Kim Thúy, Ru (trích)

Chào đời tại Sài Gòn năm 1968, Kim Thúy rời Việt Nam cùng các thuyền nhân năm lên mười tuổi và đến Québec định cư với gia đình. Tốt nghiệp chuyên ngành dịch thuật và luật, tác giả từng làm việc trong tư cách thợ may, phiên dịch viên, luật sư, chủ nhà hàng và phóng viên mảng ẩm thực cho đài phát thanh và truyền hình. Hiện bà sống ở Montréal và chuyên tâm viết lách.

Cuốn sách đầu tay của bà, Ru, do Libre Expression xuất bản năm 2009, đã thành công vang dội ngay khi vừa ra mắt. Trở thành best-seller tại Québec và Pháp, được dịch ra hơn hai mươi lăm thứ tiếng, Ru cũng giành được nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Thủ hiến Canada danh giá vào năm 2010, giải thưởng lớn RTL-Lire của Hội chợ Sách Paris 2010, giải thưởng của Ý Premio Mondello per la Multiculturalità 2011, Giải thưởng Công chúng tại Hội chợ Sách Montréal 2010 và Giải thưởng Lớn dành cho Văn học Archambault 2011. Ru cũng lọt vào danh sách cuối của Giải thưởng Cộng đồng Pháp ngữ khắp năm châu 2010 và giải thưởng Giller uy tín năm 2012 trao tặng cho cuốn sách Canada xuất sắc nhất. Bản tiếng Anh của tác phẩm đã giành giải trong cuộc chiến giữa các cuốn sách được tổ chức bởi Canada Reads và được vinh danh là “cuốn sách phải đọc” ở Canada năm 2015.

Tác phẩm thứ hai của Kim Thúy, viết chung với Pascal Janovjak, nhan đề À toi (Cho em), xuất bản tháng Chín 2011. Ra đời từ một sự hiệp thông văn chương hiếm gặp, tác phẩm mang tính chiêm nghiệm viết dưới dạng trao đổi thư từ này phác họa hành trình của hai đứa trẻ trong cuộc di cư và sống đời du mục, thông qua các ký ức và chuyện kể. Năm 2013, mãn, tác phẩm thứ ba của Kim Thúy được xuất bản. Lọt vào danh sách cuối Giải thưởng Cộng đồng Pháp ngữ khắp năm châu 2014 và được dịch ra chín thứ tiếng, bản tiếng Anh bỏ túi của tác phẩm đã lại được xếp vào danh sách Discovery Pick của chuỗi cửa hàng sách lớn nhất nước Mỹ Barnes & Noble vào mùa thu năm 2015.

Xuất bản năm 2016, cuốn sách mới đây của Kim Thúy kể lại câu chuyện đời Vi, cô em út có ba người anh trai, “kho báu nhỏ” dẫu không muốn vẫn bị xô ra giữa cuộc đời rộng lớn với biết bao xáo động. Khi rời Sài Gòn đến Montréal, rồi đến thăm Tô Châu và Boston, và lớn lên bên cạnh những người hùng của đời sống thường nhật, cô đã chứng kiến biển khơi mênh mông, những chân trời bao la, những nỗi buồn nơi nào cũng thế, sự xa xỉ của hòa bình, sự phức tạp của tình yêu, sự vô tận của những điều khả dĩ và sự dữ dội của cái đẹp. Như một học sinh ngoan, cô nhìn ngắm, học hỏi, đón nhận. Nhưng liệu có khi nào cô biết cách sống giữa cuộc đời rộng lớn ấy?

Sau hai mươi lăm quốc gia và bảy giải thưởng văn học, Kim Thúy vẫn luôn như vậy, chung thủy yêu thương những con chữ.

Giới thiệu của NXB Libre Expression

 

Trong tiếng Pháp, ru có nghĩa là “con suối nhỏ”, và nghĩa bóng là “sự chảy (chảy nước mắt, chảy máu, chảy tiền)” (theo Từ điển Robert lịch sử). Trong tiếng Việt, ru có nghĩa là “bài hát cho trẻ em đi ngủ”.

