có hẳn một đội bóng đá thôi đã làm tôi bừng tỉnh, khiến cho cái thành phố Mariupol vốn vẫn ấp ủ đâu đó trong lòng tôi như một thứ nấm mốc nào đấy bỗng bị đập bay lên mù mịt. Trên đời này, có lẽ không có thứ gì ít làm tôi quan tâm hơn là bóng đá, thế mà chính nó lại là thứ trước tiên đẩy tôi đến với Mariupol có thực ngoài đời. Tôi được biết thêm, thì ra đấy là một thành phố mà khí hậu hết sức ôn hòa, một thành phố cảng nằm bên bờ biển Azov, biển nông nhất và ấm áp nhất trần đời. Thấy bảo ở đấy, bên bờ biển có những bãi cát vàng trải dài miên man và rộng rãi, những ngọn đồi trồng nho nhấp nhô cùng các cánh đồng hoa hướng dương mênh mông tít tắp chân trời. Còn các cầu thủ Đức thì rên rỉ vì họ phải thi đấu giữa nắng hè, dưới cái nóng ngấp nghé những bốn chục độ.

mariupol 1
Ảnh của Hiếu

Tôi có cảm giác, dường như thực tại còn hoang đường hơn cả tưởng tượng của tôi về nó. Lần đầu tiên kể từ khi mất, mẹ tôi bỗng hiện ra thành một nhân vật có thật, tồn tại bên ngoài trí tưởng tượng của tôi. Đột nhiên tôi thấy mẹ tôi không mặc áo choàng đi trong tuyết nữa, mà trong bộ áo váy mùa hè mát mẻ và sáng màu, đang rảo bước trên đường phố Mariupol, cánh tay và ống chân để trần, bàn chân xỏ xăng đan. Vâng, một cô gái trẻ, không phải là người từng lớn lên tại một nơi tối tăm và lạnh lẽo nhất thế gian, mà tại một xứ nằm gần Krym, bên bờ biển phương Nam ấm áp, dưới một bầu trời có lẽ cũng từa tựa như bầu trời trên thành phố Adria nước Ý vậy. Tôi vốn vẫn có cảm giác không có gì khập khiễng với nhau như mẹ tôi với phương Nam, mẹ tôi với ánh nắng mặt trời và biển cả. Nay tôi phải chuyển mọi tưởng tượng của tôi về cuộc đời mẹ tôi sang một vùng khí hậu khác, với nhiệt độ khác. Cái lạ lẫm hôm xưa ấy, đã biến thành cái lạ lẫm mới rồi.

Mãi nhiều năm sau, nhờ đọc một cuốn tiểu thuyết ngắn của Nga, tựa đề thế nào tôi quên mất, tôi mới biết khung cảnh mùa đông ở Mariupol vào cái thời mẹ tôi còn sống ở đó như thế nào. Tuyết ướt nhão rơi phía ngoài cửa sổ khách sạn Palmyra. Từ đây bước chừng trăm bước là ra đến biển, ngoài đó vọng vào đây một thứ tiếng động tôi không dám bảo là tiếng lao xao. Ọc ạch, nhóc nhách một miền biển nông choèn, vô nghĩa, nhàm chán. Nem nép bên mép nước là thành phố Mariupol con con giản dị, với ngôi nhà thờ Công giáo Ba Lan và hội đường Do Thái. Thêm bến cảng hôi hám, khu nhà kho, cùng túp lều rách bươm của gánh xiếc rong ngoài bãi biển, và quán trọ Hy Lạp với cây đèn đường mù mờ nhợt nhạt dựng đơn độc trước lối vào khách sạn nói trên. Tôi đọc đoạn văn ấy như đọc một thông điệp thân tình và kín đáo về mẹ tôi vậy. Phải, mẹ tôi đã chứng kiến cảnh tượng đó bằng con mắt của chính mình. Chắc chắn mẹ tôi đã có lần nào đó đi ngang khách sạn Palmyra, rất có thể mẹ khoác trên người chiếc áo choàng màu xám ấy, có thể mẹ cũng bước dưới làn tuyết nhão ấy, và xốc vào mũi mẹ cũng chính là cái mùi hôi hám ấy của bến cảng.

[…]

Đã mấy tuần nay, tôi ru rú một mình trong căn hộ tôi vẫn dành cho việc viết lách này tại Mecklenburg. Tôi chung căn hộ bé nhỏ bên hồ Schaalsee đây với chị bạn, hai đứa thay phiên nhau ở. Năm nay, gần như toàn bộ những ngày tháng mùa hè bên hồ đều thuộc về tôi. Gilla, chị bạn tôi, là diễn viên, ngập bù đầu với một chương trình sân khấu ở đâu đó xa xôi tận nước ngoài, phải mãi tháng Chín mới về. Còn tôi vừa xong cuốn sách và định bụng nằm ườn ra nghỉ ít lâu. Nói cho đúng thì tôi không nhớ đã bao giờ tôi nằm ườn lấy nửa ngày hay không. Chất liệu để viết của tôi ngoan cố chen nhau xếp thành hàng dài chờ chực, chúng đã không cho tôi ngơi tay, lại nhắc nhở tôi mỗi ngày một gay gắt chớ nên quên sự thực hiển nhiên, rằng đời tôi thật ngắn ngủi. Thông thường, hôm nay vừa xong một quyển thì ngay hôm sau tôi đã bắt đầu cuốn mới, dừng lại lâu không viết, không vật lộn với từ với chữ là tôi không chịu được. Phần lớn quãng đời cứ thế mà trôi biến đi lúc nào, tôi cũng chẳng biết nữa. Thế mà hiện giờ tự dưng tôi không muốn làm gì nữa cả, chỉ muốn ngồi không ngoài ban công, để mặc cho gió nhẹ mơn man trên da thịt mình và ngắm nhìn mặt nước hồ trong xanh dưới nắng hè. Xế chiều, khi hơi nóng dịu bớt đi, tôi mới lôi đôi gậy chống dùng cho môn “đi bộ gậy” Nordic walking làm một vòng bên hồ cho đến khi mệt lử, để rồi tại đôi chỗ ẩm ướt và khuất nẻo, đành chịu cho hàng bầy muỗi đói dày đặc như đám mây nhào xuống đốt. Trên đường về, tôi sẽ mua ở cửa hàng cá tươi ít cá hồi trắng lẫn cá hồi hồng bắt thẳng từ hồ lên đem về nhà làm bữa tối.