 

Cho những người dân của xứ sở.

 

TÔI ĐẾN với thế giới trong lúc đang diễn ra cuộc tiến công dịp Tết, vào những ngày đầu tiên của năm con Khỉ, khi hàng tràng pháo dài treo trước mỗi nhà nổ đì đùng hòa tạp với tiếng súng tiểu liên.

Tôi chào đời tại Sài Gòn, nơi xác pháo nổ tung thành nghìn mảnh nhuộm đỏ mặt đất chẳng khác nào những cánh hoa anh đào, hoặc tựa như máu của hai triệu người lính tản mát, rải rác khắp các thành phố, làng mạc của một nước Việt Nam bị chia đôi.

Tôi sinh ra dưới bóng những bầu trời có pháo hoa làm vật trang trí, có những dây đèn nhấp nhánh để điểm tô, có rốc két và tên lửa băng qua ngang dọc. Sự chào đời của tôi có nhiệm vụ thế chân cho những mảnh đời đã mất. Đời tôi có nghĩa vụ tiếp tục đời mẹ tôi.

 

TÔI TÊN LÀ NGUYỄN AN TỊNH, còn mẹ tôi là Nguyễn An Tĩnh. Tên tôi là một biến thể đơn giản của tên bà, bởi chỉ một dấu chấm dưới chữ i là đủ để khiến tôi khác bà, phân biệt tôi với bà, tách rời tôi khỏi bà. Tôi là sự mở rộng của bà, ngay từ ý nghĩa cái tên. Trong tiếng Việt, tên bà có nghĩa là “không gian yên bình” còn tên tôi là “nội tâm yên bình”. Bằng những cái tên gần hệt như nhau ấy, mẹ tôi khẳng định tôi là sự tiếp nối của bà, tôi sẽ tiếp tục câu chuyện đời bà.

Lịch sử Việt Nam, lịch sử với chữ L viết hoa, đã khiến các kế hoạch của mẹ tôi đổ vỡ. Nó đã quẳng hết dấu má trong tên chúng tôi xuống bể khi đưa chúng tôi vượt biên qua vịnh Thái Lan, cách đây ba mươi năm. Nó cũng tước hết mọi ý nghĩa khỏi mấy cái tên đó, biến chúng thành những âm xa lạ và lạ lùng cả trong tiếng Pháp. Nhất là nó xuất hiện để cắt đứt vai trò của tôi là nối dài một cách tự nhiên đời mẹ tôi khi tôi lên mười tuổi.

 

NHỜ CUỘC LƯU VONG mà các con tôi chưa bao giờ là những phần nối dài của tôi, của đời tôi. Chúng tên là Pascal và Henri và không giống tôi. Tóc chúng sáng màu, da chúng trắng và lông mày chúng rậm. Tôi đã không cảm thấy tình mẫu tử tự nhiên mà tôi vẫn trông đợi khi chúng bám lấy ngực tôi lúc ba giờ sáng, giữa đêm hôm. Rất muộn sau này bản năng làm mẹ mới trỗi dậy trong tôi, qua bao đêm thức trắng, bao lần tã quần lấm bẩn, bao nụ cười vô cớ cùng những niềm vui bất chợt.