Trước đây, đường biên giới Đông-Tây Đức chạy cắt ngang hồ Schaalsee này. Phần hồ này thuộc Mecklenburg bên Đông, phần kia thuộc Schleswig-Holstein bên Tây. Phóng xe thêm vài cây nữa, người ta sẽ chạy qua một tấm biển, trên đó có ghi dòng chữ: Tính đến 16h ngày 18 tháng Mười một năm 1989, đây là nơi nước Đức và châu Âu bị chia cắt. Tại nơi xưa kia là vùng đất cấm dọc theo biên giới phía Đông này, suốt một quãng thời gian dài tới bốn chục năm, cỏ cây, muông thú được yên ổn sinh sôi nảy nở, hầu như không bị con người quấy rối, những con người thường chỉ xuất đầu lộ diện ở đây dưới dạng lính biên phòng mà thôi. Sau thời Bước ngoặt, khu vực bỏ hoang này biến thành khu bảo tồn thiên nhiên nằm trong danh mục các khu dự trữ sinh quyển quốc tế của UNESCO; tức là một khu hoang dã được quản lý, gần đây mới có giới thượng lưu giàu có chuyên dùng hàng hóa, thức ăn bio đắt tiền từ Hamburg đến ở. Để chiều dân thành phố chuộng hữu cơ sinh thái kéo về đây sinh sống hay dựng nhà nghỉ, người ta khai trương các cửa hàng bio, mở khách sạn bio, các buổi chợ bán hàng cũng bio nốt đều họp đều đặn; khách đến đây bỏ năm chục euro ra có thể mua cổ phần bảo vệ cò, và ở đây còn có thêm một trung tâm gọi là trung tâm „Con người và thiên nhiên“ sang trọng. Dân Đông Đức bản xứ ở đây chỉ thấy lai vãng tại các cửa hàng bán hàng giảm giá Penny và Lidl là chính, bây giờ họ biến thành người lạ ở đây, thành dân sống quây bên trong thế giới của những ngôi nhà dựng lên từ thời CHDC Đức mới được tân trang và ghé mắt qua kẽ hàng rào nhìn ra thế giới xưa kia của họ.

mariupol 2
Ảnh của Hiếu

Từ khung cửa sổ rộng toàn cảnh của căn hộ, tôi không thấy gì khác ngoài hồ nước. Suốt ngày tôi luôn có cảm giác ngây ngây ngất ngất thế nào đó do không rời mắt khỏi mặt nước hồ trong xanh, nước sâu dường như vô tận và mát rười rượi khiến người ta như chỉ muốn ngâm mình chìm xuống mãi. Từ xa vọng lại tiếng trẻ í ới nô đùa dưới nước. Đang kỳ nghỉ hè mà lại, đầy những âm thanh ấy, ngan ngát những hương vị ấy, cùng toàn bộ vẻ đẹp của một mùa hè con trẻ, một mùa hè ai cũng muốn nó kéo dài không dứt. Thật may là ở đây cấm thuyền máy, quyền thống lĩnh hồ này thuộc về các giống thủy điểu sinh sống ở đây, họa hoằn lắm mới có một con thuyền gỗ lẻ loi nào đó buông chèo hay căng buồm trắng bơi ngang. Chim nhạn, có đến hàng trăm con, lượn qua lượn lại giữa không trung, đôi khi lượn thấp đến nỗi tôi có cảm giác như đầu cánh nhọn hoắt của chúng sắp chạm cả vào người tôi nữa kia, nhất là vào những lúc tôi ngồi ngoài ban công mở sách đọc hay chỉ ngồi để ngắm trời ngắm nước, ngắm mặt hồ long lanh, như thể vô vàn những chiếc gương con con nào đó rải trên mặt hồ đang hắt nắng qua lại cho nhau. Những con ngỗng trời bay qua trên trời cao, thành đàn với đội hình ngay ngắn, như thể chúng được nối với nhau bởi những sợi dây vô hình, bọn chim én thoăn thoắt đuổi nhau giữa trời cao, như đang rủ nhau chơi một trò chơi kỳ quái nào đấy. Cứ sẩm tối là dàn giao hưởng của vô số thủy cầm lại vang lên, tiếng vịt trời càng cạc bận rộn, tiếng càu nhàu gắt gỏng của thiên nga, cùng tiếng kèn trumpet xốn xang nháo nhác của tụi cò lũ hạc, cái tụi suốt ngày kiếm ăn đâu đó ngoài các cánh đồng xa tận đẩu tận đâu, tối mịt mới về tụ tập nhau bên hồ đây. Thỉnh thoảng xuất hiện con đại bàng đuôi trắng, sải rộng đôi cánh dài mạnh mẽ, nó chậm rãi lượn là là mặt nước. Đúng là bậc đế vương uy nghi sông nước, là nỗi kinh hoàng của cá bơi dưới hồ lẫn muông thú bên bờ! Cứ nghe dân tình kháo nhau thì đã có lần, đứng bên bờ người ta còn chứng kiến cảnh tượng nó phanh thây một con cò ra sao. Chả là vào mùa đông lạnh giá, đám cò cậy mình được bảo vệ, chẳng ai dám sinh chuyện đụng vào chúng, nên chuyên tìm chỗ nước nông đứng chân co chân duỗi ngủ qua đêm; có con trong đám thế nào lại vô ý ngủ quên, khiến một chân bị nước đóng băng không rút lên được. Lúc con đại bàng từ trên cao lao bổ xuống, nó không kịp xoay xở thoát thân, đành chịu bị đại bàng xé xác.

[…]

Nhưng nói cho cùng thì không hẳn là vô cớ mà đúng vào lúc này tôi lại dò tìm tên tuổi mẹ tôi trên mạng của Nga đâu. Từ lâu tôi đã nuôi ý định viết về mẹ tôi, nhất là về giai đoạn mẹ ở Ukraine, rồi sau đó, trong trại nhân công lao động cưỡng bức của Đức, trước khi mẹ sinh ra tôi. Có điều, tôi hầu như không biết tí gì về mẹ tôi trong giai đoạn đó. Mẹ tôi không bao giờ kể tôi nghe về thời kỳ mẹ bị bắt đi làm nhân công lao động cưỡng bức đó, cả bố tôi cũng không nốt, thành ra không có một tí gì lưu lại trong trí nhớ của tôi về thời kỳ ấy cả. Tất cả những gì tôi được nghe mẹ kể về giai đoạn mẹ ở Ukraine chỉ còn là những đốm sáng chập chờn vô định trong đầu tôi mà thôi. Tôi chỉ còn biết thử viết một tiểu sử hư cấu xem sao, dựa trên những gì đã được ghi vào sử sách, dựa vào các cứ liệu về địa phương cũng như về thời kỳ mẹ tôi trải qua ở đó. Nhiều năm nay rồi, tôi bỏ công cố tìm một cuốn sách nào đó viết về những công nhân dạo xưa từng bị cưỡng bức lao động, tức là cố tìm cho ra một tiếng nói văn học về họ để bấu víu dựa dẫm, nhưng đều vô ích. Nạn nhân sống sót từ các trại tập trung trở về đã viết nên hàng loạt các tác phẩm văn chương mang tầm quốc tế, sách họ viết về nạn diệt chủng người Do Thái xếp đầy các thư viện, thế nhưng, những công nhân không phải Do Thái hồi đó bị bắt đi cưỡng bức lao động lại im lặng, chẳng ai viết lách gì. Họ bị lùa cả triệu người sang lãnh thổ Đế chế Đức hồi đó, các tập đoàn công nghiệp, các doanh nghiệp lớn nhỏ, các xưởng thủ công, các nông trang, cả các hộ gia đình trên toàn quốc đều có thể tùy thích sử dụng phần nhân công nô lệ nhập từ nước ngoài về và được chia phần cho họ, phần nhân công họ được phép bóc lột tối đa mà chẳng mất bao tốn kém ấy. Những người bị cưỡng bức lao động này, ai nấy đều phải lăn lưng làm lụng trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt, không khác ở trại tập trung là mấy, để gánh vác phần việc của đám đàn ông Đức lúc đó đang phải xông pha nơi tiền tuyến, đang ra tay tàn phá hủy hoại làng mạc phố phường, quê hương xứ sở, đang tàn sát gia đình, giết hại người thân của của chính những người bị lùa sang Đức làm khổ sai kia. Đến tận giờ vẫn không rõ số đàn ông đàn bà bị lùa sang Đức làm nô lệ cho nền kinh tế chiến tranh Đức quốc xã rồi bị hành hạ đến chết là bao nhiêu, thế nhưng hàng chục năm sau khi chiến tranh kết thúc, hiếm hoi lắm mới có bài viết ngắn ngủi – trên mặt một tờ báo vô danh nào đó của nhà thờ, hay trong chuyên san Chủ nhật của một tờ báo tỉnh lẻ – buông đôi dòng về các tội ác đối với những con người này, những con người mà số liệu về họ có thể chênh nhau ghê gớm tùy nguồn hồ sơ, nhưng nhìn chung, cũng phải cỡ từ sáu triệu cho đến hai mươi bảy triệu người chứ không ít. Và, thông thường, số phận họ chỉ được nhắc đến „qua loa, ngoài lề“ khi nói đến số phận người Do Thái – vâng, được nhắc đến như một phần nạn nhân nhỏ nhoi, không đáng kể của tội ác Holocaust mà thôi.