Chỉ vào thời khắc ấy tôi mới hiểu được tình yêu của người mẹ ngồi đối diện tôi dưới hầm con tàu chúng tôi đi, ôm trong lòng một đứa bé sơ sinh đầu chi chít vảy kết bốc mùi vì ghẻ. Hình ảnh ấy cứ hiển hiện trước mắt tôi suốt bao ngày mà có lẽ cả bao đêm nữa. Bóng đèn nhỏ treo lơ lửng ở đầu một sợi dây được cố định bằng một cái đinh gỉ tỏa ra thứ ánh sáng leo lắt khắp hầm tàu, và lúc nào cũng là thứ ánh sáng ấy. Dưới đáy con tàu đó, ngày đêm chẳng còn phân biệt. Thứ ánh sáng dai dẳng ấy che chở chúng tôi trước biển cả mênh mông và bầu trời vây bủa. Những người ngồi trên boong tàu thuật lại rằng chẳng có đường phân định đâu là màu xanh của biển, đâu là màu xanh của trời. Vì thế chẳng ai biết mình đang hướng về phía trời hay đang lao đầu xuống làn nước sâu thẳm. Thiên đường và địa ngục quấn chặt lấy nhau giữa lòng con tàu của chúng tôi. Thiên đường hứa hẹn một bước ngoặt trong cuộc đời chúng tôi, một tương lai mới, một lịch sử mới. Địa ngục, về phần mình, phơi bày mọi nỗi sợ trong chúng tôi: sợ cướp biển, sợ chết đói, sợ ngộ độc vì ăn phải bánh bít cốt nhiễm dầu máy, sợ thiếu nước, sợ không thể đứng dậy được nữa, sợ phải đi tiểu trong cái bô đỏ chuyền từ tay người này sang tay người khác, sợ cái đầu ghẻ lở trẻ con kia lây lan, sợ không bao giờ được giẫm chân lên đất liền, sợ không còn được thấy lại gương mặt bố mẹ ngồi đâu đó trong cảnh mờ sáng, giữa hai trăm con người.

 

TRƯỚC KHI TÀU CHÚNG TÔI nhổ neo giữa đêm bên bờ biển Rạch Giá, đa phần các hành khách chỉ có một nỗi sợ, sợ cộng sản, nguyên do khiến họ bỏ trốn. Nhưng ngay khi bao quanh con tàu, bủa vây con tàu chỉ còn độc một chân trời xanh lơ đồng nhất, nỗi sợ bèn biến thành một con quỷ trăm mặt, cưa chân chúng tôi, khiến chúng tôi không cảm nhận được những cơ bắp bất động của mình đang tê cứng. Chúng tôi chết sững trong sợ hãi, vì sợ hãi. Chúng tôi không chợp nổi mắt nữa khi nước tiểu của đứa bé có cái đầu ghẻ lở bắn lên người chúng tôi. Chúng tôi không còn bịt mũi nữa khi nhìn những người xung quanh nôn mửa. Chúng tôi tê cứng, bị kẹt giữa những bờ vai người này, những chân cẳng người kia và nỗi sợ của tất cả. Chúng tôi tê liệt.

Câu chuyện về một cô bé bị biển khơi nuốt chửng khi bước hụt chân lên tàu lan khắp lòng tàu bốc mùi như một thứ khí gây mê, hoặc gây đê mê, thứ khí ấy biến cái bóng đèn duy nhất thành ngôi sao Bắc cực còn những chiếc bánh bít cốt đầy dầu máy thành bánh quy bơ. Cái mùi dầu máy trong họng, trên lưỡi và trong tâm trí đưa chúng tôi thiếp đi theo nhịp bài hát ru của người phụ nữ ngồi bên.

 

BỐ TÔI DỰ TÍNH, nếu gia đình bị cộng sản hay cướp biển bắt, chúng tôi sẽ đi vào giấc ngủ ngàn thu, như Người đẹp ngủ trong rừng, bằng mấy viên xyanua. Suốt một thời gian dài, tôi những muốn hỏi ông tại sao ông không nghĩ đến việc để chúng tôi lựa chọn, tại sao ông lại định tước bỏ khả năng sống sót của chúng tôi.

Tôi thôi tự vấn chuyện này khi tôi trở thành mẹ, khi ông Vịnh, bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng đất Sài Gòn, kể tôi nghe ông đã để năm đứa con lên tàu, từng đứa một, từ cậu con trai mười hai tuổi đến cô con gái nhỏ năm tuổi, mỗi đứa một tàu khác nhau, vào từng thời điểm khác nhau, hòng đưa chúng ra khơi, tránh xa những cáo buộc chính quyền cộng sản gán cho ông. Ông tin chắc mình sẽ chết trong tù bởi người ta tố ông tội giết các đồng chí cộng sản khi phẫu thuật cho họ, dẫu họ chưa bao giờ đặt chân vào bệnh viện của ông. Ông hy vọng cứu được một, hoặc có lẽ hai trong số các con mình bằng cách ném chúng ra biển. Tôi đã gặp ông Vịnh trên thềm một nhà thờ, khi thì quét tuyết mùa đông, lúc lại quét tước mùa hè để cảm ơn vị linh mục đã thay ông ở bên con cái ông, nuôi nấng cả năm đứa, cho tới ngày chúng trưởng thành, đến tận khi ông ra tù.

 

TÔI KHÔNG KÊU GÀO CŨNG CHẲNG KHÓC LÓC khi người ta báo tin Henri con trai tôi đã mắc kẹt lại trong thế giới của nó, khi người ta khẳng định nó thuộc số những đứa trẻ không nghe thấy gì, không nói được gì, dẫu chúng chẳng câm chẳng điếc. Nó cũng thuộc số những đứa trẻ mà ta cần yêu thương từ xa, không chạm vào chúng, không ôm hôn chúng, không mỉm cười với chúng bởi các giác quan chúng sẽ lần lượt bị xâm hại vì mùi da chúng ta, cường độ giọng nói chúng ta, kết cấu tóc chúng ta, tiếng đập con tim chúng ta. Chắc hẳn nó sẽ chẳng bao giờ gọi tôi là “mẹ” một cách trìu mến, dẫu nó có thể phát âm từ “quả lê” một cách tròn trịa và ngon lành. Nó sẽ không bao giờ hiểu được tại sao tôi lại khóc khi nó cười với tôi lần đầu. Nó sẽ không biết rằng, nhờ có nó mà mỗi niềm vui le lói lại trở thành một lời ban phước và rằng, tôi sẽ mãi chiến đấu chống lại chứng tự kỷ, dẫu tôi biết trước đó là căn bệnh bất khả chiến bại.

Dẫu tôi đã thất bại, đã trơ trọi, đã hư ảo từ trước.

ru 1
Ảnh của Hiếu

 

KHI THẤY NHỮNG LỚP TUYẾT ĐẦU TIÊN qua cửa máy bay ở sân bay Mirabel, tôi đã cảm thấy mình thật trơ trọi, nếu không muốn nói là trần trụi. Bất chấp chiếc áo len chui đầu màu cam tay ngắn mua ở trại tỵ nạn tại Malaysia trước khi khởi hành đi Canada, bất chấp cái áo săng đai len màu nâu đan sợi to của những người phụ nữ Việt Nam làm ra, tôi vẫn trần trụi. Trên máy bay, rất đông người trong số chúng tôi đổ xô về phía cửa sổ, miệng há ra cùng vẻ mặt sửng sốt. Sau những ngày dài sống trong những nơi không ánh sáng, một quang cảnh trắng đến vậy, tinh khôi đến vậy chỉ có thể khiến chúng tôi chói mắt, lóa mắt và ngất ngây.

Tôi ngây ra trước tất cả những âm thanh xa lạ đang chào đón chúng tôi kia, không kém gì trước kích thước của bức tượng băng đang nhìn xuống một cái bàn đầy ụ bánh mì canapé, khai vị, bánh kẹo, màu sắc sặc sỡ. Tôi không nhận ra bất cứ món nào trong số đó, nhưng tôi biết đây là nơi chốn của mỹ vị, xứ sở của ước mơ. Tôi cũng như Henri con trai tôi: tôi không thể nói hay nghe, dẫu tôi chẳng câm chẳng điếc. Tôi chẳng còn điểm mốc nào, chẳng còn công cụ nào để có thể mơ ước, để có thể hướng đến tương lai, để có thể sống qua hiện tại, sống trong hiện tại.