Suốt một thời gian rất dài trong đời tôi, tôi không hề biết mình là con của vợ chồng hai người xưa kia bị bắt đưa sang Đức cưỡng bức lao động. Không ai nói cho tôi biết điều đó, cả bố mẹ tôi, cả môi trường Đức xung quanh tôi, một môi trường không gìn giữ các kỷ niệm về đám đông những người bị cưỡng bức lao động như thế. Hàng chục năm trời trôi qua mà tôi không hề hay biết tí gì về cuộc đời của chính mình. Tôi không hề hay biết những người mà gia đình chúng tôi sống chung sống đụng hết ghetto này sang ghetto khác là những ai, không biết họ đã đến đất nước Đức này như thế nào, tất tật những người Rumani, Tiệp, Ba Lan, Bungari, Nam Tư, Hung, Lithuani, Latvia, Azerbaijan hay của nhiều đất nước khác nữa, những con người tuy bất đồng mọi đường về tiếng tăm chữ nghĩa, nhưng bằng cách nào đó, vẫn hiểu được nhau ấy. Tôi chỉ biết mang máng, có lẽ tôi nằm trong số cặn bã, rác rưởi nào đó còn sót lại từ dạo còn chiến tranh thì phải.

Ở trường học trên đất Đức này, người ta dạy chúng tôi rằng bọn Nga đã tràn sang đánh chiếm nước Đức, phá hủy tan hoang hết mọi thứ rồi cướp trọn một nửa nước Đức của họ. Tôi ngồi hàng ghế cuối cùng, cạnh cái Inge Krabbes, một đứa chẳng đứa nào muốn dây dưa, vì tuy nó là người Đức chính tông thật, nhưng lại ăn mặc bẩn thỉu và người ngợm hôi hám, còn cô giáo đứng trên bục giảng cứ kể mãi không thôi chuyện bọn Nga lấy hòn than hồng đốt mù hai mắt chồng chưa cưới của cô và dùng chân mang ủng đạp bẹp dí bẹp dị mấy đứa trẻ con bé bỏng. Cả lớp quay đầu nhìn về phía tôi, đến như cái Inge Krabbes bên cạnh tôi cũng ngồi xích ra xa một tí, và tôi đoán biết được ngay, chỉ cần chờ hết giờ học thôi, là thể nào chúng nó cũng giở trò đuổi đánh tôi ngay cho mà xem.

Đã từ lâu rồi, những chuyện tôi bịa ra không còn giúp được tôi nữa, chẳng những tôi bị liệt vào đám dân Nga mọi rợ, mà còn bị lật mặt lừa đảo. Chả là, để tự nâng giá mình trước mặt tụi trẻ con Đức, tôi bảo chúng nó rằng bố mẹ tôi, những người làm tôi xấu hổ đến chết đi được, thật ra không phải là bố mẹ đẻ ra tôi mà chỉ là những người trên đường trốn chạy khỏi nước Nga đã nhặt được tôi lúc tôi bị quẳng nằm vạ vật dưới rãnh nước ven đường rồi mang theo thôi, chứ đúng ra tôi là con nhà giàu có, cỡ vương hầu bên Nga, làm chủ lâu đài này lâu đài kia lẫn hàng đống của cải quý giá khác, nhưng tôi cố tình lờ không nói vì cớ gì con nhà bậc vương hầu lại bị quẳng ra rãnh nước bên đường, nhờ thế dẫu gì thì suốt mấy tiếng đồng hồ hay suốt một ngày tôi cũng biến thành đứa con gái lạ lùng bí hiểm trước những con mắt đầy ngạc nhiên và thán phục của tụi trẻ con người Đức. Tất nhiên, chẳng mấy chốc là chúng nó nhìn rõ chân tướng tôi, và lúc ấy, bọn trẻ liền lồng lên đuổi đánh tôi, hòng rửa hận cho Đế chế thứ ba đã thảm bại hồi nào, bọn con cái mới lớn lên của các bà các cô vợ lính người Đức góa chồng, hay của các ông bố quốc xã bại trận hôm xưa ấy đuổi đánh tôi vì tôi mang diện mạo quân Nga, vì tôi là hiện thân của cộng sản và bolshevik, của hạng người Slave hạ đẳng, và đồng thời, cũng là kẻ đại diện cho kẻ thù của nhân loại, những kẻ đã đánh thắng họ trong chiến tranh, còn tôi cứ thế mà chạy bán sống bán chết. Tôi không muốn chết như cái Dschemila, đứa con gái nhỏ nhà người Nam Tư dạo nào cũng bị tụi trẻ con người Đức đuổi đánh rồi đẩy ngã xuống sông Regnitz chết đuối. Tôi chạy, kéo theo một đám đông hò hét hung hăng hiếu chiến, nhưng tôi chạy đã quen rồi, quen đến mức lúc chạy không thấy đau nhoi nhói bên mạng sườn nữa, cho nên tôi cũng thường bỏ xa chúng nó ở phía sau. Tôi chỉ cần chạy đến khu mỏ khai thác sỏi cát, là đường ranh ngăn cách thế giới dân Đức với thế giới chúng tôi, đằng sau mỏ khai thác sỏi cát ấy là lãnh địa của chúng tôi, là miền đất chưa hề khám phá, miền đất mà ngoài cảnh sát và nhân viên bưu tá ra, chưa một người Đức nào lai vãng, đến cả bọn trẻ con Đức cũng chả dám bén mảng nữa là. Trước khu mỏ, rẽ khỏi đường phố rải nhựa là một lối mòn dẫn đến „khu nhà“. Tôi không rõ vì sao dân Đức gọi lô nhà xây bằng gạch của chúng tôi là „khu nhà“ như thế, có lẽ để phân biệt chúng tôi vói dân Di gan, những người sống còn xa thêm đoạn nữa, trong những ngôi lán bằng gỗ, ở phía ngoài thành phố. Họ đứng còn thấp hơn chúng tôi một bậc và dạo ấy luôn gây ra trong lòng tôi một cảm giác ghê ghê tởm tởm, một cảm giác chắc cũng ghê ghê tởm tởm y như chúng tôi gây cho người Đức vậy.

Qua khỏi đường biên thần kỳ ấy là thoát. Sau chỗ ngoặt, tụi trẻ đuổi theo không nhìn thấy tôi nữa, nên tôi thả mình nằm xuống bãi cỏ, chờ cho con tim tôi hết thình thịch liên hồi, chờ đến lúc lấy lại được hơi thở bình thường. Hôm nay thế là xong, ngày mai thế nào, tôi chưa cần tính vội. Tôi lang thang chỗ này chỗ nọ càng lâu càng tốt, lần mò ở các bến bãi dọc sông, liệng đá nhảy lướt lướt trên mặt nước sông Regnitz, nhấm nhá lá me chua đến chán chê, ngon lành cạp bắp ngô non bẻ trộm ngoài đồng. Tôi chẳng bao giờ muốn về nhà. Đã từ lâu, từ khi biết nghĩ biết ngợi đến giờ, tôi chỉ độc một ước muốn làm sao chuồn khỏi đây, đi thật xa, suốt một thời thơ ấu tôi chỉ mơ làm sao chóng thành người lớn, để biến đi nơi khác. Tôi muốn thoát khỏi nhà trường Đức, đi khỏi „khu nhà“, rời xa bố mẹ tôi, trốn biệt khỏi tất cả những gì làm nên tôi, những thứ tôi có cảm giác như những lỗi lầm giam hãm tôi. Giá có ai định kể cho tôi nghe xem bố mẹ tôi và tất cả những người thân thuộc với tôi là ai, thì tôi cũng chẳng buồn nghe, tôi không muốn biết, tôi không quan tâm, không màng đến bất cứ thứ gì nữa, tôi chẳng muốn dính dáng dây dưa với ai hết. Tôi chỉ muốn ra đi, không muốn gì khác, chỉ làm sao bỏ đi xa là được, mãi mãi bỏ lại đằng sau mình tất tật mọi thứ, muốn dứt áo bước vào cuộc sống của riêng mình, cuộc sống thật sự đang chờ đón tôi ở đâu đó ngoài đời.

[…]

Tôi còn giữ hai tấm ảnh mẹ tôi mang theo từ Ukraine sang, ảnh chân dung, chụp trong một hiệu ảnh nào đó. Một bức chụp mẹ lúc mới là một thiếu nữ khoảng mười tám tuổi, đứng bên một người đàn bà tóc bạc tôi không biết là ai. Chắc vì thiếu ăn, mẹ tôi trông khẳng khiu, mặc trên người chiếc váy liền áo tuềnh toàng dùng vào mùa hè, mái tóc đen nhánh cắt ngắn như tóc con trai, chắc là kiểu tóc thịnh hành hồi đó. Có lẽ người thợ ảnh đã muốn trổ hết tài nghệ sĩ để tạo cho mẹ tôi một vẻ bí hiểm nào đó, nên đã chụp sao cho nửa gương mặt bên trái của mẹ tôi khuất vào bóng tối. Mẹ tôi trông chỉ mới như một cô gái trẻ, nhưng vẻ trong trắng, ngây thơ trên gương mặt lại gắn liền với vẻ tinh khôn, già dặn, hiểu biết đến đáng gờm. Khó mà tin được, một thiếu nữ trẻ trung và mảnh mai thế kia lại có thể già dặn, trong đầu chứa nhiều hiểu biết đến thế, như thể một quả tạ nặng hàng tấn treo vào đầu sợi dây thừng mỏng manh vậy. Người đàn bà tóc bạc đứng cạnh mẹ tôi trông dịu dàng thế nhưng vẫn có vẻ gì cứng cỏi rất đàn ông, và cứ nhìn ảnh mà đoán tuổi thì bà chắc phải là bà của mẹ tôi. Bà mặc váy liền áo màu xám, cổ áo viền ren trắng, đứng thẳng, dáng nghiêm nghị, gương mặt hiện rõ niềm kiêu hãnh của một người bị hạ nhục và xúc phạm nặng nề. Bức ảnh phải chụp vào khoảng 1938 gì đó, vào lúc những đợt khủng bố theo lệnh Stalin lên đến cao trào, cao trào của nạn đói và nỗi kinh hoàng.

Bức ảnh thứ hai chụp mẹ tôi vào thời điểm mẹ đã nhiều tuổi hơn, có lẽ dạo còn chiến tranh, trước lúc bị bắt lùa sang Đức. Ánh mắt mẹ ở đây lặn hẳn vào trong, hướng đến một nơi sâu thẳm, bí hiểm nào đó, song, chen vào những nét buồn rười rượi, trên gương mặt mẹ vẫn phơn phớt một nụ cười. Một tấm khăn kiểu Ukraine lỏng lẻo ôm lấy khuôn mặt mẹ tôi. Có lẽ mẹ tôi đã chạy vội đến hiệu ảnh, thuê chụp một kiểu cuối cùng trên đất Ukraine, một tấm ảnh làm kỷ niệm.