 

CÔ GIÁO ĐẦU TIÊN CỦA TÔI ở Canada đã đi cùng chúng tôi, bảy đứa trẻ Việt Nam nhỏ nhất trong nhóm, băng qua cây cầu dẫn chúng tôi đến hiện tại của mình. Cô chăm chút cho cuộc di thực của chúng tôi với sự tế nhị của một người mẹ dành cho đứa con sinh non. Chúng tôi như bị thôi miên trước nhịp đu đưa chậm rãi, trấn an của bờ hông cô tròn trịa và cặp mông cô cong lên, đầy đặn. Như bà mẹ vịt, cô bước đi trước chúng tôi, giục chúng tôi đi theo cô đến cái chỗ ẩn náu nơi chúng tôi lại được trở về làm những đứa trẻ, những đứa trẻ đơn thuần, bao quanh là sắc màu, tranh vẽ và những thứ phù phiếm. Tôi sẽ luôn biết ơn cô đã mang lại cho tôi khát vọng đầu tiên của một con bé di cư, khát vọng có thể đánh cho mỡ mông lúc lắc, như cô. Chẳng người Việt Nam nào trong nhóm chúng tôi có được sự nở nang, sự phóng khoáng, sự trễ nải trong những đường cong của cô. Tất cả chúng tôi đều góc cạnh, xương xẩu, khô đét. Thế nên, khi cô cúi xuống tôi, đặt tay lên tay tôi và nói: “Tôi tên là Marie-France, còn em?”, tôi đã nhắc lại từng âm tiết mà không hề chớp mắt, không cảm thấy nhu cầu phải hiểu, bởi lúc ấy tôi như được ru giữa một đám mây tươi tắn, nhẹ nhàng, thoang thoảng mùi nước hoa. Tôi chẳng hiểu mấy từ đó có nghĩa là gì, ngoài giai điệu giọng nói của cô, nhưng vậy là đủ. Là đầy đặn.

 

KHI VỀ ĐẾN NHÀ, tôi nhắc lại đúng chuỗi từ ấy với ba mẹ tôi: “Tôi tên là Marie-France, còn em?” Tức thì họ hỏi có phải tôi đã đổi tên không. Chính lúc ấy, tôi mới sực quay về hiện thực, ở đó, chứng câm điếc do hoàn cảnh đã xóa nhòa mọi ước mơ, kéo theo đó là khả năng nhìn xa, thật xa trước mắt.

Ba mẹ tôi, dẫu đã biết nói tiếng Pháp, lại càng không thể nhìn xa trước đời họ, bởi họ bị trục xuất khỏi lớp học nhập môn tiếng Pháp, nghĩa là trục xuất khỏi danh sách những người được nhận khoản lương bốn mươi đô la mỗi tuần. Trình độ của họ vượt quá yêu cầu của những lớp học đó, nhưng lại chẳng đủ yêu cầu của mọi thứ còn lại. Vì không thể nhìn xa trước đời họ, họ bèn nhìn xa trước đời chúng tôi, vì chúng tôi, các con họ.

 

VÌ CHÚNG TÔI, họ như không nhìn thấy những tấm bảng đen họ lau, những nhà vệ sinh họ cọ rửa, những chiếc nem họ giao. Họ chỉ nhìn thấy tương lai của chúng tôi. Nhờ vậy, các anh em trai tôi và tôi, chúng tôi bước đi theo dấu ánh nhìn của họ để tiến lên. Tôi từng gặp những bậc phụ huynh với ánh mắt đã tắt lịm, người thì dưới trọng lượng cơ thể của một tên cướp biển, kẻ thì vì những năm tháng đằng đẵng chịu sự cải tạo của chính quyền cộng sản trong các trại, không phải trại chiến thời kỳ chiến tranh, mà là trại hòa bình, sau chiến tranh.

 

HỒI CÒN NHỎ, TÔI CỨ NGHĨ chiến tranh và hòa bình là hai từ trái nghĩa. Thế nhưng lúc Việt Nam còn khói lửa, tôi đã sống trong hòa bình, và tôi chỉ biết về chiến tranh sau khi Việt Nam xếp dọn vũ khí. Tôi nghĩ chiến tranh và hòa bình, trên thực tế, là bạn hữu và chúng cười nhạo chúng ta. Chúng đối xử với chúng ta như kẻ thù khi nào chúng thích, khi nào thấy tiện, mà chẳng thèm bận tâm đến định nghĩa hay vai trò mà chúng ta gán cho chúng. Vì thế, có lẽ không nên tin vào vẻ bề ngoài của chiến tranh hay hòa bình để chọn hướng nhìn. Tôi thật may vì ba mẹ tôi đã có thể giữ được điểm nhìn của họ bất kể cái màu của thời đại hay khoảnh khắc ấy có ra sao. Mẹ tôi thường đọc tôi nghe câu thành ngữ được viết trên bảng đen cái hồi bà lớp tám, ở Sài Gòn: Đời là chiến trận, nếu buồn là thua.

 

PHẢI RẤT LÂU SAU ĐÓ, MẸ TÔI MỚI LAO VÀO những trận chiến đầu tiên của đời mình, không biết đến buồn. Bà làm việc lần đầu tiên trong đời ở tuổi ba mươi tư, thoạt tiên làm người lau dọn, tiếp đó là công nhân trong các nhà máy, phân xưởng, nhà hàng. Trước đây, trong cuộc đời mà bà đã đánh mất, bà là con gái cả của ông bố tỉnh trưởng. Việc duy nhất bà làm là trọng tài phân xử những cuộc tranh cãi giữa bếp trưởng phụ trách món Pháp và bếp trưởng phụ trách món Việt trong sân gia đình. Hoặc nữa là đánh giá những mối tình vụng trộm giữa các chị người ở và các anh người hầu. Ngoài ra, cứ chiều chiều bà lại ngồi chải tóc, trang điểm, mặc đẹp để cùng ba tôi đến dự các buổi dạ hội thượng lưu. Nhờ có cuộc sống thừa thãi ấy mà mọi ước mơ của bà đều có thể, nhất là những ước mơ dành cho chúng tôi. Bà chuẩn bị cho chúng tôi, các anh em trai tôi và tôi, cùng một lúc trở thành cả nhạc sĩ, nhà khoa học, chính trị gia, vận động viên, họa sĩ và những người đa ngôn ngữ.

Ấy thế nhưng, bởi máu vẫn tiếp tục đổ và bom vẫn tiếp tục rơi ở nơi xa kia, nên bà bèn dạy chúng tôi khom lưng quỳ gối như những gia nhân. Ngày nào cũng vậy, bà bắt tôi phải lau bốn ô gạch trên sàn và làm sạch hai mươi cọng giá bằng cách lần lượt ngắt rễ từng cọng một. Bà chuẩn bị cho chúng tôi đối diện với sự sa sút. Bà có lý lắm chứ, bởi lẽ, chẳng mấy nữa, đến sàn nhà để giẫm chân lên chúng tôi cũng chẳng còn.

 

SUỐT NHỮNG ĐÊM ĐẦU tỵ nạn ở Malaysia, chúng tôi ngủ luôn trên nền đất đỏ, không có sàn. Hội Chữ Thập Đỏ đã xây các trại tỵ nạn tại các nước lân cận Việt Nam để tiếp đón boat people, những người sống sót sau hành trình trên biển. Những người khác, những người đã chết đuối trong lúc vượt biển, thường không có tên. Họ chết trong tình trạng vô danh. Chúng tôi thuộc số những người may mắn được bỏ lại đất liền. Thế nên, chúng tôi cảm giác mình được ban phép lành vì nằm trong số hai nghìn người tỵ nạn của cái trại lẽ ra chỉ phục vụ được hai trăm người này.