Ai nhìn hai tấm ảnh đen trắng cũng trầm trồ, người đâu mà đẹp thế. Ngay từ thời thơ ấu của tôi, sắc đẹp mẹ tôi đã là một huyền thoại. Người đâu mà đẹp thế, bao giờ tôi cũng nghe thiên hạ trầm trồ. Và, người đâu mà bất hạnh đến vậy. Sắc đẹp và nỗi bất hạnh dường như gắn liền nhau nơi mẹ tôi, ràng buộc nhau một cách bí hiểm.

[…]

Ngoài hai tấm ảnh này, tôi còn giữ hai tài liệu đã nhắc đến ở trên. Để đọc được tờ chứng nhận hôn thú của bố mẹ tôi, tôi phải để mảnh giấy to cỡ một tấm bưu ảnh ấy ra trước gương. Đây là một bản sao bí hiểm với dòng chữ viết tay màu trắng, in ngược trên nền đen. Đọc qua gương, tôi được biết mẹ tôi, bà Evgeniya Yakovlevna Ivashchenko, kết hôn cùng bố tôi ngày 29 tháng Bảy năm 1943 tại Mariupol. Tờ chứng nhận hôn thú viết bằng chữ Ukraine, con dấu đã mờ, nhưng dòng chữ tiếng Đức „Phòng hộ tịch và cấp giấy giá thú“ vẫn còn rất rõ. Lần nào cũng như lần nào, tôi cứ như bị hẫng bởi cái từ này. Quân Đức làm gì ở cái Phòng hộ tịch và giá thú Mariupol đó mới được chứ? Đây là một chi tiết tách ra từ cuộc sống thường nhật tại vùng bị chiếm, một cuộc sống tôi không hình dung nổi. Có thế nào thì tôi vẫn thấy thật kỳ diệu, rằng tờ giấy chứng nhận bình thường này chẳng những đã sống sót sau cả những năm chiến tranh ác liệt, hết những ngày tháng lưu đày, lại đến trại nhân công lao động cưỡng bức và những chuyến hành trình đầy gian truân tiếp theo sau chiến tranh, lẫn cả những cuộc chuyển nhà diễn ra không phải là hiếm của tôi sau này. Vâng, mảnh giấy cũ kỹ bảy chục năm này, bằng chứng bất đắc dĩ của cuộc hôn nhân khốn khổ, và chẳng bền được bao lâu ấy.

Thẻ lao động do nhà chức trách Đức cấp cho mẹ tôi đã thất lạc tự lúc nào rất lâu, có lẽ bị mục nát rồi mủn thành từng mẩu vụn tự bao giờ không biết trong một xó xỉnh tối tăm ngột ngạt nào đó của bàn giấy hay giá sách của tôi, thế nhưng tôi biết rất rõ, tấm thẻ đó, trừ tên tuổi ra, giống hệt tấm thẻ lao động được cấp ngày 8 tháng Tám năm 1944 tại Leipzig cho bố tôi, tấm thẻ mà tôi còn giữ đến tận giờ. Đó là một mảnh giấy gập đôi, to chỉ cỡ miếng bánh xà phòng giặt, vàng khè, cũ kỹ. Tên họ, ngày sinh, nơi sinh bố tôi, tên bố tôi đúng ra phải là Kamyshin, thế nhưng, trên đường phát từ miệng bố tôi đến tai một viên thư ký người Đức nào đó đã biến thành Chanuchin. Tiếp theo là các dòng như sau:

  • Quốc tịch: không rõ, thợ miền Đông
  • Gốc gác: Miền bị chiếm đóng phía Đông
  • Khu vực: Marienpol
  • Nơi ở: –
  • Nghề nghiệp: thợ phụ cơ khí
  • Nơi làm việc: Công ty Cơ khí ATG
  • Leipzig W32, Schönauer Str. 101
  • Nhập vào Đức từ 14.5.44.

Thẻ mang hai con dấu hình đại bàng Đế chế Đức, một con của Sở Cảnh sát, con kia của Sở Lao động Leipzig, ngoài ra còn tấm ảnh bố tôi có gắn số ở ve áo vét. Mặt sau là dấu vân tay lấy từ hai ngón tay cái, ngón bên trái và ngón bên phải. Phía dưới hai vân tay là dòng chữ: Thẻ lao động này chỉ có giá trị sử dụng lúc làm việc tại nhà máy đã được ấn định trước và sẽ hết giá trị khi rời khỏi nơi làm. Thẻ phải luôn mang theo người như thẻ căn cước. Thẻ có giá trị cho đến khi thu hồi. Thẻ có thể bị thu hồi khi cần thiết.

Như thế, toàn bộ di sản bố mẹ để lại cho tôi chỉ gồm độc hai mảnh giấy cũ kỹ đó – tờ chứng nhận hôn thú và thẻ lao động – cùng hai tấm ảnh đen trắng và một bức tranh thánh cổ xưa. Bức tranh họa bằng tay, nền mạ vàng, vẽ một bầy đoàn các vị thánh quan trọng nhất thuộc đạo Chính thống Nga. Mọi đường nét đều tài tình khéo léo, đến mức có thể nhìn thấy rõ cả móng tay các thánh thế nào.