 

CHÚNG TÔI ĐÃ DÙNG CỌC dựng một cái lều ở một góc khuất trong trại, trên sườn đồi. Suốt nhiều tuần lễ, hai mươi lăm người thuộc năm gia đình chúng tôi cùng nhau lén lút chặt cây trong khu rừng bên cạnh, đóng xuống nền đất sét mềm, gắn sáu tấm pa nô gỗ dán vào tạo thành một cái sàn rộng và phủ lên khung đó một tấm bạt xanh lơ điện, xanh lơ nhựa, xanh lơ đồ chơi. Chúng tôi gặp may vì tìm được khá nhiều bao gạo bằng vải đay và ni lông để bọc bốn mặt lều, cộng thêm ba mặt của phòng tắm chung. Hai công trình này đứng cạnh nhau trông giống tác phẩm sắp đặt của một nghệ sĩ đương đại trong bảo tàng. Ban đêm, chúng tôi ngủ sát nhau tới nỗi chẳng bao giờ thấy lạnh, dẫu không đắp chăn. Ban ngày, tấm bạt xanh lơ hấp thụ nhiệt khiến không khí trong lều trở nên ngột ngạt. Những ngày mưa gió, tấm bạt bị lá, cành và thân cây mà chúng tôi phủ thêm cho mát chọc thủng, khiến nước chảy qua các lỗ nhỏ.

Nếu một biên đạo múa xuất hiện dưới tấm bạt này vào một ngày hay một đêm mưa gió, chắc hẳn anh ta sẽ muốn dựng lại cảnh này: hai mươi lăm người cả lớn lẫn nhỏ, ở tư thế đứng, mỗi người cầm trong tay một cái lon thiếc để hứng nước chảy từ tấm vải bạt, khi thì chảy ồ ạt, lúc lại chảy nhỏ giọt. Nếu một nhạc sĩ có mặt tại đó, hẳn anh ta sẽ nghe ra bản phối âm từ tiếng nước đập vào thành lon thiếc. Nếu một đạo diễn điện ảnh hiện diện, hẳn anh ta sẽ bắt được vẻ đẹp toát lên từ sự đồng thuận im lặng và tự phát giữa những con người khốn khổ. Nhưng chỉ có chúng tôi với nhau, đứng trên mặt sàn đang lún dần vào đất sét. Sau ba tháng, mặt sàn nghiêng sang một bên tới nỗi chúng tôi buộc phải sắp xếp lại vị trí của từng người để trẻ em và phụ nữ, trong lúc ngủ, không bị trượt vào cái bụng núng nính của người nằm cạnh.

 

BẤT CHẤP NHỮNG ĐÊM ẤY, những đêm mà giấc mơ của chúng tôi trượt dài theo mặt sàn dốc, mẹ tôi vẫn tiếp tục nuôi tham vọng cho tương lai của chúng tôi. Bà tìm được một người đồng lõa. Anh ta còn trẻ và có phần ngây thơ bởi dám tỏ ra vui vẻ và phóng khoáng giữa cuộc sống thường nhật trống rỗng đến đơn điệu. Mẹ tôi và anh ta cùng nhau mở một lớp tiếng Anh. Có những buổi sáng, cùng anh ta, chúng tôi nhắc đi nhắc lại các từ mà chẳng hiểu gì hết. Nhưng tất cả chúng tôi vẫn đến đúng hẹn, bởi anh ta đã vén được bức màn bầu trời, cho chúng tôi thoáng thấy một chân trời mới, cách xa những cái hố toang hoác chứa đầy phân tích lại nhờ hai nghìn con người trong trại. Không có khuôn mặt anh ta, hẳn chúng tôi đã không thể hình dung được một chân trời không mùi lộn mửa, một chân trời không ruồi nhặng và sâu bọ. Không có khuôn mặt anh ta, hẳn chúng tôi đã không thể hình dung được rằng một ngày nào đó chúng tôi sẽ không phải ăn cá ôi, thứ cá bị vứt xuống đất vào cuối mỗi chiều khi tới giờ phát khẩu phần. Không có khuôn mặt anh ta, chắc chắn chúng tôi đã đánh mất khao khát vươn tay ra níu giữ những giấc mơ của mình.

 

Phùng Hồng Minh dịch

(Bài viết thuộc Zzz Review số 3, 30-10-2018)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s