Những chuyện làm tôi nhớ kỹ nhất là những chuyện mẹ kể về cảnh sống nghèo khó của gia đình dạo ở Ukraine, về cái đói thường xuyên hành hạ. Trong trí nhớ tôi, nỗi sợ Stalin và cảnh nghèo đói là hai thứ chi phối cuộc đời mẹ tôi ở Ukraine. Thế nhưng, làm sao nghèo khó mà lại có được bức tranh thánh quý giá thế này để mang nó theo từ bên ấy sang tận đây? Đã thế, bức tranh còn nguyên vẹn một cách thần kỳ, sau bấy nhiêu gian truân dọc đường bị lùa sang đây, sau bao nhiêu năm tháng sống bầm sống dập trong các trại khổ sai, bức tranh không bị thất lạc, không hư hỏng, không bị ai tước đoạt hay lấy trộm. Đến ở lán lều nào cũng vậy, mẹ tôi đều treo bức tranh vào một góc, nó lặng lẽ, lung linh huyền bí, và tôi thường vẫn gửi gắm cho nó những lời cầu khẩn con trẻ thiết tha nóng bỏng nhất, những lời thỉnh cầu tuyệt vọng xin cho mẹ tôi sống, mỗi lần mẹ vĩnh biệt hai chị em tôi rồi nằm xuống chờ chết. Giờ đây bức tranh ấy treo trên tường trong căn hộ ở Berlin của tôi, phía trên chiếc ghế ngồi nhà thờ đã cổ mà có lần tôi vô tình tìm thấy trên gác xép áp mái. Có lẽ bức tranh này là báu vật quý giá nhất tôi từng có ở đời vậy.

Thêm vào số di vật nghèo nàn ấy, tôi chỉ còn đôi kỷ niệm mờ nhạt, không chắc chắn, những kỷ niệm của một đứa trẻ, những kỷ niệm không ra kỷ niệm mà chỉ như đám bèo bọt rơi rớt lại trong trí nhớ sau nhiều năm tháng ấp ủ.

[…]

Bây giờ đây, giữa mùa hè kỳ diệu bên hồ này, tôi mới mỗi lúc một hốt hoảng hiểu ra tôi đang định bắt tay làm một việc ghê gớm đến thế nào. Cuốn sách đầu tiên tôi cho ra đời khoảng mười năm trước, cũng giống như một thử nghiệm cho một cuốn tự truyện vậy, nhưng dạo ấy tôi hoàn toàn không biết gì về tiểu sử của chính mình, tôi không nắm được các mối liên hệ gắn bó với cuộc đời tôi. Mẹ tôi chỉ là một nhân vật sâu kín của lòng tôi, là một phần của một tiểu sử riêng tư mơ hồ, không chắc chắn, do tôi tự bịa ra, không chút liên hệ nào với bối cảnh chính trị hay lịch sử, trong một xứ sở vô chủ chỉ độc mình tôi là kẻ không quê hương, không xuất xứ. Mãi về sau này tôi mới hiểu bố mẹ tôi là ai và ông bà đã để lại cho tôi những „chất liệu“ gì. Bây giờ tôi như đứng trước nhiệm vụ phải sửa lại các thiếu sót trước đây của tôi, phải viết thêm một cuốn sách, có lẽ là cuốn cuối cùng, để viết nốt những gì lẽ ra tôi đã viết trong cuốn đầu mới phải. Có điều, tôi vẫn hầu như không biết gì về cuộc đời mẹ tôi ở giai đoạn trước khi tôi ra đời, lại càng không biết gì về giai đoạn mẹ tôi sống trong trại nhân công lao động cưỡng bức của Đức quốc xã. Tôi đứng đây với hai bàn tay trắng, với đôi tài liệu lịch sử và trí tưởng tượng của tôi, những thứ chẳng có nghĩa lý gì so với tầm cỡ lớn lao của toàn bộ vấn đề.

Vào những năm 1990, nghĩa là đã rất muộn rồi, lúc những người mà thiên hạ vẫn quen gọi bằng danh hiệu „thợ miền Đông“ theo kiểu từ ngữ Hermann Göring[1] từng đích thân xướng ra hồi nào ấy, bắt đầu đặt các yêu sách đòi bồi thường, thì vấn đề „thợ miền Đông“ mới được lôi ra ánh sáng, hay chí ít cũng ánh sáng mờ mờ, trước mắt công chúng Đức. Gần đây đã xuất hiện sách vở, tài liệu, phim ảnh về vấn đề nhân công lao động cưỡng bức dưới thời Đế chế thứ Ba mà tôi có đọc và tìm hiểu. Thậm chí tôi còn tìm được cả một tác phẩm văn học viết về đề tài này, một cuốn sách mà tôi phải mất công lùng kiếm khá lâu mới thấy, tức là cuốn của Vitaliy Syomin, được dịch sang tiếng Đức và xuất bản vào những năm 70 dưới tựa đề Dấu hiệu để phân biệt. Nhà văn người Nga này kể lại câu chuyện một anh thanh niên bị bắt từ Rostov trên sông Don lôi sang Đức, và anh chỉ có thể sống sót qua thời kỳ bị cưỡng bức lao động tại Đức nhờ một lời thề sắt đá, rằng những gì anh đã nếm trải và chứng kiến không được phép cùng với anh xuống mồ, rằng anh có nghĩa vụ phải sống để làm nhân chứng cho đời sau. Anh kể, bị giam trong trại nhân công lao động cưỡng bức tuy có vẻ đỡ hơn bị giam trong trại tập trung trước khi vào lò thiêu thật, nhưng cũng chỉ đỡ ở chỗ là trong trại lao động cưỡng bức nạn nhân không bị giết ngay, mà dần dần, từng bước, bằng khối lượng công việc nặng nhọc quá sức người, bằng cách bị bỏ đói, bị đánh đập, bị hạ nhục và lúc ốm đau tuyệt nhiên không được thuốc thang chạy chữa.

Tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện ra người dịch cuốn sách này là anh Alexander Kaempfe tôi từng kết bạn kết bè dạo những năm bảy mươi. Anh ấy vẫn thường đọc tôi nghe các bản dịch của anh, thậm chí cả những đoạn trích từ cuốn của Vitaliy Syomin cũng nên, nhưng sở dĩ tôi không nhớ đến vì dạo đó tôi không biết rằng cuốn sách viết chính về những người như bố mẹ tôi, rằng bố mẹ tôi cũng phải gắn lên áo phù hiệu hình tam giác có ghi „miền Đông“, một thứ phù hiệu nhằm phân biệt họ với những ai mang chủng tộc cao cấp hơn, nhưng cũng bị bắt từ các nước phương Tây sang Đức làm nhân công lao động cưỡng bức.

mariupol 3
Ảnh của Hiếu

Tra cứu, truy lùng tài liệu càng lâu, tôi càng va vấp nhiều đến những sự thật kinh khủng, những sự thật mà đến tận giờ có vẻ như vẫn không mấy ai biết đến. Chẳng riêng gì tôi không hay biết nhiều chuyện, mà hóa ra cả bạn bè Đức, những người tôi vẫn tưởng là hiểu rộng biết nhiều, am tường lịch sử, cũng không một ai biết hôm xưa từng có bao nhiêu trại tập trung các loại của bọn quốc xã trên lãnh thổ Đế chế Đức. Một số bảo hai mươi, số khác đoán chừng hai trăm, một số ít nữa ước lượng khoảng hai ngàn. Vậy mà, theo khảo cứu của Viện bảo tàng Holocaust Memorial ở Washington, con số đó lên đến 42.500, chưa kể các trại nhỏ và trại phụ rải rác, và trong tổng số các trại như thế, có 30.000 trại dành cho nhân công cưỡng bức lao động. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Zeit (Thời báo) đăng ngày 4 tháng Ba năm 2013, nhà sử học Geoffrey Megargee – người từng tham gia cuộc khảo cứu nói trên – tuyên bố: Con số lớn kinh hoàng ấy về số các trại tập trung khẳng định một sự thật, rằng gần như toàn thể dân chúng Đức hồi đó đều phải biết đến sự tồn tại của các trại như thế, dù họ có thể không hình dung nổi bộ máy nằm đằng sau con số đó đồ sộ đến cỡ nào, hoặc họ không phải bao giờ cũng nắm được hết tình trạng thật sự của các trại đó ra sao. Thế mà cứ nghe mãi lời thề thốt đã nhàm: Nào có ai hay biết gì. Mặc dù một đất nước với hơn 42.000 trại tập trung trải rộng khắp nơi như thế, phải từng là một trại gulag khổng lồ duy nhất mới phải.

Tôi lạc mỗi lúc một sâu một xa vào khu rừng lịch sử thế giới, lún sâu vào các tai họa khủng khiếp của thế kỷ 20. Các bản tường trình, các báo cáo về vấn đề nhân công lao động cưỡng bách thời Đế chế thứ ba đầy rẫy các lỗ hổng, chứa không biết bao nhiêu điều phi lý và mâu thuẫn. Đề tài tôi muốn chọn đang vuột khỏi tay tôi, đang lớn vọt lên, vượt quá tầm vóc tôi. Và, nói gì thì nói, không phải đã quá muộn rồi ư, tôi tự hỏi, liệu ta còn đủ hơi đủ sức xử lý đống chất liệu khổng lồ này nữa hay không? Và trên đời này, liệu có đủ lời đủ tiếng dành cho tất tật những thứ đó không – những lời dành kể lại cuộc đời mẹ tôi, người mẹ đã mất tung tuyệt tích, đã tan biến nơi nào giữa chốn hư không khuyết danh khuyết tuổi, một người mang thân phận tiêu biểu cho thân phận hàng triệu con người khác ấy?

[1] Một trong những lãnh tụ hàng đầu của nhà nước quốc xã Đức (1933-1945). Tháng 10 năm 1946, y bị Tòa án quân sự quốc tế Nürnberg kết án tử hình vì phạm tội ác chiến tranh nghiêm trọng. (ND)

 

Hoàng Đăng Lãnh trích dịch và giới thiệu

(Bài viết thuộc Zzz Review số 3, 30-10-2018)

____

Originally published under the title “SIE KAM AUS MARIUPOL”
Copyright © 2017 by Rowohlt Verlag GmbH, Reinbek bei Hamburg, Germany.

Liên hệ bản quyền: Ms. Susanne Begemann
Rowohlt Verlag GmbH, Hamburger Str. 17, 21465 Reinbek
Tel. +49 (0) 40 / 72 72 – 223, Fax +49 (0) 40 / 72 72 – 8223
susanne.begemann@rowohlt.de
www.rowohlt.de

Liên hệ dịch giả Hoàng Đăng Lãnh tại hoanglanh48@gmail.com.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s